Cắt dán vào đây một bài ở báo Văn nghệ luôn
http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/Quo...sp?PostID=3813
Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học
(2004-12-03T18:15:13)
(Nhà thơ Xô Viết Ra-xul Gam-za-tôv, người Avar nước cộng hoà Đa-ghe-xtăng (thuộc Nga) được mệnh danh là nhà thơ cho mọi thời đại. Ông thuộc lớp người được trưởng thành từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Người con của dân tộc Avar lớn lên trong đại gia đình hòa thuận các dân tộc của Liên Bang Xô Viết và đã trở thành nghệ sĩ ngôn từ nổi tiếng thế giới. Ông là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước. Thơ của ông đậm bản sắc dân tộc và trữ tình, thấm đẫm truyền thống fol-klor vùng Kav-kaz và giàu chất nhân văn. Ông qua đời ngày 3-11-2003, hưởng thọ 81 tuổi. Khi còn sống, về Việt Nam, ông đã nói một câu với đại ý là: Nếu như có một lịch sử về những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của các dân tộc trên thế giới, thì đầu tiên là phải ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Việt Nam. Trong một cuộc gặp gỡ với các đồng nghiệp Việt Nam sang thăm Nga vào năm 1994, ông đã tỏ ý tiếc không được đến Việt Nam trong những năm khi Việt Nam đấu tranh gian khổ chống xâm lược. Còn bây giờ đến thăm nước này khi đã hoà bình, thì có một cái gì đó không phải đạo. Trước khi đi xa, nhà thơ đã kịp dành cho báo “Nước Nga văn học” cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng đề cập tới nhiều vấn đề. Dưới đây chúng tôi xin trích phần ông bày tỏ suy nghĩ của mình về văn học)
Người ta thường gọi văn học là nhân học. Tôi công nhận điều này. Những với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học nghiên cứu con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái. Nhân học đòi hỏi chân lí. Nhưng một chân lí chưa đủ. Cần phải biểu hiện nó bằng tài năng và lòng yêu thương con người. Nói chung mỗi nhà văn đều có định nghĩa riêng của mình về văn học. Riêng tôi cho rằng lòng nhân ái phải là hàng đầu. Đó là cơ sở để lựa chọn hình thức và thể loại. Một người không thể đưa ra định nghĩa về văn học. Có những quan điểm khác nhau: Giống nhau và không giống nhau. Những quan điểm đó bổ sung nhau và tất cả đều đúng.
Cần phải nói về những tác phẩm cụ thể, chứ không phải về khái niệm đã bị quên lãng. Một số người này cho rằng văn học có ý nghĩa giáo dục, còn những người khác thì cho văn học có ý nghĩa nhận thức. Theo tôi, trong văn học cần phải hội đủ 3 yếu tố: Giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ. Nhưng không nên bị quá câu nệ vào điều này. Một nhà văn chân chính không bao giờ dạy đời, mà thường bắt người ta phải suy ngẫm. Vì thế, nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lí được khắc hoạ bằng tất cả tài nghệ của nhà văn. Cần phải hát đúng giai điệu của thời đại mình và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không chút giả tạo. Người ta thường nói về những nhiệm vụ mà văn học cần phải giải quyết. Nhưng nếu như nhà văn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải viết một tác phẩm nhằm mục đích giáo dục và nhận thức, thì anh ta sẽ thất bại. Nhà văn không bao giờ được nghĩ tới điều đó. Anh ta thường trăn trở một điều gì đó và thể hiện nó. Nỗi băn khoăn và trăn trở là cái nghiệp của nhà văn. Nếu chỉ có một điều trăn trở thì chưa đủ, cần phải biết thể hiện suy nghĩ và tình cảm để trong tác phẩm xuất hiện hạt nhân duy lí. Hoà quyện tình cảm với duy lí là điều không đơn giản. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ cần phải biểu hiện những cảm xúc của mình, mà hơn thế, phải biết khơi dạy ở người đọc những cảm xúc đó.
Hiện nay, trong thời buổi của tiến bộ khoa học kĩ thuật thường vang lên những tiếng nói cho rằng văn học không có tầm quan trọng lớn lao như trước đây nữa, mà người ta sớm vứt bỏ nó khỏi con tàu hiện đại. Nhưng thời gian đã chứng minh văn học là cần thiết. Toàn bộ lịch sử loài người được chia ra làm hai thời kì: Trước và sau khi xuất hiện văn học. Mỗi người phải có trách nhiệm học tập ở những người khác. Nhà văn cũng vậy. Cần phải lấy bài học ở thời đại, ở những thế hệ trước. Không được bắt chước, mà phải kế tục cái mà những con người vĩ đại trước chúng ta đã khai mở.
Còn đối với tôi, nhiệm vụ chính là sáng tác mà tôi đã và đang tiếp tục dâng hiến cho bạn đọc và mọi người. Tôi sinh ra ở làng Txe-đa tại vùng Đa-ghe-xtăng nhỏ bé và rất đỗi yêu quí của tôi, nhưng tôi đã được nhìn thấy cả thế giới và tìm cho mình những người bạn ở khắp các châu lục. Số phận đã ban tặng cho tôi ba lứa tuổi: Tuổi trẻ, tuổi chín chắn và tuổi già. Nhưng nhà thơ cần phải có thêm một lứa tuổi thứ tư. Nhà thơ là người đồng niên không chỉ với những người đang sống hôm nay, mà cả với những ai đã khuất và thậm chí với cả những đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ chuẩn bị cất tiếng khóc chào đời. Điều cốt yếu với chúng ta là nhận biết ngày hôm nay. Ngày hôm nay là kết quả của ngày hôm qua và của toàn bộ lịch sử nói chung. Nhưng trong lòng của hôm nay có chứa đựng cả dự báo cho ngày mai và nhiều năm tiếp theo.
Bao giờ cũng có nhiều vị thủ trưởng nêu ra định nghĩa văn học, coi mình là “người chỉ huy văn học” đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Dù họ có cố gắng đến đâu, thì họ cũng chẳng được gì cả. Các nhà xuất bản, các quan chức và nhà khoa học cũng không thể đưa ra đánh giá về văn học, mà chỉ có nhân dân và thời gian mới có thể làm được điều này. Tôi quả không muốn lợi dụng những từ ngữ này, nhưng chẳng có cách nào khác, mà chỉ đứng từ xa mới có thể bao quát rõ điều lớn lao. Chỉ có qua một thế kỉ mới có thể nói về tầm vĩ đại của nhà văn này hay khác, bởi vì hiện nay qua một thiên niên kỉ chúng ta mới nói được về sự vĩ đại vĩnh cửu của Ô-ma-ra Hai-a-ma.
Trong văn học không có và không thể có những người lãnh đạo và bị lãnh đạo. Đã từng có nền văn học của đảng, của đoàn thanh niên Côm-xô-môn, của nông dân và v.v... Những điều đó không đúng. Văn học cao hơn mọi cấp bậc. Không nên dồn văn học vào những sơ đồ mang tính khuôn mẫu đã đặt ra trong nhiều thập niên. Khi còn sống, có một lần Khơ-rut-sôv đã gọi các nhà văn là người có tài tưởng tượng và hư cấu. Thực ra, hoàn toàn không phải như vậy. Nhà văn là người thể hiện nỗi đau của thời đại. Lev Đa-vi-đô-vich Trôt-ski khi là Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga cũng đã quyết định chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai trong văn học. Hồi đó một trong những người theo chủ nghĩa vị lai đã đến gặp vị Bộ trưởng này và nói: “Này đồng chí Lev Đa-vi-đô-vich, chúng tôi gồm 11 người theo chủ nghĩa vị lai đáng đói làm sao có thể địch nổi được không quân, bộ binh và pháo hạng nặng đang dưới quyền điều khiển của đồng chí. Đây là một cuộc chiến đấu rất không cân sức.” Nhưng rốt cục, những người theo chủ nghĩa vị lai đã chiến thắng. Trước đây cả tỉnh uỷ, cả huyện uỷ và cả chi bộ đều đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Họ muốn dạy viết những câu thơ của Pas-tec-năc và Ê-xê-nhin. Trôt-xki chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai, Bu-kha-rin chống lại Ê-xê-nhin, Khơ-rut-sôv chống lại những người đi tiên phong. Nhưng văn học không có và không thể có những lãnh tụ. Người ta thường gọi nhà văn là kĩ sư tâm hồn. Có thể đồng ý với định nghĩa này.
Khi Khơ-rut-sôv đi Mĩ, ông ta đã quyết định đưa theo Sô-lô-khôv như một tấp danh thiếp của nền văn học Xô Viết. Còn khi Ai-sen-hao thăm đáp lễ Liên Xô cũng muốn đưa theo Hê-minh-uê. Nhưng nhà văn này từ chối lời đề nghị của ngài Tổng thống Mĩ. Ngay từ lúc đầu Hê-minh-uê đã nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa. “Tôi đi tháp tùng Ai-sen-hao để làm gì? - Hê-minh-uê nói, - Tốt hơn là để người đứng đầu nước Mĩ đi tháp tùng tôi.” Hê-minh-uê mới đúng là một nhà văn đích thực. Còn những nhà văn bé nhỏ của chúng ta, rất buồn là, lại không biết là mình bé nhỏ. Vì thế, những đòi hỏi của họ lại lớn.
Nói chung, không nên chỉ thị cho các nhà văn: Các anh phải viết nhiều về cái này hay phải viết ít về cái kia. Nếu như vậy, thì không thể có văn học. Vào những năm 30 của thế kỉ trước đã có một nhà thơ nổi tiếng của đoàn thanh niên Côm-xô-môn tên là A-lec-xăng-đrơ Bê-zư-men-xki. Từ đại hội nhà văn đầu tiên tiến hành năm 1934 ông bố tôi đã cùng với nhiều người khác mang cả ảnh chân dung nhà thơ này. Lúc đó chỉ một chút nữa là nhà thơ này đã là nhà kinh điển. Thế nhưng, nhà thơ đó đã không còn tồn tại trong nền văn học lớn. Các nhà thơ cần phải thuộc về của dân tộc. Sáng tác của họ cần phải thấm đẫm cài hồn quê hương. Qua những thi phẩm của Ê-xê-nhin mà có thể biết, tác giả xuất sứ từ đâu, ai là mẹ, là chị gái, là người vợ yêu quí của thi sĩ. Ê-xê-nhin không giấu giếm bạn đọc gì hết. Phơi bày toàn bộ thế giới nội tâm của mình trước bạn đọc. Chính là phải như thế. Nếu không như thế, thì tất cả chỉ là giả tạo. Chúng ta đều biết đến những câu chuyện tình của Pus-kin, của Mai-a-côv-xki.
Những người thầy thuốc viết bệnh sử của con người, còn nhà văn viết bệnh sử của nhân loại. Các bạn hãy xem nền văn học Nga của thế kỉ 19: Pus-kin, Ler-môn-tôv, Đôx-tôi-ev-xki, Tôl-xtôi, những tác phẩm của họ đều viết lịch sử những căn bệnh của đất nước. Trong thời kì Xô Viết người ta đã ép buộc văn phải làm những điều vốn rất xa lạ với nó là huênh hoang, nói trạng, thậm chí là nói dỗi nữa. Vì thế, nền văn học của thế kỉ XIX có tầm cỡ hơn nhiều. Những vấn đề do nền văn học thế kỉ XIX đặt ra cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, mà tôi cho rằng nó mãi mãi mang tính thời sự.
Nói chung văn học là một công việc nặng nhọc. Khoa học văn học đã chấp nhận việc phân kì văn học: văn học của thời kì chiến tranh giữ nước vĩ đại, văn học của thời kì xây dựng hoà bình và v.v... Nhưng theo tôi, điều này không đúng. Than ôi, chúng ta phải xác định các thời kì trong nền văn học của chúng ta bằng những ngày tháng buồn. Hiện thời ở phương Tây người ta viết như sau: Văn học Nga trước cái chết của Hu-mi-li-ôv, trước cái chết của E-xê-nhin, trước cái chết của Mai-a-côv-xki. Điều này đúng. Chính mỗi một nhà văn này là một thời đại.
Không ai được phép đặt nhiệm vụ cho các nhà văn. Chính các nhà văn phải đặt nhiệm vụ ra cho toàn thế giới. Đã từng như vậy và sẽ vẫn như vậy. Thời đại Sênh-pia đã làm cho thế giới phải bối rối trước câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại?”.
Làm gì? Ai có lỗi? Ngày mai đang chuẩn bị gì cho chúng ta? Số phận của những sự kiện dẫn chúng ta tới đâu? Ai ở nước Nga được sống hạnh phúc? Quốc hội nào, Chính phủ nào nếu ra những vấn đề bức xúc một cách chính xác và rộng lớn hơn trên phạm vi toàn thế giới? Đây, chính những câu hỏi này do văn học nêu ra. Còn những đề tài mang tính chất vĩnh cửu về chiến tranh và hoà bình, về tội ác và trừng phạt – không phải là theo đơn đặt hàng của bộ quốc phòng hay bộ ngoại giao. Tôl-xtôi và Đôx-tôi-ev-xki đã nêu lên những đề tài này.
Than ôi, các thời đại đã bị biến đổi. Ngày nay người ta đang đi tìm những câu trả lời mới cho những câu hỏi muôn thuở. Trước đây chỉ phạm một tội nhỏ là bị chặt đầu, còn bây giờ phạm tội lớn đôi khi còn được thưởng. Trước đây cha nói với con: tao đẻ ra mày, tao có quyền bắt mày phải chết. Còn bây giờ thì ngược lại. Trước đây cả thế giới đều biết đến một lời nói thầm của nhà thơ, còn giờ đây chẳng ai thèm nghe gì dù người ta có hét trên đài hoặc trên màn ảnh tivi.
Điều ghê sợ nhất là chúng ta đã mất bạn đọc, bạn nghe và bạn xem. Nhưng tôi tin rằng văn học đích thực sẽ không bao giờ bị chết. Bởi văn học hướng và khuyến thiện con người mà thiếu điều này thế giới trở nên vô nghĩa. Niềm hi vọng về những điều tốt đẹp mãi mãi bừng sáng và tồn tại.
Mới đây tôi đã có cuộc gặp gỡ với anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa Na-ri-man A-li-ev, giám đốc nông trường trồng nho và được anh kể cho nghe một câu chuyện buồn của những người trồng nho Đa-ghe-xtăng. Trong thời kì chiến dịch cấm uống rượu của những năm 1980 họ đã bị ra lệnh phải chặt hết nho đi. Bây giờ lại phải đầu tư bạc triệu để phục hồi lại những vùng trồng nho mà trước đây đã bị phá trụi. Văn học cũng bị lâm vào tình trạng như vậy. Trước đây văn học là đứng ở hàng đầu trong đội ngũ trí thức. Đã có 7 nhà văn là đại biểu Xô Viết tối cao Liên Xô, còn bây giờ chẳng có một ai trong quốc hội Nga của chúng ta.
Đã có một số năm dường như Nhà nước không để tâm tới văn học. Rất may, hiện nay đang hồi sinh sự quan tâm tới ngành nghiên cứu con người mà cái lõi của nó là lòng nhân ái. Hi vọng sẽ xuất hiện những tên tuổi mới và những tác phẩm mới.
(Báo Văn nghệ)