Vai trò chính của Kudrin là quản lý số tiền “dôi dư” này, đặt nó vào các khoản đầu tư có lãi và chi tiêu dè sẻn thận trọng. Nhưng các khoản đầu tư sẽ không sử dụng được để chống lại mối đe dọa lạm phát bởi nó gửi ở các quỹ nước ngoài. Nhìn chung, lạm phát là nỗi sợ to lớn, bênh cạnh tham nhũng. Người ta cũng “im lặng” trước một công trạng khác của Kudrin, đó là duy trì chế độ “Hội đồng tiền tệ” ở Nga.
Thực sự, đó là hệ thống thuộc địa mà cốt lõi là đem tiền quốc gia đưa đi thành dự trữ khác – đồng tiền của quốc gia nô dịch. Một tích lũy và trói buộc bằng dự trữ ngoại tệ. Đó là phát minh của tư bản Anh đối với thuộc địa giữa thế kỷ XIX. Nhìn vào chi tiết của chính sách tiền tệ Kudrin sẽ thấy điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế. Chính khủng hoảng Nga 2008-2009 nặng nề như thế là do chính sách này. Rất nhiều kẻ không hiểu, hay cố tình lờ đi điều đó.
Cốt lõi của hệ thống như thế được nhà kinh tế liberal có tiếng
Boris Lvin mô tả:
"Bản chất của hệ thống này là ở chỗ tất cả giao ước của ngân hàng TW (cơ sở của tiền tệ) bao trùm toàn bộ bởi dự trữ bằng đồng tiền ngoại tệ - thường là đô la. Trên thực tế ngân hàng TW bác bỏ cái gọi là quyền tự do định đoạt, đó là quyền về điều hòa lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Chính sách tiền tệ của nó trở thành hoàn toàn tiêu cực.Nó chấm dứt chính sách mang ý nghĩa nguyên bản. Ngân hàng TW đơn giản là đổi tiền tệ quốc gia sang ngoại tệ - là “cái neo giữ” và ngược lại.”
Nhưng chính Lvin lại không phải là kẻ phản đối nó, trái lại. Ông ta cho rằng hệ thống như thế là tốt từ quan điểm đạo đức – “ít quyền tự quyết ở quốc gia hơn, thì nhiều quyền tự do ở công dân của nó hơn”. Quên làm sáng tỏ sự thật, phát sinh ra thêm quyền ở chính những công dân như thế, tất cả những gì còn lại, ông ta viết chính xác. Vì thế là các nguồn liberals khác ít thích trích dẫn ông ta.
Wikipedia thường xuyên ngụy tạo cái bản chất này, đưa ra một số hệ quả đặc biệt của chính sách như thế:
"Hội đồng tiền tệ (Hội đồng tiền tệ Anh quốc), Ban điều hành tiền tệ - một thể chế chính sách tiền tệ mà ở đó các quyền lực tiền tệ buộc phải hỗ trợ một tỷ giá hối đoái mềm dẻo giữa nội tệ và ngoại tệ.”
Do đó đặc điểm của hệ thống này được xác định:
"Dự trữ tiền tệ của quốc gia phải bao trùm toàn bộ khối lượng đồng tiền quốc gia trong lưu thông (thông thường chúng chiếm 110-115% cơ sở tiền tệ M0)”.