View Single Post
  #236  
Cũ 26-02-2013, 23:08
trung_mbdc trung_mbdc is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Feb 2013
Bài viết: 29
Cảm ơn: 81
Được cảm ơn 50 lần trong 22 bài đăng
Default

Thầy trò Giucôpski xuyên Việt.

“Thiên thần của tôi ơi. Hãy đi cùng tôi. Mi đi trước. Ta theo ngươi - Ангел мой. Пойдешь со мной. Ты вперед. Я за тобой”. Câu khẩu chú dễ thương này của bà giáo Vera mỗi khi bước xuống xe đã theo chúng tôi suốt hành trình xuyên Việt đầy thú vị và những kỷ niệm khó quên.
Ngày 8.1.2010, sau khi đón được các thầy cô ở sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi rất mừng khi thấy mọi người đều khỏe mạnh và vui vẻ. Đó là điều bất ngờ thú vị đầu tiên – không ai trong chúng tôi có thể hình dung các thầy cô của mình ở tuổi “xưa nay hiếm” lại khỏe mạnh như thế. Người lớn tuổi nhất là ông Kostenko – 82 tuổi, sau đến bà Alla – 71 tuổi và người trẻ nhất là bà Vera – 65 tuổi. Ai có thể ngờ được, sau đó hai ngày, tại một đơn vị không quân, chúng tôi được chứng kiến bà Alla to, nặng trên 80 kg, đã trên 70 tuổi lại trèo được lên thang máy bay chiến đấu Su-30 hiện đại nhất Việt nam cao hơn 3 m để chụp ảnh. Chúng tôi như cất được gánh nặng vì theo kế hoạch đã bố trí bác sĩ theo đoàn những ngày ở Việt nam.
Câu khẩu chú của bà Vera được giải thích như sau: khi sinh ra, mỗi người đều được một thiên thần bảo trợ mọi lúc mọi nơi. Vì vậy trước khi làm gì nên đọc khẩu chú để được thuận buồm xuôi gió. Và vẫn như xưa, tôi lại lật vấn đề (ставить вопрос ребром): thế những người làm điều ác có được thiên thần bảo trợ không? – tất nhiên khi đó thiên thần sẽ bỏ đi, bà Alla trả lời cũng cùng một cách nói. Và cứ như vậy, suốt dọc đường về khách sạn Tân Sơn Nhất, bằng những câu tục ngạn ngữ Nga, tôi làm sống dậy những kỷ niệm về bao nhiêu trò quậy phá của chúng tôi thời đó.
Các thầy cô rất ngạc nhiên và nhận xét: các học trò của mình còn nói tiếng Nga rất tốt và hầu như không quên nhiều sau ngần ấy năm xa cách. Khi tôi nói đó là nhờ công lao dạy dỗ của các thầy cô từ thời đó thì họ chỉ công nhận một phần – họ đặt nền móng kiến thức ban đầu cho chúng tôi, còn lại là cuộc sống – trường đời đem lại.
Thực tâm mà nói, mời được các thầy cô giáo sang thăm Việt nam là tâm nguyện của biết bao thế hệ học viên Học viện kỹ thuật không quân Giucôpski. Từ những người đã học ở đó từ những năm 1956 đến người tốt nghiệp gần nhất vào năm 1991 đều có chung một nguyện vọng như vậy. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau khách quan và chủ quan đến nay giấc mơ mới thành hiện thực.
Theo chương trình tối hôm đó các thầy cô sẽ thăm nhà máy A41 và tham dự buổi giao lưu với các cựu học viên Giucôpski khu vực phía Nam ở khách sạn Park Royal do nhà máy A41 tài trợ. Những hình ảnh thầy cô cảm động khi gặp lại các trò yêu của mình sẽ được lặp lại trên mỗi bước đường trong hành trình xuyên Việt. Những khuôn mặt tươi cười, sung sướng của các thầy cô ngập chìm trong những bó hoa tươi thắm do học trò tặng. Trong buổi thăm và tiếp xúc với lãnh đạo nhà máy A41, mà ba trong năm người chủ chốt – giám đốc và hai phó giám đốc – đều tốt nghiệp Học viện Giucôpski, chủ nhà và khách chỉ toàn nói bằng tiếng Nga. Ban đầu tôi còn phải dịch một số lời phát biểu, về sau tình cảm chan hòa, mọi người chuyện trò vui vẻ trực tiếp nên vai trò của phiên dịch cũng không còn cần cần thiết nữa.
Lần sang Việt nam này ông Kostenko mang theo một số huy hiệu của nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Gagarin. Với tính cách luôn luôn vui vẻ, hài hước vốn có ông đưa ra Chứng chỉ công nhận ông là người của Hiệp hội các nhà du hành vũ trụ Nga, được tặng huy chương vì đã có đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển ngành Hàng không vũ trụ của Tổ quốc. Và thay mặt Hiệp hội trao tặng các kỹ sư Giucôpski huy hiệu Gagarin. Theo lời ông, đây là huy hiệu được đặt riêng để trao tặng những người có thành tích trong việc phát triển ngành hàng không vũ trụ, không bán trên thị trường. Trong lời giới thiệu, ông đề nghị sửa đại tá nghỉ hưu thành đại tá dự bị và luôn cho rằng tôi vẫn còn “trẻ”. Ông còn nói rằng: nếu được, ông sẵn sàng đổi quân hàm đại tá thành quân hàm trung úy cùng với tuổi trẻ, nhưng xin được giữ lại các huân huy chương và danh hiệu được phong tặng. Trong những cái nháy mắt hóm hỉnh của ông luôn ánh lên niềm tự hào mình vẫn đang “phong độ”, đủ sức lo cho hai “Madam” cùng đi. Ngoài huy hiệu, ông Kostenko còn mang theo đĩa CD và các bức ảnh ông lưu giữ được về 13 khóa học viên Việt nam đã qua tay ông. Đây chính là tư liệu rất quý mà trong số chúng tôi ít người còn lưu giữ được, hoặc có chăng chỉ là những ảnh của khóa mình mà thôi. Và đây cũng là “bảo bối” giúp ông nhận ra rất nhiều người trong số chúng tôi. Có thể ông không nhớ tên từng người, nhưng ông có thể chỉ đúng từng người có mặt trong buổi giao lưu với người trong những tấm ảnh cũ cách đây hàng chục năm. Có những trường hợp mà người thực không nhận ra mình trong ảnh, nhưng qua những kỷ niệm, tình huống được kể lại, mọi người đều công nhận ông đúng. Và cứ như vậy rất nhiều kỷ niệm cũ lại trỗi dậy, làm hài lòng cả những người trong cuộc lẫn những người xung quanh. Qua đây thấy rằng các thầy cô yêu quý chúng tôi biết nhường nào và đã chuẩn bị công phu để gặp lại những học trò của mình.
Ngày hôm sau, 9.1.2010, đoàn đi thăm thành phố Hồ Chí Minh. Những người tháp tùng đoàn gồm có tôi – Khuất Duy Trung, Triệu Thế Chung và hai bác Nguyễn Kim Khôi, Lê Văn Oanh. Trên đường đi các thầy cô cứ phát âm nhiều lần tên của hai chúng tôi cho khỏi nhầm lẫn. Về sau tôi đề nghị gọi tôi là Trung – phiên dịch (Чунг - переводчик), còn Chung – anh chàng điển trai (Тьунг - красавчик). Mọi người cười ồ lên và vui vẻ đồng ý. Thật ra chúng tôi đều cao ráo, điển trai như nhau, nhưng anh bạn kia có phần nhỉnh hơn.
Chúng tôi đưa đoàn vào thăm Dinh Thống nhất. Những câu chuyện lịch sử được ôn lại theo lời kể của cô hướng dẫn viên. Ngay sau câu chuyện đầu tiên, bà Vera đã ghé tai tôi nói nhỏ: các cô gái Việt nam rất xinh đẹp, họ trẻ trung, tươi tắn như những bông hoa trong vườn ấy. Và yêu cầu tôi dịch lại cho cô hướng dẫn viên nghe. Tôi chưa kịp nói gì thì đã có tiếng ông Kostenko thì thầm: tôi cũng nhận thấy thế! Cả đoàn cười vang trong khi tôi dịch lại cho cô hướng dẫn viên nghe. Ngoài những câu chuyện lịch sử, điều gây ấn tượng với đoàn lại là phần giới thiệu về kiến trúc của Dinh Thống nhất. Khi nghe tôi nói trong Dinh không bật điều hòa nhiệt độ nhưng vẫn mát, mọi người rất ngạc nhiên vì ngoài trời đang nắng nóng. Một mặt cảm thấy tự hào về ngành kiến trúc nước nhà, nhưng mặt khác tôi lại đâm lo, vì vốn tiếng Nga về mảng kiến trúc, phong thủy của tôi không được phong phú lắm. Những khái niệm về long mạch, huyệt đất, thế đất, yểm bùa, thầy địa lý v.v... làm tôi lúng túng. Nhưng chính vì thế mà câu chuyện lại trở nên tự nhiên sôi nổi khi các thầy cô cùng tham gia giải nghĩa những khái niệm đó. Từ Phủ đầu rồng đến hồ Con rùa, câu chuyện cứ cuốn đi trong bầu không khí vui vẻ thân mật như những buổi học tiếng Nga thủa nào.
Khi ra ngoài bãi cỏ đoàn gặp festival của một số trường trung học tổ chức tại đây, tôi sực nhớ hôm nay là ngày Học sinh, sinh viên Việt nam. Chi tiết này làm các thầy cô rất chú ý, khi nghe kể về ý nghĩa của ngày này. Bà Vera thôi cười (bà hay cười vì vui tính và và vốn dĩ bà có khuôn mặt và nụ cười rất đẹp, rất đặc trưng của Nga, mọi người đều nói bà trẻ hơn tuổi thật đến 15 năm), còn bà Alla thì lấy khăn chấm mắt khi nghe về tấm gương hy sinh của liệt sĩ Trần Văn Ơn.
Trên đường đi thăm bến Nhà rồng, đoàn dừng lại ở gần tượng đài Bác Hồ trước UBND thành phố để chụp ảnh lưu niệm. Bà Alla có mối quan tâm đặc biệt đến Bác Hồ nên tìm hiểu rất kỹ từng chi tiết về những công trình mang tên Bác. Trong khi chụp ảnh, một chi tiết làm tôi băn khoăn là bà Vera rất thích chụp ảnh riêng sau khi đã chụp chung cả đoàn. Bà rất ngạc nhiên khi tôi giới thiệu cây hoa giấy bốn màu và không tin đó là cây thật. Khi nghe kể ở Hội hoa xuân còn có cây hoa giấy tám màu thì bà giơ hai tay lên trời.
Ở khu di tích bến Nhà rồng mọi người bắt gặp một đoàn trẻ em khuyết tật cùng các anh chị tình nguyện viên đang tham quan. Ông Kostenko liền nắm lấy xe lăn giúp đưa các em lên mấy bậc tam cấp của bảo tàng. Mọi người cùng góp sức với ông. Người khác có thể không biết, nhưng tôi biết rất rõ, ông có người cháu nội, đã 29 tuổi, hồi nhỏ bị cái mụn to trên đầu. Khi bác sĩ làm tiểu phẫu đã chạm phải dây thần kinh khiến cháu ông không đi lại được, phải ngồi xe lăn. Mọi người rất ái ngại khi một ông già 82 tuổi giúp khiêng xe lăn, nhưng ông nói ở nhà đã quen. Khi các em khuyết tật cám ơn, tôi nói điều này với người phụ trách và tất cả rất cảm động.
Trong phát biểu trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh HTV tại khu di tích này (họ theo chúng tôi từ đầu) bà Vera đã kể về người cha thân yêu của mình với những tình cảm sâu nặng về Việt nam. Khi còn nhỏ - bà kể - có lần tôi hỏi cha: Cha ơi, Việt nam là đất nước hòa bình, nhỏ bé như vậy làm sao chịu được những đòn tấn công dã man của đế quốc Mỹ to lớn như vậy? Cha tôi, khi đó là phi công chiến đấu, đại tướng – phó tham mưu trưởng lực lượng không quân chiến lược tầm xa, anh hùng Liên xô, từng được các nước Đồng minh công nhận là một trong những hoa tiêu giỏi nhất trong Thế chiến thứ hai, nói rằng – con yêu, rồi con sẽ thấy, Việt nam nhất định sẽ thắng Mỹ. Và sự thực đúng như vậy.
Bà Alla khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đúng với Việt nam mà với toàn thế giới, và nó thấm vào từng gia đình, cá nhân ở mọi lúc mọi nơi. Bà thắp hương trước tượng Bác và cúi đầu lạy thành kính theo cách người phương Đông. Và điều này được bà thực hiện ở mọi nơi có đặt tượng Bác.
Ngày hôm đó đoàn còn thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh, nơi mà Chung - anh bạn điển trai coi là sân sau nhà mình vì các mẫu vật trưng bày về không quân ở đây đều lưu dấu sự giúp đỡ của nhà máy A42, nơi anh bạn này đang công tác.
Buổi chiều, thành phần tháp tùng đoàn đi thăm chợ Bến thành có sự thay đổi. Bác Kim Khôi, trưởng Ban liên lạc, rất tâm lý khi bố trí vợ bác là Vũ Hồng Nương cùng một nữ phiên dịch – chị Đường, đã sinh sống ở Nga hơn 10 năm, đi thay mình, và anh bạn điển trai được nghỉ lấy sức cho cuộc đón tiếp ngày hôm sau ở tại nhà máy A42 của mình. Tôi và bác Oanh vẫn theo đoàn. Quà từ Việt nam thì các thầy cô đã nhận được nhiều qua các thế hệ học viên Việt nam, nhưng tự tay mua bán, trả giá tại chỗ - cảm giác tiền trao cháo múc – luôn đem lại những điều thú vị. Người Nga rất quý trọng công sức lao động. Đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt họ chi tiêu rất đúng mục đích. Ở bên Nga, chúng tôi đã từng ngạc nhiên khi thấy có người đi quá một bến xe buýt, không kịp xuống, chỉ vì chờ lấy lại 1 côpếch tiền vé. Khi chúng tôi đưa biếu các thầy cô ít tiền để chi tiêu lặt vặt, mọi người đều từ chối và nói họ đều mang theo tiền của mình. Phải khó khăn và khéo léo lắm tôi mới thuyết phục được các thầy cô nhận món tiền do Hội quyên góp được. Điều này rất tế nhị vì chúng ta biết rất rõ người Nga có lòng tự trọng cao, luôn coi mình là người có ích cho xã hội, không muốn dựa dẫm vào người khác. Tôi phải nói rằng hãy coi món tiền nhỏ này (2 triệu VND) như tiền mua vé vào tham quan chợ, thử cảm giác tiền trao cháo múc – các thầy cô mới miễn cưỡng cầm. Sau này, trong quá trình tháp tùng đoàn đi từ Nam ra Bắc, tôi tìm hiểu được cuộc sống của các thầy cô cũng chật vật lắm. Nghỉ hưu, họ vẫn tiếp tục làm việc ở trường theo hợp đồng, ngoài ra còn phải làm thêm nữa để kiếm tiền. Sau khi hướng dẫn cách phân biệt mệnh giá tiền, cách mua bán, trả giá v.v... chúng tôi vào chợ. Lúc đầu còn bỡ ngỡ, ngại ngùng trước những lời mời chào tíu tít. Sau quen dần, mọi người cũng hỏi thử, và trả giá. Nhưng khi mua áo sơ mi lụa ở cửa hàng của công ty, có giá niêm yết, không thể trả giá thì mọi người thấy tự tin và thoải mái hơn. Sau khi tất cả đã lựa được món đồ ưng ý, bà Alla liền hỏi đùa: chúng tôi mua nhiều phải tính theo giá sỉ. Mấy cô bán hàng đua nhau giải thích, còn bà Alla thì kín đáo mỉm cười và nheo mắt về phía tôi. Khó nhất cho tôi là khi bà Alla hỏi: tại sao khi trả giá tôi lại nói: bớt chút để làm duyên. Khi dịch sang tiếng Nga thì tôi bí. Cái duyên bán hàng của người con gái nằm trong cái duyên dáng nói chung của con gái Việt nam. Như người khác nói: bớt chút để lấy hên (may mắn) thì dễ dịch, nhưng bớt chút để làm duyên thì quả thật bí lắm. Nghĩ sao nói vậy, tôi cứ như vậy mà giải thích, thế mà bà Alla cũng hiểu ra và cười, khen khéo đi chợ. Thực ra bà có kiến thứ rất rộng, chỉ cần nghe qua ý là bà có thể đưa ra nhiều phương án trả lời khác nhau.
Chiều tối, sau khi tham quan Bảo tàng không quân phía Nam, đoàn vào thăm và dự cơm thân mật với chỉ huy lãnh đạo Sư đoàn không quân B70 và các kỹ sư Giucôpski đang công tác tại đây. Buổi đón tiếp diễn ra trang trọng nhưng không kém phần thân mật. Khách và chủ coi nhau như người trong nhà, vì như lời bà Alla nói Học viện Giucôpski nay đã liên kết với Học viện Gagarin (nơi các phi công của Sư đoàn theo học) thành một Học viện thống nhất mang tên Giucôpski và Gagarin. Những câu chuyện về thành phố Ngôi sao, nơi đào tạo các nhà du hành vũ trụ được ông Kostenko kể rất hào hứng. Các phi công vũ trụ đều tốt nghiệp Học viện Giucôpski, và ông là người học cùng thời với họ. Sau do tai nạn xe hơi bị gãy chân nên ông buộc phải rời khỏi hàng ngũ các phi công vũ trụ dự khóa. Kể về cuộc đời quân ngũ của mình, ông nói thêm đã làm lính tàu ngầm 4 năm, lính thiết giáp, pháo, lính dù đều qua cả. Sau khi bị tai nạn, ông về làm chỉ huy phi đội bảo đảm bay cho các đội máy bay diễu binh, bay biểu diễn. Được vài năm thì chuyển về làm trưởng các khóa học viên quốc tế ở Học viện Giucôpski.
Trong số các món quà do Sư đoàn tặng, bà Alla quý nhất chiếc đĩa VCD về truyền thống của Sư đoàn. Bà nói sẽ dùng nó làm tư liệu giảng dạy. Khi tôi nói thuyết minh trong đĩa bằng tiếng Việt, bà bảo không sao, có khi lại tốt hơn vì hiện đang có 3 học viên Việt nam theo học tại Học viện. Họ sẽ phải dịch ra tiếng Nga và bà sẽ coi đó là kết quả thi của họ. Và hỏi đùa tôi có vui lòng hiệu đính bản dịch của các học viên đó không nếu bà nhờ. Tất nhiên là tôi không dám chối từ, nhưng thừa biết với kinh nghiệm và kiến thức của mình, bà thiếu gì cách để thẩm tra kết quả.
Trong bữa cơm do bếp Sư đoàn nấu, mọi người ăn rất ngon miệng và khi biết những cô nhân viên khéo tay đa số là vợ phi công, bà Alla đề nghị cho gặp họ. Bà khen ngợi tài nấu nướng và đề nghị nâng ly chúc mừng những người phụ nữ xinh đẹp khéo tay, luôn là hậu phương, là tổ ấm cho các phi công của Sư đoàn. Bà còn đề nghị được chụp ảnh chung với họ bằng chính máy ảnh của mình.
7 giờ sáng ngày 10.1.2010, đích thân Hồ Đức Hải, giám đốc nhà máy A42 lên đón đoàn tại khách sạn Tân Sơn Nhất, mời đoàn đi thưởng thức phở 24, sau đó về tham quan nhà máy A42 ở Biên hòa. Thành phần tháp tùng đoàn theo hành trình xuyên Việt gồm ba cặp vợ chồng Khuất Duy Trung – Lê Thị Phương Lan, Triệu Thế Chung – Lê Thị Anh Thư, Nguyễn Kim Khôi – Vũ Hồng Nương, đi trên ba xe – 1 xe bảy chỗ của A42, 2 xe bốn chỗ của Chung và bác Kim Khôi. Cùng ăn sáng với đoàn ở quán phở 24 trên đường Nguyễn Văn Trỗi còn có gia đình giám đốc nhà máy A41 Võ Tá Quế. Đây là một điều may mắn vì theo kế hoạch ban đầu, sau khi giao lưu với đoàn, giám đốc A41 sẽ đi công tác xa. Nhưng sau kế hoạch thay đổi lại, và giám đốc A42 mời luôn gia đình giám đốc A41 cùng đoàn về thăm Biên hòa.
Vì là ngày chủ nhật nên nhà máy A42 và trung đoàn C35 không làm việc, nhưng do chuẩn bị chu đáo từ trước nên ngay từ cổng gác đã có người đón. Chỉ huy trung đoàn đón đoàn một cách thân mật và giản dị, theo tác phong con nhà lính. Cả đoàn đều thoải mái chuyện trò, sau đó đoàn đi chụp ảnh lưu niệm cùng với máy bay trưng bày và máy bay thật của đơn vị. Sau khi được phép bà Alla đã mạnh dạn trèo lên thang của máy bay Su-30 để chụp ảnh. Tôi và bác Khôi trèo bên cạnh để đỡ và rất lo. Cũng may là mọi sự đều suôn sẻ. Đây là đơn vị tôi công tác thường xuyên nên được anh em giúp đỡ nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn. Do thời gian có hạn nên đoàn đi tiếp sang thăm nhà máy A42. Ngay cổng vào nhà máy đoàn đã gặp chiếc máy bay trực thăng vũ trang Mi-24 với đầy đủ vũ khí trưng bày và mọi người thích thú chụp ảnh lưu niệm tại đây. Trong khoảng một giờ đoàn đã tham quan cơ sở sản xuất của nhà máy và mọi người được mời về phòng khách của giám đốc. Vì hôm trước toàn thể các cựu học viên Giucôpski ở khu vực sân bay Biên hòa đã tham gia giao lưu với các thầy cô ở Sài gòn nên buổi tiếp ở nhà máy A42 diễn ra ngắn gọn và chân tình.
Trong chương trình đón tiếp nhà máy A42 mời đoàn thưởng thức cơm miệt vườn tại vườn bưởi Năm Huệ ở làng bưởi Tân Triều, Biên hòa nổi tiếng. Các thầy cô rất ấn tượng với phong cảnh vườn cây, sông nước của miền Đông Nam bộ. Vườn bưởi nằm ngay bên bờ sông Đồng nai, gió mát nhè nhẹ, hương bưởi ngào ngạt, lục bình trôi lững lờ trên sông. Mọi người thích thú chụp ảnh chung với makét trái bưởi to tướng, tìm hiểu và nếm thử rượu bưởi. Thấy mọi người thích thú, giám đốc A42 liền thay các loại rượu chuẩn bị trước bằng toàn rượu bưởi của nhà vườn tự làm. Tất cả vỗ tay rào rào hưởng ứng. Bữa cơm miệt vườn sông nước được tổ chức ngay trên một chiếc thuyền to, đã cải tạo lại cho phù hợp. Thuyền được neo kỹ trong con kênh, lên xuống theo thủy triều từ ngoài sông. Các câu chuyện tiếu lâm, kỷ niệm vui được mọi người thi nhau kể làm bữa ăn ngày càng vui nhộn. Rượu bưởi thơm dịu cùng các món ăn dân dã của địa phương làm mọi người quên đi thời gian. Là người được Ban liên lạc giao trọng trách tháp tùng đoàn đến tận Hà nội, tôi miễn cưỡng đứng lên nâng ly chúc mọi người, đại ý như sau: đại gia đình chúng ta là những người trong ngành không quân, ai cũng mong số lần cất cánh bằng đúng số lần hạ cánh an toàn. Chúng ta đã bay lên trong niềm hân hoan hội ngộ, đã cùng vui vẻ quên đi cả thời gian, nay đã đến lúc hạ cánh trở về mặt đất thân yêu. Chúc cả làng hạ cánh an toàn, u ra! Tất cả hưởng ứng nhiệt liệt, nhưng sau nó trầm đi một chút rồi lại ào lên sôi nổi, bà Vera năn nỉ: Trung, thêm 10 phút thôi. Kẻ đi, người ở bịn rịn, luyến tiếc chia tay.
Tạm biệt Biên hòa, đoàn nhằm hướng Mũi né lên đường. Thành phần tháp tùng đoàn được bổ sung thêm một sĩ quan bảo vệ trẻ của A42 tên là Huân, kiêm quay phim vì nhóm của HTV chỉ theo đoàn đến hết Biên hòa. Từ đây chúng tôi phải tự xoay sở lấy bằng các loại máy ảnh và máy quay của thành viên trong đoàn. Các thầy cô được bố trí mỗi người ngồi ở một xe. Để thuận tiện khi đi đường, bác Khôi và Chung đều mặc quân phục chỉnh tề, và điều này đã thực sự giúp ích khi xe của Chung bị cảnh sát giao thông chặn lại vì chạy quá tốc độ. Khi biết xe của bộ đội đang chở thầy cô giáo, họ linh động chỉ nhắc nhở và cho đi tiếp. Đây cũng là chủ đề được mọi người bình luận nhiều nhất trên đường và khi ở Mũi né. Dọc đường đi, tôi bị khản tiếng do nói nhiều trong mấy ngày qua nên anh bạn điển trai được dịp trổ tài. Đi cùng xe chúng tôi là bà Vera, hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, anh bạn điển trai làm bà cười suốt dọc đường. Từ các vạt sắn, rừng cao su, ruộng mía, vạt thanh long v.v... đều làm bà Vera ngạc nhiên. Chúng tôi thay nhau nói (tôi ít hơn), và cũng qua các câu chuyện bà Vera thỉnh thoảng lại sửa cho chúng tôi những từ, khái niệm chưa chuẩn.
Đoàn tới Mũi né khoảng gần 5 giờ chiều. Dọc hai bên đường vào khu nhà nghỉ, hàng quán san sát, các khách nghỉ đi dạo bộ - đa số là người nước ngoài. Nhìn chung cảnh quan rất hữu tình, gây hứng thú không chỉ cho các thầy cô mà cả chúng tôi nữa. Đặc biệt ở đây có rất nhiều biển hiệu ghi bằng tiếng Nga, kể cả thực đơn. Sau này hỏi ra mới biết luồng khách Nga sang đây du lịch, chủ yếu từ vùng Viễn đông, thậm chí có nhà hàng là của người Nga đầu tư. Các nhân viên ở đây một số người đã và đang học tiếng Nga. Khi nghe kể về điều này các thầy cô rất ngạc nhiên thích thú. Thậm chí bà Vera còn vui vẻ góp ý nên đầu tư vào lĩnh vực nào trong du lịch. Khi mời mọi người uống nước dừa, tôi kể về công dụng của các bộ phận trái dừa, cây dừa. Ở nước ngoài, chủ yếu biết về cây dừa qua hình ảnh cây dừa có dáng đẹp, nước dừa ngon và bổ. Khi nghe giới thiệu, trong chiến tranh, các bác sĩ của ta đã dùng nước dừa thay huyết thanh ngọt, tiếp nước cho thương binh thì bà Alla vô cùng khâm phục. Bà Vera bắt lấy ý tưởng về dầu dừa làm mỹ phẩm khi nghe nói các cô gái Việt nam dùng dầu dừa để chải tóc. Ông Kostenko thì quan tâm đến than gáo dừa dùng để điều trị bệnh nhiễm phóng xạ. Nói chung, về cây dừa Việt nam có thể nói mãi không hết chuyện, kể cả về bài hát nổi tiếng “Dáng đứng Bến tre” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, về con châu chấu kết bằng lá dừa, kèn lá dừa cho trẻ con chơi, thậm chí cọng lá dừa dùng để làm cần câu tôm v.v... Qua mối quan tâm của các thầy cô giáo ta cũng có thể biết được phần nào tính cách của từng người.
Nhà nghỉ của công ty Tiến Đạt thuộc hàng ba sao, nằm ngay mép biển, có hồ bơi nước ngọt và bãi biển tự nhiên. Ông Kostenko và bà Alla rất hăng hái trong việc bơi lội, nhất là bơi biển, còn bà Vera có ý không thích lắm. Mặc dù đến Mũi né đã muộn, nhưng sau khi nhận phòng, mọi người đã đi ngay ra biển. Gió mạnh, sóng cũng không nhỏ, chúng tôi phải thuyết phục hồi lâu mọi người mới tiếc rẻ, rời bãi biển, vào bơi trong hồ yên tĩnh hơn. Bữa tối cả đoàn ăn ở ngoài bãi biển. Bác Khôi đưa ra chủ đề tên gọi cá Việt nam. Bác chơi chữ, lấy ngay ví dụ món cá mú để làm ví dụ. Lúc đầu mọi người nghe giới thiệu rất chăm chú, sau biết là bác chơi chữ nên ai cũng tranh nhau nói và bình luận. Tiếng Việt có dấu và cách phát âm khác nhau thì mọi người đều biết từ trước, nhưng trong ví dụ của mình, bác Khôi đã khéo léo chọn từ và đặc biệt nhất là cách diễn đạt. Trong bối cảnh nghỉ ngơi thực sự, vui vẻ thoải mái, không phải ràng buộc bởi các quy tắc lịch sự, thì một chút trào phúng cộng với rượu vang trắng và cá mú hấp đã làm cho bữa ăn sôi nổi. Nâng ly rượu, đồng thanh hô: hai, ba, dzô, kèm theo những tiếng cười sảng khoái, chúng tôi làm cho các bàn bên phải nhìn sang, mỉm cười đầy ngạc nhiên và tò mò. Ông Kostenko tìm hiểu rất kỹ về chiếc bàn ăn to, nặng, đúc bằng xi măng, lát gạch men có hoa văn đẹp. Theo lời ông thì chiếc bàn này rất phù hợp với vườn nhà ông. Vừa bền, chắc, dễ lau chùi vệ sinh, có thể để ngoài trời, không sợ mưa nắng, và nhất là chịu được nước biển thì không còn gì phải lo lắng nữa, vấn đề là bằng cách nào có thể mua và vận chuyển về bên Nga. Ông đề xuất phương án mang từng tấm nhỏ về, sau ghép lại, nhưng lại tiếc các hoa văn sẽ không nguyên vẹn. Lần này thì chúng tôi đều bị ông cho đi tàu suốt. Khi mọi người hăng hái đề xuất các giải pháp vận chuyển thì ông kết luận, bàn rất đẹp, không phải vì ông không muốn mua mà chỉ vì vấn đề vận chuyển thôi, và giơ ngón tay 1 - 0. Đêm rất đẹp, mọi người chia tay về ngủ để sáng mai tắm biển sớm.
Bình minh ở Mũi né rất đẹp, ánh mặt trời lọt qua kẽ lá dừa, nhảy múa trên mặt hồ bơi. Gió nhẹ, biển lặng. Khi tôi ra biển đã thấy cặp vợ chồng anh bạn điển trai đang bơi từ lúc nào. Nhìn kỹ một chút đã thấy ông Kostenko đang chạy bộ dọc bờ cát. Dáng người ông vẫn gọn gàng, chắc khỏe như năm xưa ở biển Đen. Nhìn ông chạy và bơi không ai dám bảo ông đã 82 tuổi. Chúng tôi bơi ra và ông lại biểu diễn cách nằm ngửa nổi trên mặt nước, điều mà hồi đi nghỉ ở biển Đen chúng tôi tập mãi không được. Lần này thì chúng tôi đã làm được như ông. Chúng tôi đang chụp ảnh thì bà Alla ra tới. Sau khi chụp chung vài kiểu thì bà xuống bơi. Bà bơi nhẹ nhàng và có phương pháp, nói như vậy, vì chúng tôi đều có nhận xét chung – phong cách của bà rất quý phái kể cả khi đi đứng, giao tiếp, cách ăn, cách chào hỏi và cả khi bơi. Bà có kiểu chào nhún chân rất điệu và dễ thương. Anh bạn điển trai bảo có khi bà đã từng sang Pháp và Ấn độ nên rất có phong cách. Khi chúng tôi hỏi thăm, bà Alla nói đã gọi bà Vera đi tắm biển, nhưng bà Vera đang ngủ say. Bà Alla nói vì còn trẻ nên bà Vera đã đặt mình là ngủ quên cả trời đất, hơn nữa vì đi nghỉ thoải mái nên ai cũng ăn ngủ tốt. Tôi dẫn câu tục ngữ Việt nam: Ăn được ngủ được là Tiên. Kém ăn, khó ngủ thêm phiền thêm lo. Vậy là các ông giáo bà giáo sắp thành Tiên thành Phật rồi. Nghe xong ông Kostenko và bà Alla đều cười rất vui.
Sau bữa sáng chúng tôi ngỏ ý sẽ đưa mọi người đi tham quan bến cá và đồi cát đỏ. Vì theo kế hoạch ban đầu, sáng hôm này là nghỉ tự do, 12 giờ đoàn sẽ xuất phát đi Nha trang. Khi mọi người đồng ý, chúng tôi liền khởi hành. Dừng chân để chụp ảnh ở bến cá, phong cảnh rất đẹp, có cháu gái chừng 11 tuổi đến mời đoàn mua đồ lưu niệm. Khi biết là có người Nga, cháu liền tặng luôn cho các ông bà giáo mỗi người mội con ốc bé. Cháu nói bằng tiếng Nga bập bẹ: thấy bà Vera rất đẹp nên tặng (Мадам красивая). Bà Vera vô cùng cảm động và thích thú, bà Alla lấy kẹo đưa cho bé, trong khi đó bác Nương thay mặt đoàn mua tặng mỗi ông bà một con rùa bằng ốc. Con rùa này lúc lắc được đầu và chân làm mọi người rất thích thú với món quà tặng dễ thương. Bà Vera nâng niu món quà và nhờ chụp ảnh chú rùa xinh xắn này. Ở khu đồi cát khi nghe nói phải leo hết 2-3 km mới thấy hết được vẻ đẹp của khu đồi thì mọi người đều tiếc rẻ. Cát rất khó leo, các thầy cô đều lớn tuổi và nặng (nhất là bà Vera yếu), vả lại tôi muốn để dành sức còn đi tiếp đến Nha trang nên khuyên mọi người chỉ leo một đoạn để chụp ảnh thôi, thời gian còn lại của buổi sáng không nhiều.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn trung_mbdc cho bài viết trên:
Dang Thi Kim Dung (04-03-2013), Мужик (07-03-2013), hot dog (12-03-2013), Nhật Minh (04-03-2013)