Còn nếu cần giúp đỡ y tế thì đã có các bác sĩ quân y ở bệnh viện quân đội ngay bên cạnh. Trong giờ làm việc họ đã làm những điều kỳ diệu (họ làm phẫu thuật trong hoàn cảnh chiến trường, không có máy Rơn-ghen, mà vết thương lại do bom bi. Đặc thù của vết thương này là, ví dụ bị ở chân, nhưng “viên bi” chỉ dừng “chạy theo xương” ở lồng ngực, ở vai, ở đầu, … Đây là “thao trường” phức tạp nhất của bác sĩ phẫu thuật quân y), còn tối tối thì các bác sĩ giúp đỡ những người anh em xô viết và bạn gái Việt Nam của họ. Giúp được gì là họ giúp tất với tay nghề cao và tấm lòng rộng mở. Những khía cạnh “đạo đức” khác tốt nhất là không bàn đến. Các cán bộ Đảng và luật sư nói gì vào thời đó thì ai cũng rõ. Nhưng về khía cạnh cuộc sống thì đó là một câu chuyện khác, những giá trị khác. Đó là tình yêu và lòng chung thủy của nó.
…Các nhà địa vật lý, địa chất cũng đã tìm thấy dầu ở Thái Bình, còn bao nhiêu mối quan hệ bạn bè chân thành đã nảy sinh giữa chuyên gia Liên Xô và những người bạn gái đã nấu ăn cho họ, đã bảo đảm cho họ những điều kiện bình thường để sống và làm việc theo khả năng của mình. Còn tình yêu, lẽ nào lại là không bình thường? Ai đã từng cống hiến cho Việt Nam thời gian đó không thể tránh được một mối tình ở Việt Nam, ai cũng từng có lần yêu…
Người Liên Xô ở Hà Nội là những người láu cá, có những ý tưởng sắc sảo và khó tin nhất. Ví dụ, các cơ quan Đảng Liên Xô cấm người xô viết đi xe xích lô. Nhưng nếu gặp mưa bão và không có gì để về Kim Liên thì làm thế nào? Chẳng lẽ để những người ở Quảng trường Cũ (nơi Hội đồng nhà nước Liên Xô đóng trụ sở tại Moskva-người dịch) nghĩ đến điều đó? Một người Liên Xô đã nghĩ ra cách lách luật: trả tiền cho người đạp xích lô và ngồi lên yên, để người Việt Nam ngồi vào ghế khách rồi đạp về. Như vậy anh ta không bóc lột sức lao động của người khác và không thể bị phạt vì đã đi xích lô…
Kinh nghiệm này đã đem lại ý tưởng cho một người Nga “không ngựa” ở cơ quan quân sự. Anh thuê xích lô với giá 10 đồng (năm 1967 lương tháng của chuyên gia ở Việt Nam chừng 600 -700 đồng), hứa trả xe sau hai tiếng đồng hồ, mặc quần áo như người Việt Nam, đội chiếc nón nông dân đi đón bạn gái của mình đi chơi đàng hoàng, sau đó hai tiếng đồng hồ trả xe cho người đạp xích lô ở nơi hẹn…Cách này mau chóng được làm theo nhưng sớm hết thời.
Giờ đây, ba mươi năm sau, khi kể lại những chuyện phiêu lưu của “những chàng ngự lâm tình yêu ở Việt Nam thời 67-68”, chúng tôi thường tự hỏi: “ Thế những ““bạn gái chiến đấu”” có phải là “quân chìm” không? Giống như ở Sài Gòn ấy. Ở đó “bướm đêm” đã lập nên chiến công của mình. Một phụ nữ yêu nước nổi tiếng – chiến sĩ quân đội giải phóng nhân dân đã giao du với người Mỹ và làm lây bệnh giang mai cho hàng chục sĩ quan Mỹ. Còn bao nhiêu tên lính đã bị tan xác bởi những quả mìn của những phụ nữ lả lơi, những người vẫn nguyên nữ tính ngay cả khi sử dụng thuốc nổ?
|