Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam I. X. Sécbacốp đã dành một số phòng của Sứ quán làm trụ sở làm việc của Bộ tham mưu Đoàn chuyên gia. Trong một cuộc họp của các cán bộ Sứ quán, sau khi giới thiệu tôi với họ, Đại sứ Sécbacốp đã giao nhiệm vụ cho họ phải hết sức giúp đỡ chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ được trao cho Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, đặc biệt nhấn mạnh tính chất và vai trò tuyệt đối quan trọng của các chuyên gia này. Tôi biết ơn Đại sứ Sécbacốp đã dành cho chúng tôi sự giúp đỡ và quan tâm hết sức cụ thể.
Trước hết phải nói rằng trong suốt thời gian công tác ở Việt Nam (trong 2 năm) tôi luôn luôn nhận được sự giúp đỡ không ngừng và toàn diện và sự quan tâm từ phía các cán bộ Sứ quán Liên Xô tại Việt Nam. Tôi nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của các tham tán sứ quán: Privalốp, Xidốp, Grusétxki, đại diện của ủy ban Nhà nước về quan hệ kinh tế V. N. Gôriusin, đại diện thương mại của Liên Xô tại Việt Nam Páplốp, tùy viên quân sự A. I. Lêbêđép và các phụ tá của họ - E. A. Lêgôxtaép, I. P. Spoóctơ và những cán bộ khác trong Sứ quán.
Sau khi nghe các báo cáo của Đại tá A. M. Đdưda, trưởng nhóm chuyên gia tên lửa phòng không, của các viên chỉ huy các trung đoàn tên lửa phòng không là các Đại tá N. V. Bagienốp, Đại tá M. N. Xưgancốp, chỉ huy nhóm chuyên gia không quân là Tướng V. P. Xensencô và các vị khác, - tôi thông báo cho họ về các nhiệm vụ mà Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô trao cho các chuyên gia quân sự Liên Xô. Tôi cũng đã xác định những biện pháp trước nhất nhằm giải quyết các nhiệm vụ ấy.
Phải mất vài ngày để tìm hiểu và nghiên cứu tình hình trực tiếp ở các đơn vị, tại địa bàn đóng quân của các đơn vị ấy. Sau đó, trong cuộc họp mở rộng của ban lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng tôi đã giải quyết các vấn đề phối hợp hành động, đặc biệt là vấn đề sau đây: theo ý kiến của phía Việt Nam thì Liên Xô cần cung cấp những vũ khí gì và những phương tiện kỹ thuật nào, số lượng các loại đó, tương ứng là số lượng chuyên gia quân sự Liên Xô cần gửi bổ sung thêm sang Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Tướng Trần Sâm và Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, Đại tá Phùng Thế Tài đã được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia giải quyết tất cả các vấn đề và nhiệm vụ của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô.
Chúng tôi, các quân nhân Xôviết đầu tiên trong lịch sử hợp tác quân sự với Việt Nam, đã phải giải quyết hai nhiệm vụ: nhiệm vụ thứ nhất là tổ chức sự giúp đỡ quân sự cho quân đội miền Bắc Việt Nam trong việc chống trả cuộc xâm lược của Mỹ, và nhiệm vụ thứ hai là thiết lập quan hệ trực tiếp với các bạn Việt Nam ở mọi cấp.
Chúng tôi là những người tiên phong trong việc giải quyết nhiều nhiệm vụ, cho nên thường phải suy nghĩ nhiều xem cần làm như thế nào cho tốt hơn.
Trong quá trình giúp đỡ các bạn Việt Nam chiến đấu, nếu chúng tôi nói "hãy làm theo tôi", tức là hãy nghiên cứu và nắm vững kỹ thuật và vũ khí như chúng tôi hiểu biết và nắm vững những thứ đó; hãy thực hiện nhiệm vụ chính xác và rõ ràng như chúng tôi, hãy bắn như chúng tôi thì trong lĩnh vực quan hệ con người, vấn đề lại phức tạp hơn.
Các bạn Việt Nam - cả các quân nhân, cả các cán bộ dân sự - đều nhìn vào chúng tôi, tìm hiểu và cố hiểu xem chúng tôi đến với họ nhằm theo đuổi những mục đích gì và những ý định như thế nào - thực dân Pháp mới bị đánh đuổi ra khỏi Việt Nam có hơn 10 năm thôi. Chỉ sau khi hiểu ra rằng chúng tôi dành cho họ sự giúp đỡ vô tư, sự giúp đỡ chân thành không tiếc sức mình, rằng chúng tôi chỉ mong nhân dân Việt Nam thắng bọn xâm lược, - họ mới tỏ thái độ quý trọng sâu sắc đối với chúng tôi, và tôi có thể nói rằng họ đã yêu quý chúng tôi.
Chẳng bao lâu sau khi cảm nhận được thái độ quý trọng chúng tôi của các bạn Việt Nam, chúng tôi thấy dễ dàng hơn nhiều trong việc tổ chức hoàn thành các nhiệm vụ phức tạp và quan trọng được giao phó cho chúng tôi.
Tại những cuộc mít tinh, những cuộc gặp gỡ hội họp, đâu đâu cũng thấy khẩu hiệu: "Liên Xô - Việt Nam muôn năm!". Đó là khẩu hiệu của tình bạn chiến đấu trong suốt những năm sau đó của đợt công tác của chúng tôi tại Việt Nam.
Vào thời gian ấy đã có hai trung đoàn tên lửa phòng không được đưa vào hoạt động để chống lại không quân Mỹ. Đó là Trung đoàn 236 dưới sự chỉ huy của Đại tá M. N. Xưgancốp và Trung đoàn 238 dưới sự chỉ huy của Đại tá N. V. Bagienốp.
Thành tích của những trung đoàn này là đã có vài chục máy bay Mỹ bị bắn rơi, chấm dứt sự thống trị trên không phận và những cuộc ném bom không bị trừng trị của không quân Mỹ trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Sau khi bị mất mấy chục máy bay trong các trận đánh do các chiến sĩ tên lửa Xôviết thực hiện, các máy bay Mỹ khi đến gần mục tiêu đã bay ở tầm cực thấp (100 - 200 mét) và chúng đã trở thành mục tiêu dễ bắn hạ đối với các chiến sĩ pháo cao xạ Việt Nam (có các cỡ nòng 37 ly và 57 ly).
Theo thống kê chính thức thì hơn một nửa số máy bay bị bắn rơi (60%) là do chính pháo cao xạ bắn hạ.
Máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam
Kinh nghiệm tác chiến của các đơn vị tên lửa phòng không và của không quân ở Việt Nam đã được phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng và được áp dụng rộng rãi trong công tác huấn luyện chiến đấu của Binh chủng phòng không Liên Xô.
Những vấn đề như các biện pháp đối phó với loại tên lửa tự tìm mục tiêu "Sraicơ", biện pháp yểm trợ các trận địa phóng tên lửa bằng các trung đoàn pháo cao xạ đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của Tư lệnh Binh chủng phòng không Liên Xô - Nguyên soái P. Ph. Batítxki (ông đã nhiều lần đến thăm Việt Nam vào thời kỳ ấy) và của những vị lãnh đạo quân sự khác của Binh chủng phòng không Liên Xô.
Theo nhiệm vụ do Nguyên soái Batítxki giao cho, một nhóm sĩ quan, dưới sự chỉ đạo của Thiếu tướng V. X. Kixhanxki - trưởng nhóm chuyên gia binh chủng tên lửa phòng không bên cạnh Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam - đã thực hiện một khối lượng công việc to lớn nhằm phân tích, hệ thống hóa và tổng kết kinh nghiệm tác chiến, chuẩn bị cho xuất bản cuốn sách “Kinh nghiệm tác chiến của binh chủng tên lửa phòng không ở Việt Nam". Cuốn sách này được ấn hành ngày 23-2-1968, do Phó Tư lệnh Binh chủng tên lửa phòng không Liên Xô là Trung tướng X. Ph. Vikhorơ làm chủ biên. Đây là cuốn sách được đóng dấu "Mật" và được phổ biến đến từng tiểu đoàn tên lửa phòng không.
Ban lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam đã đề nghị chúng tôi tiếp tục triển khai việc thành lập các trung đoàn tên lửa phòng không mới. Bắt đầu việc thành lập, tuyển quân số và huấn luyện cho Trung đoàn tên lửa phòng không 261 (trung đoàn thứ ba) dưới sự chỉ huy của Đại tá C. V. Davátxki, Trung đoàn tên lửa phòng không 274 (trung đoàn thứ tư) dưới sự chỉ huy của Đại tá V. V. Phêđorốp và trung đoàn không quân thứ hai gồm các máy bay tiêm kích MIG-21.
Tổng cộng trong 2 năm tôi làm việc tại Việt Nam đã có 8 trung đoàn tên lửa phòng không, 2 trung đoàn không quân và một số đơn vị khác được đưa vào hoạt động.
Các thành viên thuộc Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được đưa sang Việt Nam bằng các chuyến máy bay đặc biệt, gồm các máy bay kiểu IL-18 cất cánh từ sân bay Sơcalốp. Các phi công trên hai máy bay IL-18 ấy là các Trung tá Xukhinin và Mascốp chuyên trách nhiệm vụ chuyên chở các binh sĩ Liên Xô sang Việt Nam. Họ cũng chuyên chở từ Việt Nam về Liên Xô các binh sĩ hết hạn phục vụ ở Việt Nam.
Các phương tiện kỹ thuật và vũ khí được chuyên chở từ Liên Xô sang Việt Nam chủ yếu bằng đường xe lửa qua lãnh thổ Trung Quốc dưới hình thức tháo rời, và một phần được chuyên chở bằng đường biển qua cảng Hải Phòng.
Có một đội ngũ đông đảo các binh sĩ và sĩ quan Quân đội Liên Xô đảm nhiệm công việc lắp ráp các phương tiện kỹ thuật và vũ khí được chuyển tới.
Tôi đặc biệt muốn giới thiệu các phi công quân sự là các Thiếu tá Sêsulin và Xưganốp. Sau khi các máy bay MIG-21 được lắp ráp, họ có nhiệm vụ bay thử những chiếc máy bay này trong mọi điều kiện thời tiết và thời gian trong ngày.
Nhìn chung, khi đánh giá sự giúp đỡ quân sự và kỹ thuật quân sự của Liên Xô dành cho Việt Nam, cần nêu rõ rằng sự giúp đỡ ấy là kịp thời, vô tư và đã góp phần đảm bảo cho nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu vì tự do và nền độc lập của Tổ quốc.