CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”
Sau khi bầu J.F. Kennedy làm Tổng thống Hoa Kỳ, Nhà trắng đứng trước sự lựa chọn: hoặc từ bỏ ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, đồng thời từ bỏ duy trì sự thống trị của mình tại miền Nam Việt Nam, hoặc tiến hành chiến tranh chống lại tất cả nhân dân Việt Nam. Kennedy đã chọn chiến tranh. Chính lúc đó chiến lược chiến tranh “đặc biệt” ra đời. Miền Nam Việt Nam trở thành bãi thử của nó.
Mọi sự chuẩn bị được hoàn tất vào đầu năm 1962. Vào tháng 2 Bộ chỉ huy chiến dịch Mỹ và đội “cố vấn” đến Sài Gòn. Đến năm 1964 ở miền Nam Việt Nam có đến 25 ngàn “cố vấn” Mỹ.
- Quân số quân đội Sài Gòn, - Chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Nguyễn Hữu Thọ kể với tôi, - lên tới 500 ngàn người, trang bị gồm gần 500 máy bay chiến đấu, hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, pháo binh hạng nặng, phương tiện trinh sát và do thám điện tử hiện đại. Tại Nam Việt Nam lần đầu tiên các chất hoá học độc hại được sử dụng. Cây cối và hoa màu ở các vùng giải phóng bị huỷ diệt - khắp nơi, kể cả những vùng bị nghi ngờ hoặc có thể trở thành căn cứ của du kích.
Để thực hiện “chiến tranh đặc biệt” Mỹ đã huy động quân đội và vũ khí gấp nhiều lần Pháp khi tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ năm 1962 bộ máy chiến tranh Mỹ-Sài Gòn nhiều lần tiến hành các chiến dịch càn quét với sự tham gia của gần 20 ngàn lính.
Washington theo đuổi một mục đích kép: tiêu diệt các lực lượng của Quân đội giải phóng trong các chiến dịch quân sự và đồng thời gom dân nông thôn vào 16 ngàn “ấp chiến lược” - một dạng trại tập trung được rào quanh bằng dây thép gai, nơi chính quyền Sài Gòn có thể kiểm soát chặt được dân chúng, cắt đứt mọi tiếp xúc với những người Việt Cộng cách mạng.
Ưu thế hoàn toàn của quân đội Sài Gòn được bảo đảm nhờ các máy bay lên trực thăng của Mỹ. Chúng cho phép chiến đấu tại bất cứ vùng nào, “tóm gọn đối phương như diều hâu tóm chim sẻ”. Trong năm 1962 lực lượng quân đội Mỹ-Sài Gòn tiến hành gần 20 ngàn cuộc “bình định”, “càn quét”; viện trợ quân sự của Mỹ cho chế độ Sài Gòn lên đến 600 triệu đô la một năm. Theo tính toán của các chiến lược gia Hoa Kỳ, việc “bình định” miền Nam Việt Nam phải được kết thúc vào cuối năm 1962. Nhưng “bình định” bị phá sản.
Thất bại quân sự hàng loạt, việc dồn dân vào “ấp chiến lược” phá sản và mâu thuẫn ngay trong nội bộ lãnh đạo chóp bu Sài Gòn đã dẫn đến việc là với hậu thuẫn của Mỹ, ngày 1 tháng 11 năm 1963 tướng lĩnh Nam Việt Nam thực hiện lật đổ quân sự. Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị bắn chết. Đám sỹ quan đảo chính đứng đầu là tướng Dương Văn Minh (tên lóng là “Minh Cồ” hay “Big Minh”) được Mỹ “đỡ đầu” lên nắm chính quyền. Ở Pa-ri tôi quen bà Nhu (Trần Lệ Xuân - người dịch). Dễ hiểu khi bà ta không đánh giá cao “Minh Cồ”. Tuy nhiên hiếm ai được bà Nhu đánh giá tích cực.
Năm 1964 Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara đến Sài Gòn để xây dựng các kế hoạch quân sự mới. Theo tham mưu của vị Bộ trưởng này Washington cấp bổ sung cho Nam Việt Nam tài chính và phương tiện chiến tranh. Chính quyền và quân đội Sài Gòn lúc đó đã rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc kinh niên. Hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác và đều có bàn tay can thiệp của các cơ quan tình báo Mỹ muốn tìm kiếm một chính phủ có thể tiếp tục chiến tranh hiệu quả hơn. Kế hoạch được gọi bằng tên của chính McNamara. Bây giờ, sau hơn 30 năm, ông ta đã nhìn nhận lại các quan điểm của mình và coi chiến tranh Việt Nam là sai lầm của nước Mỹ.
Còn vào thời gian đó những vùng do Mặt trận dân tộc giải phóng kiểm soát đã chiếm tới 4/5 lãnh thổ và 2/3 dân số miền Nam Việt Nam. Đó là tình thực tế ở Việt Nam trước sự kiện Vịnh Bắc bộ dẫn đến cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất của Hoa Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, cuộc chiến 2 trong 1 được bắt đầu: một (ở Miền Bắc) là cuộc chiến trên không, “không tiếp xúc”, hai (ở Miền Nam) là cuộc chiến khốc liệt, đến cả đánh nhau tay không, nhưng không có giới tuyến chiến trường.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
|