Tháng 5 năm 1953 chính phủ Pháp bổ nhiệm tướng Henri Navarre, người thứ 7 kể từ năm 1945, làm Tổng chỉ huy quân đội ở Đông Dương. Trước đó vị tướng này giữ chức Tổng tư lệnh lực lượng bộ binh của NATO ở Trung Âu. Cùng với Lầu năm góc, Navarre vạch ra kế hoạch giành thế chủ động chiến lược và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng kháng chiến Việt Nam trong vòng 18 tháng. Sau đó sẽ tiến hành ký kết hiệp ước hoà bình có lợi cho Pháp.
Để thực hiện kế hoạch này, Navarre tập trung tại miền Bắc Việt Nam 112 tiểu đoàn, trong đó có 44 tiểu đoàn cơ động. Lực lượng này phải thực hiện các đợt tấn công chớp nhoáng để làm tiêu hao lực lượng kháng chiến tập trung chủ yếu tại miền Bắc. Đến cuối mùa đông năm 1953, khi quân Việt Nam mất khả năng tác chiến sau những tổn thất dự kiến, Bộ chỉ huy Pháp sẽ có kế hoạch chuyển các đơn vị tinh nhuệ vào miền Nam, nơi lực lượng chủ lực của phong trào kháng chiến được coi là tương đối yếu. Vì vậy việc tiến hành “bình định” toàn bộ miền Nam, chuyển chức năng chiếm đóng cho quân đội bù nhìn được củng cố cũng được đặt ra. Còn đến mùa thu năm 1954 sẽ lại tập trung quân tinh nhuệ tấn công miền Bắc tiêu diệt hoàn toàn các lực lượng vũ trang nhân dân và ép lãnh đạo kháng chiến phải chấp nhận các điều kiện hoà bình do Pháp và Mỹ đưa ra.
Cuồng vọng chiến thắng cuộc chiến bằng bất kỳ giá nào đã đưa thực dân Pháp đến chỗ càng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ. Năm 1953 viện trợ Mỹ cho Pháp đã lên đến 385 triệu đô la, bằng 60% chi phí quân sự của Pháp ở Đông Dương. Cũng trong năm này, khối lượng vũ khí Mỹ cung cấp cho quân đội viễn chinh Pháp đạt 25 ngàn tấn mỗi tháng. Từ các căn cứ của Mỹ tại Pháp, Phi-lip-pin và Nhật Bản vũ khí, khí tài được chuyển đến Đông Dương bằng đường hàng không. Các phi công Mỹ trực tiếp tham chiến trong các chiến dịch quân sự.
Đến cuối năm 1953 quân đội viễn chinh Pháp có 250 ngàn binh sỹ. Nó có 26 tiểu đoàn pháo binh, 528 máy bay, 390 tàu chiến và ca nô. Quân số quân đội bù nhìn lên tới 300 ngàn người.
Bộ chỉ huy Pháp vẫn chờ đợi lực lượng tiếp viện mới. Trong điều kiện này các kế hoạch chiến lược được lập với các mục tiêu dài hạn. Pháp bắt đầu mở các đợt tấn công lên Lạng Sơn cùng lúc với Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình, các tỉnh được giải phóng năm 1952. Các chiến dịch càn quét quy mô lớn được thực hiện song song tại các tỉnh miền Trung Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Tưởng rằng Pháp lại giành thế chủ động lần nữa.
Quân đội chủ lực Việt Nam tập trung tại 2 hướng chính - tây bắc Bắc bộ và cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên). Ngoài ra họ còn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Pa thét Lào tấn công vào các vị trí đối phương tại vùng Trung và Thượng Lào. Tóm lại, chiến sự đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam và chiếm phần lớn Đông Dương. Hàng triệu người được huy động đi mở đường, phục vụ hậu cần cho các đơn vị quân đội hoạt động xa căn cứ chính hàng trăm km. Nguồn nhân lực và vật lực chủ yếu của đất nước luôn tập trung tại các vùng đồng bằng, trong khi chiến trận lại diễn ra tại các vùng núi xa xôi. Đặc điểm tình hình chính là ở chỗ này. Về quy mô và tầm cỡ của công tác hậu cần cho các chiến dịch tấn công của Quân đội nhân dân có thể đánh giá chỉ cần qua những ví dụ như việc mở đường từ Yên Bái đến Sơn La tổng số mất hơn 2 triệu ngày công, còn làm đường nối liền Quân khu 2 với Quân khu 3 mất 2,6 triệu ngày công. Hơn 90% sỹ quan và chiến sỹ của Quân đội nhân dân là con em nông dân, họ biết làm việc với đất, đá.
- Chưa khi nào có từng ấy con người ra mặt trận. Chưa bao giờ trai gái thanh niên Việt Nam chất phác lại đi xa làng quê ruột thịt của họ đến thế, - ông Ất nói. - Ở đồng bằng, cũng như ở miền núi, trên rừng hay dưới biển, trên đường quốc lộ hay đường làng, trên sông hay trên suối - đâu đâu cũng có hàng ngàn người. Hậu phương gửi họ ra tiền tuyến, hậu phương cùng quân đội tham gia đánh giặc giải phóng đất nước.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:04
|