Theo đúng nghi thức, tôi báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng cuộc trình diễn đã sẵn sàng và trình bày nội dung các cuộc bắn pháo. Sau đó chúng tôi đi xuống trận địa hỏa lực và xem xét các giàn pháo phản lực và các quả đạn trên các giàn phóng ấy.
Trong 15 phút 144 quả đạn phản lực (mỗi giàn chứa 12 quả đạn) đã được phóng vào mục tiêu tập bắn. Các quả đạn réo ầm ầm cùng với những cái đuôi lửa lao tới mục tiêu, sau đấy chúng tôi nghe thấy những tiếng nổ của chúng. Sau khi tiến hành xong cuộc bắn trình diễn chúng tôi đi ôtô cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nơi các quả đạn đã nổ. Những gì chúng tôi nhìn thấy quả là khủng khiếp. Các hầm hào bị đất lấp đầy, những công trình bằng bê tông, các mô hình máy bay lên thẳng đều đã bị phá huỷ và cháy trụi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến về phía tôi và nói bằng tiếng Nga: "Đồng chí Bêlốp, cảm ơn về tất cả. Tôi đề nghị đồng chí chuyển lời cảm ơn của chúng tôi tới Ban lãnh đạo Bộ Quốc phòng Liên Xô và mong rằng những giàn phóng đạn pháo phản lực này sẽ được cung cấp hết sức nhanh chóng để chuyển cho những người anh em của chúng tôi thuộc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam".
Các sĩ quan pháo binh Liên Xô đã tham gia chuẩn bị cuộc bắn trình diễn ấy đã được mời đến gặp Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam để nhận quà tặng và Huy chương Hữu nghị.
Tôi đã lập tức báo cáo về Trung tâm kết quả các cuộc bắn trình diễn ấy cũng như sự đánh giá của ban lãnh đạo Việt Nam.
Tháng 7-1966 tôi được về nước nghỉ phép. Sau khi về đến Mátxcơva, tôi đã được R. Ia. Malinốpxki tiếp. Sau khi nghe tôi báo cáo về tình hình của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Bộ trưởng đã nhấn mạnh vai trò to lớn của các binh sĩ Liên Xô tại Việt Nam và đánh giá tốt hoạt động của ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia. Dịp tôi trở về Mátxcơva trùng với hai sự kiện trong gia đình: cô con gái của tôi Xvétlana kết thúc những năm học ở trường đại học và đang chuẩn bị lấy chồng.
Sau khi biết chuyện này, Bộ trưởng đã lệnh cho Tổng tham mưu trưởng lập tức cấp cho tôi một căn hộ ở Mátxcơva (đường Cômxômôn, nhà số 15). Như vậy, sau 20 năm sống phiêu bạt theo các cơ sở đồn trú quân sự ở trong nước, tôi đã định cư tại Mátxcơva.
Đồng thời Bộ trưởng còn lệnh cho tôi sang Việt Nam thêm một năm nữa. Trong báo cáo gửi Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô tôi đã chỉ rõ rằng sẽ là điều hợp lý nếu bổ nhiệm một vị tướng thuộc Binh chủng phòng không thay thế tôi trong chức vụ Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Bộ trưởng trả lời sau một năm nữa Bộ sẽ giải quyết vấn đề này.
Khi sống ở Việt Nam, các chiến sĩ Xôviết đã thường xuyên cảm nhận được sự quan tâm to lớn từ phía các bạn Việt Nam, trong đó có sự quan tâm của ban lãnh đạo. Tất cả các bạn Việt Nam mà chúng tôi đã có dịp công tác hoặc gặp gỡ: từ những bác nông dân, các chiến sĩ bình thường cho đến các nhà lãnh đạo dân sự cũng như quân sự ở tất cả các cấp đều dành cho chúng tôi những tình cảm nồng ấm .
Sau khi kết thúc giai đoạn cơ bản trong việc huấn luyện chiến đấu cho Trung đoàn thứ nhất và Trung đoàn thứ hai của Binh chủng tên lửa phòng không, các chuyên gia quân sự Liên xô - từng nhóm nhỏ - đi nghỉ một tuần ở vùng núi Tam Đảo. Ở đó tương đối yên tĩnh và mát mẻ hơn là ở những vùng đồng bằng trung tâm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Dĩ nhiên, thời gian nghỉ ngơi rất ngắn như vậy không thể hoàn toàn phục hồi sức lực và hệ thần kinh của các chiến sĩ Xôviết, nhưng đợt nghỉ ngơi ấy lại hết sức cần thiết: bầu không khí chiến đấu căng thẳng, tình trạng luôn luôn cảm nhận mối nguy hiểm trong điều kiện khí hậu nóng bức nhiệt đới đã làm cho sức khoẻ bị suy sụp mạnh. Sau đợt nghỉ ngơi ngắn, các chuyên gia Liên Xô lại bắt tay vào công việc huấn luyện Trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba và Trung đoàn tên lửa phòng không thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tôi đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh bảy lần, có một lần tôi được mời đến nhà của Chủ tịch dùng bữa tối (ngôi nhà nhỏ nằm trong khuôn viên Phủ Chủ tịch). Tôi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với nhau bằng tiếng Nga (Chủ tịch nói tiếng Nga không tồi). Tôi có những quan hệ rất tốt đẹp với các vị lãnh đạo quân sự của Việt Nam.
Tất cả những đề nghị, ý kiến tư vấn và các khuyến nghị của tôi cũng như của các trợ lý của tôi đều được các cấp lãnh đạo của Việt Nam chấp nhận và đưa ra thực hiện.
Tôi biết ơn Bộ trưởng Quốc phòng (thời kỳ ấy) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là Thượng Tướng Văn Tiến Dũng và Tướng Trần Sâm, Bộ Tư lệnh Phòng không - không quân các Đại tá Phùng Thế Tài và Đặng Tính (Дahr Tинъ) vì sự hiểu biết lẫn nhau, vì sự giúp đỡ và quan tâm dành cho các chiến sĩ Xôviết.
Tôi muốn dẫn ra đây một sự việc nói lên tình cảm của những người bạn Việt Nam đối với chúng tôi. Tôi sử dụng chiếc xe GAZ-64 do phía Việt Nam cấp cho tôi để đi lại. Người lái xe là thượng sĩ Tuấn, còn đồng chí Tính vừa là phiên dịch, vừa là người bảo vệ tôi. Trong một chuyến đi công tác chiếc xe của chúng tôi bị máy bay Mỹ ném bom. Có một quả bom nổ cách chúng tôi 60-70 mét. Tôi ra lệnh cho mọi người cấp tốc tìm nơi ẩn nấp ở cạnh đường. Một quả bom nữa rơi cách chúng tôi 15-20 mét. Chúng tôi bị đất vùi. Bỗng nhiên tôi cảm thấy có cái gì đó rất nặng từ phía trên đè xuống người tôi. Ngoảnh nhìn lên, tôi thấy anh Tính, phiên dịch của tôi, là người đã đè lên tôi. Tôi hỏi: "Đồng chí Tính ơi, có chuyện gì vậy?". Đồng chí ấy nói đã được lệnh phải bảo vệ tôi bằng mọi giá kể cả bằng mạng sống của mình. Đây là ví dụ có sức thuyết phục nói lên sự quan tâm đối với tôi.
Trước sự quan tâm quên mình ấy, tôi quyết định cảm ơn các đồng chí Việt Nam. Tháng 10-1967, tôi bàn giao công việc - của Trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô cho Tướng V. N. Abramốp mới được bổ nhiệm thay tôi. Trước khi sửa soạn lên đường về nước, tôi đã tặng đồng chí Tính và Tuấn hai chiếc xe đạp được phi công Xukhinin chở đến từ Mátxcơva theo đề nghị của tôi. Vào thời đó, đối với người Việt Nam chiếc xe đạp chẳng khác gì chiếc ôtô vào thời nay. Sau khi trao tặng phẩm và chia tay với đồng chí Tính và đồng chí Tuấn, tôi thấy họ rưng rưng lệ tỏ lòng cảm ơn.
Trước lúc tôi trở về Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng tôi Huân chương cao quý của Việt Nam và khẩu súng lục kiểu "Smít-oétxơn" có khắc tên Chủ tịch (hiện nay khẩu súng này được trưng bày tại Bảo tàng Trung ương các lực lượng vũ trang), ngoài ra còn tặng cho vợ tôi một bộ đồ nữ trang bằng bạc có gắn ngọc lam.
Đúng vào thời điểm tôi trở về Liên Xô, tôi đã được tặng thưởng Huân chương Lênin. Cả Tướng M. E. Bôrixencô, vị chính uỷ của. tôi: cũng được tặng thưởng Huân chương Lênin.
Sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô R. Ia. Malinốpxki qua đời (ngày 31-3-l967), Nguyên soái A. A. Grêscô trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô. Sự quan tâm của Bộ trưởng Grêscô đối với các chuyên gia quân sự Liên Xô không được như sự quan tâm của Bộ trưởng Malinốpxki.
Sau khi về đến Mátxcơva và sau khi trình bản báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu, tôi đi nghỉ phép. Trong báo cáo của tôi có chỉ rõ rằng trong 2 năm - từ tháng 7-1965 đến tháng 10-1967 - tất cả các lực lượng phòng không của Việt Nam, với sự tham gia trực tiếp của các chiến sĩ Xôviết, đã bắn rơi hơn 2 nghìn chiếc máy bay Mỹ các loại trong đó có 4 "pháo đài bay" B-52.
Sau kỳ nghỉ phép trở về tôi nhận được một loạt đề xuất về cuộc đời binh nghiệp tiếp theo của tôi trong lực lượng vũ trang. Trong các đề xuất ấy có đề xuất trao cho tôi chức vụ cao tại Quân khu Bêlarútxia.
Sau khì nghiên cứu tất cả mọi đề xuất, tôi gửi thư cho Đại tướng I. G. Páplốpxki, Tư lệnh Bộ binh của Quân đội Liên Xô, trong đó có đoạn viết: "Thưa đồng chí Tư lệnh! Tôi cảm ơn đồng chí đã tín nhiệm tôi, đã đề xuất với tôi đảm nhận chức vụ cao. Nhưng tôi sắp tròn 49 tuổi, tôi sẽ không trở thành vị thống lĩnh được. Tôi đã có căn hộ ở Mátxcơva, vì vậy, tôi đề nghị (nếu có thể được) hãy để tôi ở lại phục vụ tại Mátxcơva".
Vị Tư lệnh bộ binh đã ủng hộ lời thỉnh cầu của tôi. Theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, tôi được ghi tên vào biên chế của Bộ máy trung ương của Bộ Quốc phòng và được bổ nhiệm làm Phó giám đốc quản lý các trường quân sự của Quân chủng lục quân. Tôi đã phục vụ 10 năm trong chức vụ này cho đến ngày được chuyển sang diện dự bị - tháng 2-1977 - do tuổi tác.
còn nữa
|