Năm 1939 đã sắp kết thúc để bước sang 1940, những bài tập đi đều bước đến phát ốm theo sau đít ngựa của Tomasini thưa đi và thời gian ngồi lớp học tăng dần lên. Khía cạnh kỹ thuật của pháo binh đã mê hoặc tôi bởi toán là môn tủ của tôi, đồng thời có thêm mối quan tâm mới dưới hình thức các buổi học chay về tình hình khu vực, đặc biệt là về thái độ gây hấn của quân đội Nhật.
Nhật Bản xâm lược Mãn Châu năm 1931 và tới năm 1937 đã chiếm đóng một loạt trung tâm quan trọng ở Trung Hoa như Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Nam Kinh. Phải mất nhiều thời gian để tin tức dù là cô đọng nhất lọt về đến được Hà Nội, nhưng giờ đây chúng tôi biết được rằng trong vài tuần tiếp sau sự kiện Nam Kinh thất thủ tháng 12/1937, quân đội Nhật nhúng tay vào một cuộc trả thù dữ dội trên khắp thành phố, hãm hiếp, tra tấn và tàn sát cư dân của nó. Những ai bị xả súng máy bắn chết là được nhận số phận nhẹ nhàng nhất. Những người không may mắn bằng thì bị dùng để tập đâm lê, bị chặt đầu, thiêu sống, bị cắt xẻo hay bị buộc vào lưỡi treo lên trong cơn say sưa tàn bạo. Việc này chỉ kéo dài vài tuần, nhưng trong khoảng thời gian đó hơn 260.000 thường dân Trung Hoa đã phải chết trong kinh hoàng.
Riêng tôi cảm thấy thật khó tin rằng một quân đội chính quy có thể làm những hành động dã man như vậy. Ắt hẳn câu chuyện này đã bị phóng đại. Tôi không thấy lo lắm về những sự kiện xảy ra ở phương bắc. Nhật Bản đang có chiến tranh với Trung Hoa, họ có thể muốn gì từ chúng tôi?
Trong lớp học tôi được biết tình hình đang diễn biến nhanh như thế nào, rằng từ khi chiến tranh nổ ra ở Châu Âu, Nhật đã ngày càng nhúng sâu vào, rằng giờ đây Đông Dương đang trong tình thế khó khăn. Mặc dù đã tuyên bố trung lập ngay từ khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, chính quyền Pháp đã cho phép hàng hóa, phần lớn là viện trợ của Hoa Kỳ, được đi theo tuyến đường sắt Vân Nam ngang qua Bắc Kỳ để chở tới cho quân đội quốc gia của Tưởng Giới Thạch chiến đấu tại Trung Hoa. Nhật Bản vận động hành lang rất mạnh ở Hà Nội nhưng không thể đóng cửa được tuyến đường sắt này, và gần đây họ đã ném bom khu vực biên giới Bắc Kỳ của tuyến đường sắt Vân Nam, phá hủy đường ray và gây thương vong trong số công nhân đường sắt.
Cũng như nhiều người lính cùng tuổi tôi ở đây, tôi mong muốn ở lại Đông Dương làm lính hậu bị để được chở tới chiến trường Châu Âu khi có yêu cầu. Nhưng do căng thẳng leo thang ở khu vực của chúng tôi, chúng tôi phải ở lại Đông Dương trong khi ở Châu Âu Pháp đang oằn mình dưới sức nặng cuộc tấn công tàn bạo của quân Đức. Tương lai của nước Pháp ngày thêm ảm đạm mỗi khi chúng tôi nghe được thêm tin gì mới, dù cho tới nay tin tức vẫn rất hiếm hoi. Nhật báo từ Hà Nội không cách gì đến được các thị trấn tỉnh lẻ, còn đài radio là một thiết bị cồng kềnh đầy bóng đèn mà chỉ một vài gia đình giàu có mới mua nổi. Rồi đến tháng 3/1940, khi tình hình tại chính khu vực của chúng tôi nóng dần lên, Sở chỉ huy gửi từ Hà Nội một sĩ quan thông tin trẻ mỗi tuần ghé ở lại Tông đôi chút. Nhiệm vụ của anh ta là báo lại tất cả những sự kiện mới nhất, điểm thêm những nhấn nhá tuyên truyền thôi thúc tình cảm ái quốc.
Cũng trong tháng đó một ủy ban Nhật Bản đã tới Hà Nội để chuyển cho viên Toàn quyền, Tướng Georges Catroux, bản phản đối tuyến tiếp vận cho Trung Hoa đi qua Bắc Kỳ - gây nên ảnh hưởng tai hại. Không bên nào đưa ra được giải pháp và Nhật đáp trả bằng những trận không kích quyết liệt khác, thả bom “không cố ý” vào địa phận Đông Dương trên tuyến biên giới. Catroux ra lệnh cho các đơn vị phòng không Pháp ở khu vực biên giới triển khai vào vị trí chiến đấu và tới tháng 4 quân Nhật trả đũa bằng cách ném bom dữ dội tuyến đường sắt. Các tướng Nhật đóng tại Nam Trung Hoa khua gươm leng keng và khởi động một chiến dịch tuyên truyền hùng hổ chống Pháp.
|