Thày trò Giucopski xuyên Việt
(tiếp theo)
Đoàn rời Mũi né đúng kế hoạch, chúng tôi cứ nhằm đường mới ven biển mà đi. Đường mới rất tốt, xe chạy nhanh. Hai bên đường có trồng những bụi hoa đẹp và bãi cỏ xanh rất nên thơ. Xung quanh toàn đồi cát như sa mạc, phía xa nữa là biển xanh ngắt. Xe chạy qua khu vực Bàu sen, bà Vera, đi cùng xe với tôi, lại được một phen trầm trồ về loại hoa mà bà ưa thích. Khi xe qua khỏi đoạn nước khoáng Vĩnh hảo, đi sát mép biển vùng Cà ná thì bà Vera hết lời khen ngợi phong cảnh ở Việt nam không nơi nào có. Bà đã đi du lịch nhiều nước trên thế giới nên so sánh rất thật lòng. Khi đoàn nghỉ ăn trưa ở Cà ná thì cả ba thầy cô giáo tranh nhau kể những gì mình thấy dọc đường (chúng tôi bố trí mỗi người ngồi một xe).
Suốt hành trình từ Sài gòn đi Nha trang chúng tôi liên tục nhận các cuộc gọi từ khắp nơi hỏi thăm sức khỏe của các thầy cô, tình hình đi đường. Dọc đường chúng tôi giới thiệu về cách làm muối biển, các ruộng nho và hành tỏi ở Phan Rang, khu Ba tháp Chàm đang được trùng tu, các ao tôm, vườn xoài ở vùng Cam ranh. Khi đi qua bán đảo Cam ranh, nghe kể về Việt nam xuất khẩu cát trắng bà Vera rất tò mò. Tôi nói ở Việt nam có nghệ nhân làm tranh bằng cát màu tự nhiên không dùng hóa chất làm bà Vera càng ngạc nhiên hơn nữa. Bằng chứng thật hiển nhiên cát đỏ, vàng ở Mũi né, cát trắng tinh ở Cam ranh và ở nhiều nơi khác nữa. Tranh bằng đá quý bà đã biết, nhưng bằng cát thì rất hiếm. Tượng đài chiến sĩ hải quân Xô viết khánh thành cách đây không lâu cũng làm cho câu chuyện của chúng tôi trên xe càng thêm sôi nổi. Xe chạy theo đường mới từ Cam ranh về Nha trang dọc theo bờ biển, sau mỗi khúc cua lại mở ra khung cảnh mới. Tôi đề nghị mọi người dừng xe tạm nghỉ một chút ở bãi xe bên đường để chụp ảnh. Mọi người rất vui, thi nhau chụp chung và chụp riêng. Ông Kostenko ví đường dọc biển ngoằn ngoèo như đường lên núi tới nhà nghỉ Thung lũng đẹp (Красная поляна) ở biển Đen. Xe đi tiếp qua khu tổ chức thi Hoa hậu thế giới, mọi người đều công nhận với cảnh đẹp thế này thì đây là nơi tổ chức lý tưởng.
Hơn 5 giờ chiều, đoàn xe đi vào cổng Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga. Các học viên Giucôpski ở đây đã quân phục chỉnh tề, với nụ cười trên môi và hoa tươi thắm, xếp hàng đón đoàn. Các thầy cô hơi lúng túng vì bất ngờ, nhưng sau đó mọi chuyện trở nên thân mật như trong gia đình, và ai cũng thấy thoải mái hơn. Tối hôm đó đoàn giao lưu với học viên Giucôpski ở khu vực Nha trang. Lúc đầu bác Minh, học cùng khóa với bác Khôi, đọc lời chào mừng đoàn rất hoành tráng. Sau đó Ban giám hiệu trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật không quân (SQCHKTKQ) Nha trang cũng phát biểu và mọi người cùng hát những bài ca yêu thích bằng tiếng Nga. Tôi rất bất ngờ khi biết khóa các bác Khôi, Minh đều là hạt giống văn nghệ của học viện Giucôpski năm xưa. Trong lần đi chơi ở công viên, đang mặc quân phục, các bác đã từng xung phong lên sân khấu, biểu diễn những bài hát Nga, sau đó lặng lẽ rút nhanh trong tiếng hoan hô của khán giả yêu cầu hát lại.
Sáng hôm sau, ngày 12.1.2010, đoàn đi thăm Trường SQCHKTKQ. Trong buổi tiếp thân mật, hiệu trưởng nhà trường đã tặng ông Kostenko huy hiệu phi công Việt nam, làm ông rất cảm động. Ngoài ra mỗi thành viên trong đoàn còn được tặng huy hiệu kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Trong nắng sớm rực rỡ, đoàn chụp ảnh lưu niệm cùng với toàn thể ban giám hiệu nhà trường, học viên Giucôpski và thầy cô giáo dạy Nga văn của trường. Đây là một trong những bức ảnh đẹp nhất của đoàn chụp trên nền chiếc máy bay L-39 – biểu tượng của nhà trường.
Sau khi rời trường, đoàn đi thăm tháp Bà Pônaga. Một điều may mắn là hôm đó trên tháp có đội múa của người Chăm. Sau khi trao đổi, chúng tôi mời họ biểu diễn cho đoàn xem. Các cô gái Chăm duyên dáng trong tà áo dài dân tộc màu hồng trình bày những điệu múa đặc sắc hòa theo nhịp trống. Họ mời các bà giáo vào múa chung, bà Vera ngại ngùng đứng ngoài, trong khi bà Alla bước vào múa chung với các cô gái. Bà múa khá dẻo, dáng vóc to cao của bà nổi bật giữa đám con gái yểu điệu thướt tha. Khách tham quan xúm quanh đông nghẹt, vỗ tay hưởng ứng rào rào. Đến điệu múa đội bình lấy nước thì bà Alla bước ra ngoài, cười rất tươi và thích thú. Những tấm ảnh chụp bà Alla múa ở đây và khi bà đứng trên máy bay Su-30 ở Biên hòa được bà đặc biệt nâng niu. Để hồi phục sức khỏe và giới thiệu cảnh quan núi rừng Nha trang, chúng tôi mời đoàn đi tắm bùn. Vì có thông báo trước trong chương trình nên mọi người rất háo hức. Cảnh vật thật tươi đẹp, không gian yên tĩnh, lảnh lót tiếng chim, hoa nở khắp nơi, tiếng nước chảy róc rách, xa phía dưới là dòng sông Cái chảy hiền hòa. Mọi người tản ra theo loại hình tắm bùn, mát xa, tắm khoáng tự chọn. Điểm tập kết cuối cùng sẽ là hồ khoáng nóng, ở đó có thể nằm nghỉ, bơi lội, có cả kem và các loại nước giải khát. Khách du lịch nước ngoài khá đông, trong đó không ít người nói tiếng Nga. Tôi lại có việc làm khi nhân viên phục vụ nhờ dịch những lời nhận xét của người Nga về chất lượng dịch vụ. Nhân viên ở đây cũng có người nói tiếng Nga, nhưng khi đọc chữ viết tay thì họ gặp khó khăn. Tôi vui vẻ giúp với hai phương án: dịch theo nghĩa bóng – lịch sự và theo nghĩa đen – chính xác. Kèm theo có hỏi qua bà Vera về nội dung nhận xét. Nhân viên ở đây rất cầu thị, họ nhờ tôi dịch cả hai phương án, và cảm ơn chân thành. Bữa trưa được tổ chức nhanh gọn, và đơn giản. Đây là chủ ý của tôi đã được bác Khôi thông qua, lý do là đoàn dự cơm chiêu đãi nhiều bữa rồi, và tối nay Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga do giám đốc là Trần Thanh Quang – học viên Giucôpski mời cơm. Trước khi ra về, đoàn chụp ảnh lưu niệm khu tắm bùn. Chúng tôi in tặng mỗi thành viên trong đoàn một kiểu ảnh trên tranh lụa có lịch 2010. Các thầy cô giáo rất thích món quà này. Bà Vera nói: chuyến đi này như trong chuyện cổ tích, chỉ có một lần trong đời, bà sẽ treo tấm lịch-ảnh này trong phòng khách để khoe với mọi người. Tôi liền trả lời: các thầy cô cứ yên tâm, khi nào hết ngày trên tấm lịch - ảnh này, chúng ta sẽ gặp nhau và làm lại lịch mới. Mọi người đều cười vui vẻ tràn đầy niềm hy vọng.
Buổi chiều đoàn đi dạo bờ biển Nha trang thì có điều thú vị bất ngờ. Hai cựu học viên Giucôpski là Hồ Quang Vinh và Vũ Hồng Quang kết hợp công tác bay từ Hà nội vào gặp đoàn. Thầy trò gặp nhau vui khôn xiết. Điều đặc biệt là Vinh mang theo mấy tấm ảnh cũ còn lưu giữ được. Đây là những tấm ảnh quý và hiếm, trong đó chụp Vinh ở giữa ông Kostenko và bà Vera, nhân dịp Tết Việt nam. Vinh ghi chú ở dưới là bố, mẹ và tôi. Mà đúng như vậy, xem ảnh ai cũng công nhận đây là gia đình hạnh phúc. Lần này Vinh cũng đòi chụp lại cảnh ba người cùng nhau, mọi người đều cười vui khi tôi nói: con trai gì mà đầu bạc bằng bố. Ở mép nước ông Kostenko đòi xuống bơi, tôi phải can mãi vì lúc đó đã muộn, gần 6 giờ chiều, sóng rất mạnh. Thế là chúng tôi xắn quần, tay xách dép đi bộ dọc theo mép sóng cứ như thời niên thiếu. Ông Kostenko bị sóng tạt ướt cả quần, nên cố ý xoay người để che khi gặp lại hai bà giáo. Trong bữa tối, giám đốc Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga và các học viên Giucôpski ở Nha trang tặng các thầy cô những bức tranh lụa thêu hình bông sen có con chuồn chuồn. Mọi người rất thú vị với món quà, ông Kôstenko nói vui: chuồn chuồn của hai mađam rất đẹp, nhưng của tôi là chuồn chuồn chiến đấu. Quả thật trên bức tranh của ông là con chuồn chuồn lửa đỏ chói, còn của hai bà có màu xanh và vàng. Trong mọi tình huống ông Kôstenko luôn có những nhận xét hóm hỉnh và tinh tế. Sau bữa ăn bà Vera mời vợ chồng tôi về phòng mình uống trà theo kiểu Nga. Chúng tôi định từ chối vì mệt nhưng sau thấy bà Vera nhiệt tình nên cùng về phòng của bà. Bà Vera vui vẻ pha trà có hai cháu gái – phiên dịch của Trung tâm phụ giúp. Bà Alla và ông Kostenko cũng sang cùng uống trà. Khi mở hộp kẹo sôcôla và bánh quy, bà Vera mới bật mí - hôm nay là kỷ niệm ngày cưới của bà. Mọi người ngạc nhiên và thi nhau chúc bà luôn trẻ đẹp. Hai cháu gái dù nói tiếng Nga chưa giỏi cũng rất ngạc nhiên và hỏi về những kỷ niệm của bà Vera hồi đó. Sau những bữa chiêu đãi nhộn nhịp, buổi uống trà trong không khí gia đình như thế này rất ấm cúng, giúp mọi người phần nào hiểu rõ nhau hơn.
Theo kế hoạch ban đầu, vợ chồng tôi sẽ tháp tùng đoàn đi tiếp ra Đà nẵng, Huế và Hà nội. Nhưng do bị đau lưng nên tôi đề nghị bác Khôi giao cho vợ chồng Triệu Chung cùng với tôi tháp tùng đoàn đi tiếp ra Bắc. Quyết định này rất có hiệu quả khi Trần Quang Hoàn phó giám đốc nhà máy A32 ở khu vực Đà nẵng thông báo với tôi không thể cùng với đoàn đi Huế được vì lý do công tác.
Sáng 13.1.2010 đoàn chia tay vợ chồng bác Kim Khôi và khởi hành đi sân bay Cam ranh. Theo tiễn đoàn đến tận sân bay có hai người của trường SQCHKTKQ Nha trang là các đồng chí Thụ và Hưng. Chúng tôi làm thủ tục nhanh chóng và chia tay với Thụ và Hưng. Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, không ai để ý có đám mây to xuất hiện và lớn dần. Bà Vera nói hôm nay thế nào cũng mưa vì bà cảm thấy thế. Chúng tôi trấn an bà và cũng là tự trấn an mình là mưa ở đây rất mau tạnh, không ảnh hưởng đến chuyến bay. Gió mạnh dần, mưa ào tới và đúng như dự đoán, chỉ kéo dài khoảng 30 phút. Đất cát khô nhanh, mọi người có vẻ phấn chấn, Hoàn từ Đà nẵng gọi điện vào liên tục hỏi giờ máy bay cất cánh để tổ chức đón tiếp. Theo kế hoạch, trưa hôm đó Hoàn sẽ đón đoàn về khách sạn nghỉ, chiều sẽ đi thăm Hội an. Riêng vợ chồng tôi sẽ dự cơm trưa cùng với đoàn công tác đi Bêlarut năm 2008 của nhà máy A32. Chính vì vậy mà trong thời gian chờ máy bay ở sân bay Cam ranh, điện thoại từ Đà nẵng gọi vào liên tục. Mọi người ở Cam ranh và Đà nẵng đều sốt ruột khi biết máy bay bị trục trặc kỹ thuật, ông Kostenko vẫn nói đùa: sao họ không mời chúng ta giúp nhỉ, đây có mấy kỹ sư hàng không đang sốt ruột và sẵn lòng giúp đỡ. Cũng may là có anh bạn điển trai giúp tôi trong suốt quá trình từ làm thủ tục bay đến trò chuyện cùng các thầy cô trong khi chờ đợi. Tôi lấy giấy bút nhờ các thầy cô viết cảm tưởng về chuyến đi, ba người tranh luận sôi nổi, sau ông Kostenko được đề nghị chờ bên ngoài trong khi hai bà viết. Đây cũng là một cách rút ngắn thời gian chờ đợi. Phải công nhận rằng người Nga có tính kiên trì chờ đợi đáng khâm phục, không làm mếch lòng chủ nhà, có lẽ do thời bao cấp được rèn luyện xếp hàng quá nhiều chăng! Chúng tôi cùng ông Kostenko ôn lại kỷ niệm về cảnh chờ đợi máy bay ở sân bay Adler, Xôtri trong những kỳ nghỉ ở biển Đen. Cũng cảnh chậm máy bay, ngủ vạ vật ở sân bay suốt đêm. Từ đó câu chuyện lại lan sang các kỷ niệm khác. Hai bà giáo thấy vui cũng tham gia câu chuyện. Những buổi thi bơi lội, trò chơi vận động, hát hò văn nghệ, khiêu vũ, cách làm quen với các cô gái, nấu ăn trong khi đi picnich v.v... của chúng tôi thời đó làm các bà giáo rất ngạc nhiên. Các bà nói đến tận bây giờ mới hiểu tại sao sau mỗi kỳ đi nghỉ cùng ông Kostenko về, tiếng Nga của chúng tôi lại tiến bộ vượt bậc như thế. Tôi trả lời: tất cả đều là nhờ được tôi luyện trong lò của ông Kostenko (школа Костенко) mà ra. Các bà giáo tròn mắt khâm phục, còn ông Kostenko nhún vai mỉm cười tự hào sung sướng: tôi chỉ dạy họ những gì cần thiết! Thời gian cứ thế trôi đi. Bữa liên hoan đón vợ chồng tôi của đoàn Bêlarut phải tiến hành mà không có khách vì chiều anh em còn phải đi làm. Qua điện thoại anh em nhà máy nâng ly chúc đoàn mau cất cánh thuận buồm xuôi gió. Lời chúc của họ quả là linh nghiệm, đến gần 13 giờ máy bay chúng tôi cất cánh trong tiếng thở phào nhẹ nhõm của bao người.
Đón đoàn ở sân bay Đà nẵng có Hoàn cùng một bác sĩ của nhà máy. Mặc dù đã được thông báo từ trước về sức khỏe của các thầy cô giáo rất tốt, nhưng Hoàn vẫn cẩn thận đưa bác sĩ theo đoàn với lý do thời tiết ngoài Đà nẵng bắt đầu lạnh, có mưa, sợ các thầy cô không quen. Khi nghe giới thiệu như vậy các thầy cô rất cảm động. Vì máy bay chậm, tôi đề nghị Hoàn đưa đoàn đi Hội an luôn, và giải phóng cho bác sĩ về nhà máy. Tháp tùng đoàn ra đến Đà nẵng, tôi nghĩ mình sẽ nhàn hơn, có thể nghỉ ngơi chút ít cho đỡ mệt vì Hoàn nói tiếng Nga rất tốt. Dọc đường đi Hội an vừa giới thiệu phong cảnh dọc đường Hoàn vừa kể chuyện tiếu lâm và ôn những kỷ niệm xưa. Ông Kostenko lại có dịp tự hào về những gì đã truyền cho lũ học trò quậy phá của mình năm xưa. Trong tiếng Nga tên gọi thân mật của bà Vera là Veruntrich, và bà rất thích khi được gọi như vậy. Tôi tiết lộ điều này với Hoàn và anh chàng này không bỏ lỡ dịp may, liên tục gọi bà Vera bằng tên Veruntrich làm bà này cười đỏ mặt sung sướng. Bà để tay lên ngực, ngước mắt lên mơ màng và nói: mỗi khi nghe gọi tên Veruntrich là tim tôi lại tan chảy ra thành nước. Quả thật cách nói chuyện của Hoàn rất có duyên và tự nhiên. Hoàn gọi các thầy cô bằng cha mẹ và xưng con thân mật như người trong nhà. Thật ra hôm đó chờ chúng tôi lâu quá, anh chàng này có uống tí chút nên nói tiếng Nga rất dẻo. Các thầy cô giáo cứ cười suốt dọc đường, quên hết những nỗi buồn phiền khi bị chậm máy bay. Đến nỗi bà Alla phải thốt lên: chưa bao giờ chúng tôi vui và cười nhiều như thế này, ông Kostenko, ông đã truyền cho họ những bí quyết gì thế? Ông Kostenko nhún vai cười tủm: đó là bí mật của chúng tôi.
Đoàn đến Hội an đã hơn ba giờ chiều, rất may trời khô ráo, không mưa. Chúng tôi thuê người hướng dẫn du lịch trong 2 giờ đi 5 điểm tham quan. Có chi tiết bất ngờ xảy ra. Khi chúng tôi thuê mỗi người một xe xích lô đi tham quan, ông Kostenko nhất định không chịu lên xe. Ông bảo: tôi còn trẻ khỏe, không cần ngồi xe. Sau nghe tôi giải thích thời gian tham quan ít, đi bằng xích lô sẽ thú vị hơn và tất cả mọi người cùng đi thì ông lại tỏ ra rất thích thú, lấy máy ảnh ra chụp lia lịa. Các bà giáo thì khỏi phải nói, ngồi trên xích lô cứ ngoái sang nhau nói chuyện và cười suốt. Trên đường đi tôi giải thích cho Hoàn về phản ứng của ông Kostenko. Ông Kostenko có đứa cháu trai bị liệt phải ngồi xe lăn, ông không thích điều đó, mặt khác ông không muốn mình bị coi là già yếu phải ngồi xe trong khi mọi người đi bộ được. Hoàn có vẻ suy nghĩ nhiều về điều này.
Ở Hội an khách du lịch rất đông, trong đó nhiều người đi du lịch kiểu ba lô. Đoàn đi tham quan Hội quán Phúc kiến, chùa Cầu, nhà cổ, bảo tàng văn hóa Sa huỳnh. Trong quá trình tham quan tôi và anh bạn điển trai phải tham gia phiên dịch cùng với Hoàn vì mọi người thỉnh thoảng lại tản ra chụp ảnh và có những câu hỏi riêng. Khi nghe tôi kể về nhang vòng có gắn những miếng giấy ghi điều ước, ông Kostenko hỏi lại với ánh mắt đầy hy vọng: những điều ước có linh nghịêm không vì ông muốn ước cho cháu mình khỏi bệnh? Tôi giải thích: mỗi vòng nhang cháy hết trong khoảng 1 tháng và theo truyền thuyết thì điều ước có linh nghiệm. Ông Kostenko liền đưa tiền nhờ thắp cho cháu ông một vòng nhang, tôi nhờ người viết hộ ông lời ước để gắn kèm. Bà Alla cùng vợ tôi vào bàn thờ mười hai bà mụ để khấn vái cầu may. Khi tham quan nhà cổ, bà Alla mua ngay bộ khăn trải bàn và mười hai khăn thêu tay rất đẹp mà không trả giá. Ông chủ nhà giới thiệu rất nhiệt tình và mời đoàn uống trà. Mọi người đều khen trà ngon và thơm. Chúng tôi chụp ảnh lưu niệm bên chùa Cầu vì đây là địa điểm nổi tiếng nhất của Hội an. Trong quá trình tham quan anh bạn điển trai được phân công chụp ảnh tự do mọi hoạt động của đoàn. Sau này về chúng tôi tuyển lựa được khá nhiều ảnh đẹp, sinh động – anh bạn này kể ra cũng có khiếu về mặt này.
Đoàn về đến Đà nẵng đã hơn sáu giờ. Chúng tôi nhận phòng, thay trang phục và sau 30 phút lên xe đi dự giao lưu với các học viên Giucôpski ở khu vực Đà nẵng. Trong số học viên Giucopski ở đây có một bác tay đã run, mang theo một số ảnh cũ, tự giới thiệu đã 80 tuổi. Khi biết ông Kostenko hôm nay tròn 82 tuổi, hai người liền ôm nhau thân thiết trong tiếng vỗ tay của mọi người. Sau lời chào mừng, mọi người nâng ly rượu chúc mừng sinh nhật ông Kostenko. Ông Kostenko có mang theo chai rượu Beluga từ Nga sang để dùng cho dịp này. Các bà giáo tặng hộp kẹo sôcôla. Trong bữa ăn, qua những tấm ảnh cũ mang theo, mọi người hỏi thăm về những thầy cô giáo cũ của học viện. Các thầy cô kể về những nơi đã tham quan, các cuộc đón tiếp trước đó. Buổi giao lưu diễn ra trong bầu không khí thân mật ấm cúng, mặc cho ngoài trời đang mưa lạnh. Khi về lại khách sạn, tôi liên lạc với số anh em của nhà máy A32 và mời mọi người đi uống trà Cung đình – một nét đặc sắc của Đà nẵng trong tối se lạnh này. Tối hôm đó, mưa đã tạnh, các thầy cô được anh bạn điển trai chụp cho mấy kiểu ảnh bên bờ sông Hàn, phía xa là chiếc cầu quay nổi tiếng của Đà nẵng. Trong quán trà chúng tôi gọi cho mỗi người một tách. Gọi là trà Cung đình cho hay, thực ra đó chính là một tách hỗn hợp các dược liệu có nắp đậy. Tách này kiểu cổ, giống như trong phim cổ trang của Trung quốc. Chỉ việc chế nước sôi vào hãm khoảng 15-20 phút là uống được. Ai muốn uống ngọt hơn thì cho thêm mấy viên đường phèn. Uống cạn thì chế thêm nước sôi, cứ như thế tiếp tục, có thể ăn cả thảo dược – là các loại trái cây, củ, rễ sấy khô, có sao tẩm đặc biệt. Vào ngày khô ráo, ngồi ở lầu bát giác, trong khu vườn có khung cảnh hữu tình, tiếng nhạc êm dịu thì hương vị của tách trà sẽ hay hơn rất nhiều. Vào đêm lạnh và muộn thế này, chúng tôi ngồi trong nhà nên hiệu quả của tách trà giảm bớt đi phần nào thi vị. Hôm nay bàn trà được bày thêm mứt gừng, các loại bánh đậu xanh nhân đậu đen và bánh đậu đen nhân đậu xanh, hạt hướng dương. Sau khi giới thiệu về trà Cung đình và cách thưởng thức, tôi tuyên bố đây là một cách mừng sinh nhật ông Kostenko của riêng chúng tôi, không đâu có. Các thầy cô đều công nhận là lần đầu tiên được dự sinh nhật kiểu này. Mọi người vừa học cách uống trà vừa cười vui vẻ vì tôi hướng dẫn cách thưởng thức phải đúng điệu, như trong phim. Sau ngụm trà đầu tiên, cuộc phỏng vấn diễn ra sôi nổi. Vợ tôi vốn là dược sĩ, ít nói nhưng lần này tham gia như chuyên gia tư vấn, mô tả về tên gọi, công dụng của các loại dược liệu. Mọi người nghe chăm chú và lần lượt nhấm thử. Chờ cho mọi người bàn tán hồi lâu, tôi mới đưa ra so sánh: trà Cung đình cũng giống như nước trái cây khô ở bên Nga. Chỉ khác là bên Nga các loại trái cây khô theo công thức được nấu như chè Việt nam, còn trà Cung đình thì hãm trực tiếp bằng nước sôi và uống khi còn nóng. Anh bạn điển trai ghé tai ông Kostenko thì thầm: trong tách trà của ông có nửa liều Viagra. Ông Kostenko cũng không vừa, đáp lại ngay: thảo nào, nãy giờ tôi không sao đứng dậy được. Bà Vera hỏi nhiều về công dụng trẻ lâu, làm đẹp da và kể so sánh về một số công dụng của các loại trái cây bên Nga. Chúng tôi về đến khách sạn đã gần 11 giờ đêm.
Sáng hôm sau, 14.01.2010, khi chúng tôi lên ăn sáng ở tầng 9 của khách sạn đã thấy Hoàn đang chờ cùng với vợ và hai con trai. Khi Hoàn giới thiệu, hai cậu con trai lớn tướng của Hoàn vẫn khoanh tay chào các ông bà rất lễ phép như chào ông bà nội vậy. Các thầy cô chụp ảnh chung với cả nhà Hoàn như đại gia đình lớn. Hoàn nói sẽ mang ảnh này đi khoe với hội ở Hà nội. Sau bữa sáng, nhà máy A32 đưa ba thầy cô sang mấy tiệm gần đó để mua tặng áo lụa cho các thầy cô. Đây cũng là ý kiến góp ý của tôi khi Hoàn hỏi nên tặng các thầy cô quà gì. Đúng ra khi đi chợ Bến Thành ở Sài gòn các thầy cô không tìm được áo lụa tơ tằm ưng ý.
Đoàn khởi hành đi Huế không có Hoàn tháp tùng vì bận công việc, thay vào đó chúng tôi được bổ sung thêm anh bạn Thuận, phiên dịch chính của nhà máy, rất có kinh nghiệm trong các chuyến tham quan cố đô Huế. Trên đường đi, Thuận giới thiệu thành phố Đà nẵng đang phát triển nhanh, có nhiều công trình đặc sắc. Ví như chiếc cầu quay là điểm độc đáo trong kiến trúc. Ở bên Nga có các cầu mở lên về đêm ở thành phố Lêningrat, nhưng cầu quay thì chưa có. Tôi có kể cho mọi người nghe ý tưởng của một cậu bé 14 tuổi người Lêningrat về làm cầu quay đã từng được giải thưởng sáng tạo trẻ của Liên xô. Cậu ta tận dụng lực đẩy của dòng nước sông Nêva để quay cầu, còn ở Đà nẵng sử dụng động cơ điện để quay. Khi xe chạy dọc đường Nguyễn Tất Thành – con đường được coi là đẹp nhất Đà nẵng, vẫn còn đó dấu vết tàn phá của cơn bão gần đây. Vỉa hè bị phá hỏng, thậm chí một con tàu bị sóng đánh dạt vào bờ vẫn còn nằm nguyên, không đưa trở lại biển được. Xe đi qua hầm Hải vân, mọi người lại có dịp kể chuyện về hệ thống tàu điện ngầm của Matxcơva. Khi ra khỏi hầm, trước mắt mọi người mở ra khoảng không bao la tuyệt đẹp, cả đoàn thốt lên những tiếng trầm trồ về phong cảnh Lăng Cô. Đoàn định dừng lại chụp ảnh, nhưng vì đang trên làn đường cấm dừng nên mọi người chỉ chụp được quang cảnh trong khi xe đang chạy. Chuyến đi Huế lần này đoàn không gặp may, qua khỏi Lăng Cô một đoạn trời cứ mưa suốt cho đến tận Huế.
Đoàn nghỉ tại khách sạn Vĩ dạ, nhìn ra sông Hương thơ mộng. Lúc này trời đã tạnh mưa, phong cảnh sông Hương thanh bình với bến thuyền của thôn Vĩ dạ ấm cúng lạ. Xa xa cầu Tràng tiền vắt qua sông Hương với những vòm cong đặc trưng của riêng mình. Chuyến tham quan cố đô Huế bắt đầu lúc 13 giờ. Hành trình gồm có các điểm tham quan như Thành nội, chùa Thiên mụ, lăng Khải định. Anh bạn Thuận tỏ ra khá thông thạo khi hướng dẫn và thuyết minh cho đoàn những điểm đặc trưng của cố đô Huế. Khi giải thích về tên gọi chùa Thiên Mụ, Thuận nói tiếng “Mụ” ở đây không phải là bà mụ đỡ đẻ như nhiều người vẫn nghĩ, mà chỉ người phụ nữ theo cách nói của người miền Trung. Chỗ này hơi khó giải thích bằng tiếng Nga, vì bà Mụ đỡ đẻ và người phụ nữ (bà) không trùng âm. Tôi có liên hệ tên gọi Phnôm Pênh – thủ đô của Cămpuchia, cũng có nguồn gốc tương tự như chùa Thiên Mụ. Phnôm tiếng Khơme là đồi, Pênh là tên bà Pênh. Phnôm Pênh là đồi bà Pênh – người phụ nữ trong truyền thuyết của người Khơme. Từ trên chùa Thiên Mụ nhìn xuống sông Hương thơ mộng, những con thuyền thong thả ngược xuôi, trong đó có những chiếc thuyền rồng đưa du khách ngắm cảnh, các thầy cô giáo rất thích thú và hỏi trong chương trình có ghi đi thuyền trên sông nghe hò Huế. Tôi khẳng định chắc chắn có và tối nay cả đoàn sẽ đi. Mọi người ồ lên vui vẻ.
Sau bữa tối, khoảng 8 giờ, nhà thuyền đã cho người lên đón đoàn. Trên đường đi, tôi đề nghị Thuận giới thiệu về thôn Vĩ dạ, về Đập Đá ... những địa danh nổi tiếng của Huế trong các bài hát, thơ ca, điệu hò từ ngàn đời nay. Thuận lấy làm ngạc nhiên, nhìn tôi có ý hỏi. Khi nghe tôi giải thích đây là những điểm du lịch và địa danh có trong các điệu hò xứ Huế, giới thiệu bây giờ vừa hay hơn, chút nữa xuống thuyền, đông người, ồn ào tiếng nhạc làm sao giải thích cho hết được cái hay của hò Huế, thì Thuận nhất trí ngay. Đêm sông Hương se lạnh, lung linh trong ánh đèn đôi bờ. Thuyền rồng là hai chiếc thuyền ghép lại, có khán phòng nhỏ, xung quanh là vách kính. Thuyền được máy đẩy ngược dòng, sau tắt máy thả trôi tới gần cầu Tràng tiền thì lại chạy ngược dòng. Cứ như vậy trong khoảng một giờ đồng hồ - suất diễn. Khách ngồi ở mấy hàng ghế nhựa, tôi lo lắng bảo anh bạn điển trai kiểm tra kỹ kẻo ghế yếu, mấy thầy cô mà bị té thì gay. Các ca sĩ xinh đẹp biểu diễn ở khoảng trống trước các hàng ghế. Trong số năm ca sĩ, cô mặc áo dài màu tím Huế có dáng vẻ trẻ trung nhất. Bà Alla hỏi về những tiếng đệm nhịp lách cách phát ra từ những chiếc tách trong tay các cô gái. Ông Kostenko mải lo chụp ảnh các ca sĩ. Khi anh bạn điển trai hỏi ông thích cô nào nhất, ông liền trả lời thích cả năm cô. Điệu hò Giã gạo do hai ca sĩ một nam và một nữ hò đối đáp rất hay. Vẻ mặt của nam ca sĩ này rất hài hước, ngồ ngộ, nên trong lời hò đối đáp hiệu quả mang lại thật không ngờ. Tiếng vỗ tay tán thưởng vang lên liên tục. Chúng tôi dịch lại lời câu hò, tất nhiên trong tiếng ồn ào, không thể lột tả được hết cái tinh túy, trào phúng của câu hò, nhưng cũng làm các thầy cô giáo vỗ tay khen ngợi. Tiếng máy nổ âm thầm đưa dần thuyền về bến, nhà thuyền mời mọi người thả đèn hoa đăng cầu may. Anh bạn điển trai nhanh nhẹn mua luôn mười cái, chia cho mọi người. Đèn hoa đăng hình bông sen, làm bằng giấy, gắn một mẩu nến cháy lấp lóa. Theo phong tục, sau khi nghe hò Huế trên sông, mọi người nói điều ước của mình và thả đèn xuống sông Hương. Điều ước sẽ thành hiện thực tùy vào tâm linh của mỗi người. Tôi giải thích điều này cho các thầy cô giáo nghe và mọi người đều thả đèn. Anh bạn điển trai nhanh tay chụp liền mấy kiểu ảnh. Thuyền cập bến, mọi người vẫn ngoái nhìn vệt sáng của đèn hoa đăng lấp lánh trôi xa dần.
Trên đường về lại khách sạn Vĩ dạ, mọi người sôi nổi nói cảm tưởng của mình. Bà Vera nói: thật không bao giờ có thể tưởng tượng có một buổi tối đi thuyền thú vị như vậy, tôi sẽ kể cho nhiều người nghe và họ sẽ không thể tin nổi. Bà Alla cười suốt và liên tục cảm ơn chúng tôi về buổi tối có một không hai này. Ông Kostenko mở máy ảnh của mình ra khoe và khen tất cả các cô gái đều xinh đẹp và hát hay múa giỏi. Anh bạn Thuận nói chưa bao giờ gặp đoàn khách vui vẻ đến thế.
(còn tiếp)
|