KHÁI QUÁT NHỮNG GÌ KHOA HỌC NGÀY NAY ĐÃ CÓ
Dịch chuyển đỏ thực sự tồn tại. Nó được giải thích bằng hiệu ứng Doppler (bước sóng ánh sáng phát ra từ các đối tượng tiến xa khỏi người quan sát tăng), Hubble đã có kết luận hoàn toàn logic rằng các thiên hà đang phân tán ra xa khỏi nhau. Nhưng có vẻ như thế không phải là tất cả. Một số bị co cụm hấp dẫn lẫn nhau thậm chí va chạm nhau. Và điều quan trọng nhất là hằng số Hubble không giảm, như ông đã chỉ ra, mà lại tăng, điều đó cũng được khẳng định bằng những đo đạc gần đây nhất.
Người ta cũng phát hiện thấy nghịch lý rõ ràng khác trong vũ trụ. Một mặt, quan sát động lực học các ngôi sao trong các thiên hà các nhóm thiên hà cho thấy tự chúng, bằng các tính toán hấp dẫn, không có đủ khối lượng để duy trì trạng thái ổn định mà không cần giả định có bổ xung thêm vật chất (gọi là vật chất tối) tham dự vào tác động hấp dẫn. Mặt khác, những nghiên cứu sâu hơn về sự dịch chuyển đỏ trong phạm vi lân cận 105-107 năm ánh sáng và quan sát ánh chớp các vụ nổ sao siêu mới ở xa cho thấy, tốc độ dãn nở vũ trụ đang trong quá trình gia tăng. Trường hợp này đòi hỏi phải đưa vào thêm yếu tố mới, đó là năng lượng tối thực sự gây ra đặc tính phản hấp dẫn và làm cho vũ trụ ngày càng dãn nở.
Vậy ở đây lại có nghịch lý logic: nếu vũ trụ là vô hạn, thì tại sao nó lại không ngừng giãn nở? Tuy nhiên, người ta cho rằng nghịch lý dạng này không được áp dụng trong vật lý, mà là phạm trù nguỵ biện triết học, bởi vậy nó tiếp tục dãn nở.
Bức xạ tàn dư là chứng cứ mạnh mẽ và là kẻ hậu thuẫn của thuyết vụ nổ lớn. Mọi đối tượng trong vũ trụ đều là nguồn bức xạ. Các nhà vật lý đã có đủ bài học xác đáng để vạch rõ các đặc điểm tính chất các đối tượng trong thế giới tự nhiên. Ví dụ, qua bức xạ vô tuyến từ đất đá mặt trăng và sao Hoả, so sánh với các đặc điểm bức xạ nền tương ứng hé lộ một số đặc điểm. Trong quá trình nghiên cứu như thế, các nhà khoa học đã phát hiện ra một số thành phần cố định của phổ bức xạ không gian mà không có liên quan theo bất cứ cách nào đến các đối tượng nghiên cứu. Do đó, bức xạ tàn dư của vụ nổ lớn sẽ phải mang thông tin về điều kiện vũ trụ tại thời khai sinh của nó. Và do vậy ở đây có những điều hết sức kỳ dị: bức xạ tàn dư đó tương ứng với điều kiện vật chất tại nhiệt độ 2,7 độ K và không phải là “vũ trụ nóng”. Vậy cái gì là “cách hành xử” của vũ trụ ở dải nhiệt độ từ 0 đến 2,7 độ K. Hiện tại không có câu trả lời cho câu hỏi này. Nhưng khi chứng cứ ấy tạo ra một thực tế dù chưa thể có kết luận cuối cùng, thì lập luận như vậy là đủ để xác nhận rằng: Vậy chính xác nhiệt độ của vũ trụ 14 tỉ năm về trước là bao nhiêu? Không phải là 3000 độ C mà là 2,7 độ K.
Và khi đó bức tranh thế giới nhìn sẽ vô cùng khác biệt.
Điểm kỳ dị, không phải là quả trứng vũ trụ ở ngưỡng của vụ nổ lớn, không giống như thuyết Fridman trong chu trình hiện tại, mà là vũ trụ lạnh và đồng nhất vật chất. Tại thời điểm nào đó trong quá khứ đã bắt đầu bị nóng lên (tại sao và như thế nào sẽ có giải thích ở bên dưới), hình thành các thiên hà, các ngôi sao và các hành tinh. Khi đạt đến cực điểm tiến trình nóng lên bị thay thể bởi tiến trình nguội đi mà trong đó kết thúc bằng “cái chết” vũ trụ, và một chu trình mới… lại bắt đầu.
ELECTRON THU KHỐI LƯỢNG
Bất cứ môi trường nào mà nhiệt độ của nó ở trên độ không tuyệt đối, đều có tính hỗn tạp, có khả năng bị kích động để bắt đầu các thay đổi tự phát trong trạng thái môi trường của nó-đó là dao động. Nhiệt độ 2,7 độ K dĩ nhiên không phải là bãi biển nắng ấm Địa Trung Hải, tuy vậy điều kiện ấy hoàn toàn thoả mãn. Khi mà không thể chứng kiến điều kiện ban đầu của vũ trụ, chúng ta chỉ có khả năng kiểm chứng các giả định của chúng ta bằng cách xây dựng một mô hình toán học của nó. Mô hình như thế là mô hình chân không vật lý do nhà vật lý Nga Evgenie Chensky thiết lập. Nó đồng hoá vũ trụ vô hạn với mạng lưới các đối tượng tinh thể trong giới hạn cấu trúc nội 10*E-33 cm.
Tại sao lại có mô tả như vậy?
Cấu trúc nội của mọi vật thể tinh thể trong mạng lưới mà trong đó tại các nút là các nguyên tử. Chúng sắp xếp một cách chính xác ở khoảng cách với nhau, và duy trì chính xác khoảng cách này, các đặc tính vật lý hoá học của vật chất được duy trì không thay đổi. Ở khoảng cách ấy, nguyên tử của vật chất tương tác một cách hiệu dụng với nhau, giữ cho tính chất của chúng là được tạo bởi các tương tác của chúng.
Cũng tương tự như tinh thể, điều kiện ổn định của chân không duy trì tương tác giữa các hạt, chúng hút và đẩy lẫn nhau trên cơ sở duy trì khoảng cách không đổi giữa chúng. Tương tác như thế là có thể nếu phạm vi của mạng lưới chân không “tinh thể” không thấp hơn 10*E-33 cm khi giảm kích thước mạng lưới sẽ gây ra mất ổn định lực hút của hệ thống: nếu các hạt tiến lại gần nhau, lực hút hấp dẫn giữa chúng sẽ trội hơn lực đẩy và các hạt dính vào nhau.
Mô hình như thế là mô hình chân không vật lý đã được Planck nghiên cứu. Trong thực tế, ông đã đưa ra khái niệm độ dài Planck (1,6E-33cm) mà trong phạm vi đó, lực hấp dẫn làm biến dạng mạng lưới. Lorentz đã đưa ra công thức quan hệ nổi tiếng là biến đổi Lorentz dựa trên mô hình cùng một nguồn gốc là mạng lưới không biến đổi, Anhxtanh sau đó đã sử dụng phép biến đổi này.
Vậy cái gì ở nút mạng chân không, chúng ta cũng vẫn còn chưa rõ, bởi vậy trong mô hình toán học chúng ta đưa vào các dao động có điều kiện và từ đó xem xét trạng thái của hệ thống. Nếu các dao động đi trệch khỏi vị trí cân bằng thì năng lượng của hệ thống đã thay đổi. Tương tác giữa các dao động tạo ra phổ kích thích nào đó của chân không mà trong đó gây ra hệ quả là các hạt có thể quan sát thấy được sinh ra.
Vũ trụ là vô hạn, số lượng các nút và các dao động trong mô hình cũng là vô hạn, nhưng ông Chensky đã chứng minh rằng để mô tả cách cư xử của các hạt quan sát được thì chỉ cần 12 phương trình là đủ. Giải hệ thống các phương trình đó cho phép đưa ra một số kết luận không bình thường, kết luận chủ yếu trong số đó là phủ nhận giả thuyết vụ nổ lớn. Tuy hoàn toàn có thể là trong tất cả vũ trụ của chúng ta đã xảy ra một số sai khác nhỏ.
Vậy chúng ta xem xét mô hình mới trong thế giới của chúng ta.
Điểm tham chiếu là vũ trụ tại nhiệt độ 2,7 độ K. Năng lượng của chúng “bị kìm hãm” trong proton, khối lượng và năng lượng tiềm tàng của loại hạt này đạt trạng thái cực đại trong chu trình, khối lượng của electron, hạt phù hợp và bắt buộc tạo cặp với proton là cực tiểu. Không cố ý nhưng bằng thống kê, cái được chờ đợi trong vũ trụ vô hạn là sự thúc đẩy đến trạng thái thay đổi nào đó (dao động) gây ra proton bức xạ năng lượng và đồng thời nhận gia tốc. Quá trình này cũng đồng nghĩa với tiến trình nóng lên của vật chất cho đến nhiệt độ gây ra phản ứng tổng hợp hạt nhân.
Năng lượng (khối lượng) của proton bị “hấp thụ” bởi hạt đối lập với nó là electron. Thực tế là khoa học ngày nay vẫn chưa biết, các loại hạt này như thế nào. Chúng ta đã đo lường các đặc tính của electron như khối lượng, điện tích, spin, nhưng điều đó không cho phép chúng ta có bất cứ cơ sở nào để xem xét nó như là điểm vật chất. Dường như, electron và proton cần được xem xét như là đám mây vật chất, khối lượng và mật độ có thể khác nhau. Đám mây chảy từ hạt này sang hạt khác, làm proton mất khối lượng và electron trở nên nặng hơn.
Đối với các nhà vật lý thiên văn, hiện tượng sao Mộc và sao Thổ có bức xạ mà năng lượng lớn gấp đôi so với chúng nhận được từ mặt trời đã được biết đến từ lâu nhưng không hề được giải thích. Nhưng nếu dùng lý thuyết mới thì trạng thái đó hoàn toàn sáng tỏ. Các hành tinh này chứa chủ yếu là hyđrô và hê-li. Hyđrô là nguyên tố cơ bản, một hệ chứa proton-electron. Hiện tượng phân bố lại khối lượng trong hệ thống này đi kèm với phân bố năng lượng mà mô hình nêu trên đã cho câu trả lời. Dẫn đến một kết luận là vũ trụ của chúng ta cho đến bây giờ vẫn ở trong trạng thái đang nóng lên.