Các nhà đàm phán của chính phủ đã làm việc chủ yếu là với ba nhóm chủ nợ trong một nỗ lực của họ giảm bớt gánh nặng nợ nần. Đầu tiên, và trong một số phương diện quan trọng nhất, là chủ nợ IMF, bởi sự đồng ý của họ được coi là cần thiết để dàn xếp thỏa thuận với các chủ nợ khác. Thứ hai là Câu lạc bộ Paris, một tổ chức không chính thức của các chủ nợ chính thức. Nhóm thứ ba là các chủ nợ ngân hàng thương mại, đứng thứ 330 vào năm 1990. Cuộc đàm phán với các ngân hàng nói chung là diễn ra với ban cố vấn gồm 12 thành viên, dưới sự chủ trì của nhà sản xuất Hanover Trust.
Có một thỏa thuận dự phòng trước đó mà chính phủ Aquino thể dựa vào là chính phủ cũ Marcos đã thương lượng với IMF vào năm 1985 nhưng đã bị ngừng trệ một thời gian ngắn sau khi Aquino nhậm chức. Thỏa thuận liên quan đến chi tiêu chính phủ và tăng cung tiền với đã trở thành vô độ khi Marcos nhúng tay vào kho bạc chính phủ trong một nỗ lực tuyệt vọng để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1986. Ngoài ra, chính phủ muốn đàm phán một thỏa thuận có định hướng phát triển nhiều hơn. Một thỏa thuận về thời hạn chi trả khoản vay của Mỹ 506 triệu USD đã được ký kết 8 tháng sau đó vào tháng 10 năm 1986. Tháng 1 năm 1987, thỏa thuận với Câu lạc bộ Paris đã đạt được kéo dài thời hạn chi trả ra hơn mười năm, với thời gian ân hạn 5 năm, 870 triệu USD Mỹ của các khoản vay đã được trả trong năm 1987 và nửa đầu năm 1988.
Sự nhất trí với IMF cũng mở đường cho việc phát hành 350 triệu USD cho các khoản vay mới của các chủ nợ ngân hàng thương mại, khoản này đã bị giữ lại khi thỏa thuận với IMF bị phá vỡ vào đầu năm 1986. Vào tháng 3 năm 1987, Philippine và ban cố vấn 12 ngân hàng đạt được các điều khoản về gia hạn công nợ 13,2 triệu USD đối với các ngân hàng tư nhân và giảm lãi suất. Việc ký kết thỏa thuận này đã bị trì hoãn, bởi một nhóm các ngân hàng chủ nợ đứng đầu là Barclays Bank của Anh, họ yêu cầu chính phủ Philippine bảo lãnh khoản nợ 57 triệu USD của một công ty phân bón tư nhân, Planters Products, Inc Giàn xếp đã không đạt được cho đến tháng 12 năm 1987.
Vòng đàm phán thứ hai bắt đầu vào năm 1989. Câu lạc bộ Paris tái cấu trúc 2,2 triệu USD các khoản nợ đến hạn từ tháng 9-1988 và tháng 6-1990. Các thỏa thuận với IMF và ngân hàng thương mại cho phép Philippine vào đầu năm 1990, lo liệu chương trình ba mũi nhọn theo chỉ dẫn Brady Plan. Đầu tiên, chính phủ sử dụng nguồn vốn từ World Bank, IMF, và các nguồn khác để mua lại 1,31 tỷ USD nợ chính phủ từ ngân hàng tư nhân giảm giá 50% mà họ đã bán trên thị trường thứ cấp, hành động này làm giảm công nợ của đất nước đến 650 ngàn USD, và, trong theo đó, số lượng các ngân hàng chủ nợ giảm từ 483 xuống 330. Thứ hai, nợ đến hạn từ 1990 đến 1994 được cơ cấu lại. Cuối cùng, một số trong số 80 ngân hàng đã đóng góp 700 triệu USD cho các khoản vay mới.
Đến tháng 7 năm 1990, IMF đã có nhận xét tình hình kinh tế kinh tế Philippine và thấy nó là "có triển vọng" so với thời kỳ giữa tháng 10-1989 và khi đạt được thỏa thuận vay, vào tháng 3-1990. Vào tháng 9-1990, IMF bắt đầu giở trò và tình hình đã bị đảo ngược. Họ nói các mục tiêu thỏa thuận đã không được đáp ứng bởi qui mô thâm hụt ngân sách ngân sách, cán cân thương mại, hoặc dự trữ ngoại tệ. Kết quả là, IMF đã từ chối đợt phát hành vào tháng 9 (góp vốn) cho Philippine. Đến lượt mình, Manila đã hủy bỏ thỏa thuận dự phòng năm 1989 và mở lại các cuộc đàm phán với IMF. Một thỏa thuận mới đã được công bố vào đầu năm 1991, liên quan đến một gói tín dụng ba năm, với tổng giá trị 375 triệu USD, chỉ bằng 1/3 của các gói cho vay 1,17 tỷ USD bị đình chỉ vào tháng 9 năm trước. Trong số những thứ khác, thỏa thuận yêu cầu Philippine thực hiện các biện pháp tăng doanh thu mới vào cuối tháng 8 năm 1991.
Như một hệ quả của sự thất bại đáp ứng các mục tiêu thỏa thuận dự phòng tháng 9, các ngân hàng thương mại tháng 2 năm 1991 từ chối giải ngân đợt cuối 115 triệu USD của gói tín dụng 706 triệu USD đã đồng ý vào đầu năm 1990. Tại một cuộc họp với các quan chức Philippine, ủy ban cố vấn ngân hàng cũng từ chối thảo luận về việc cung cấp số vốn 500 triệu USD trong các quỹ mới. Vào tháng 2 năm 1991, chính phủ Philippine cho biết sẽ đề nghị Câu lạc bộ Paris cho trì hoãn thanh toán trên 1 tỷ USD trong các khoản nợ đến hạn trong giai đoạn 30-6-1991 đến 31-7-1992. Trong một biện pháp giảm thiểu rủi ro cho vay đối với chính phủ của các ngân hàng thương mại, tháng 2 năm 1991 Philippine tỏ dấu hiệu sẽ tiếp cận các tổ chức tài chính đa phương như World Bank và ADB để đồng tài trợ, đổi lại họ sẽ từ bỏ khả năng gia hạn.
Những nỗ lực để giảm nợ nước ngoài bao gồm khuyến khích đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế. Tháng 8 năm 1986, Philippine khởi xướng chương trình chuyển đổi nợ vốn chủ sở hữu, trong đó cho phép các nhà đầu tư tiềm năng tiếp cận công cụ nợ Philippine để chuyển đổi chúng thành đồng peso với mục đích đầu tư vào nền kinh tế Philippine. Bởi giá trị của các khoản nợ trong thị trường thứ cấp là ít hơn nhiều so với mệnh giá (khoảng một nửa, vào thời điểm đó), các biên độ hoán đổi cho phép các nhà đầu tư có được đồng peso ở một tỷ lệ chiết khấu.
Hầu hết các đảo nợ được tổ chức bởi NHTW, để có thể cung cấp đồng peso cắt nợ qua phát hành tiền mới, với những hậu quả lạm phát rõ ràng. Vì lý do này, chương trình đã bị đình chỉ vào tháng 4 năm 1988. Tại thời điểm đó, đã giảm được khoảng 917 triệu USD tiền nợ. Các vấn đề khác đã nảy sinh, cả những lợi ích cho Philippine và sự công bằng của chương trình chuyển đổi. Giao dịch hoán đổi nợ vốn chủ sở hữu, như đã lập luận, nghĩa là để có lợi cho các nhà đầu tư, chi phí bằng đô la ít hơn nhiều so với đồng peso. Nếu đầu tư thực hiện không qua trao đổi, thì không được tham gia vào các khoản trợ cấp lớn.
Vào tháng 3 năm 1991, các quan chức Philippine nêu lên vấn đề "bỏ qua", hay xóa nợ, nợ của Philippine với Mỹ, đề nghị rằng Mỹ chấp thuận cho Philippine tương tự như đã đối xử với Ai Cập và Ba Lan. Mỹ thoái thác lời cầu khẩn, chỉ ra rằng 33/48 tỷ USD nợ của Ba Lan là chính thức, nhưng 20% các khoản nợ Philippine là nợ của các ngân hàng thương mại.
Chính quyền Aquino đã bỏ ra nhiều thời gian và nỗ lực đàm phán với các nhóm nợ khác nhau để giảm lãi suất, gia hạn nợ, và giảm kích thước các khoản nợ. Một số đề án đổi mới được thực hiện. Đó là cả một quá trình, tuy nhiên, về cơ bản có nghĩa là chạy nhanh để ở lại tại chỗ, mọi cố gắng cũng chỉ là để khoanh nợ, không làm nó phình to. Qui mô nợ nước ngoài của nước này tháng 6 năm 1990 là 26,97 tỷ USD, cùng cỡ như năm 1985 là 26, 92 tỷ USD, ngay trước khi Aquino lên nắm quyền. Thanh toán nợ cũng thay đổi rất ít: Mỹ 2,57 tỷ USD năm 1985 so với 2,35 tỷ USD năm 1990. Cán cân thanh toán vẫn phải chịu áp lực. Sự phát triển của nền kinh tế Philippine, do tỷ lệ nợ của nước này GNP giảm từ 83,5 năm 1985 xuống 65,2 năm 1989, trong khi đó nợ xuất khẩu giảm 32,0 xuống 26,3 so với cùng kỳ. Dư nợ dự kiến trong tháng 9 năm 1990 cho thập kỷ 1990 cho thấy có sự gia tăng từ 2,35 tỷ USD trong 1990 đến 3,25 tỷ USD vào năm 1995, tụt xuống còn 2,08 tỷ USD vào năm 1999.
Cho đến ngày nay, nợ nước ngoài Philippine vẫn duy trì ở cỡ 60 tỷ USD, cỡ 30-35% GDP. Mọi nỗ lực từ thời Aquino là giải quyết xong khủng hoảng nợ để lại từ thời Marcos và cũng là chỉ không làm nợ tăng quá cao. Áp dụng cải cách IMF dù với các điều kiện đàm phán mặc cả, gây nhiều bất ổn kinh tế xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng mạnh. Người ta không nói “bẫy thu nhập trung bình” mà là “bẫy nợ”,
Caught In the Debt Trap;