Bị rơi vào tình cảnh khó khăn, những kẻ thực dân quyết định đàm phán. Cuộc gặp giữa hai bên tham chiến được tổ chức vào ngày 2 tháng 10. Ủy ban hành chính Nam bộ yêu cầu các đại diện Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Đại diện phái Pháp từ chối đề nghị của Ủy ban, sau một tuần ngưng chiến các hoạt động quân sự lại tiếp tục. Những đơn vị của quân đội viễn chinh đầu tiên đổ bộ xuống phía Nam. Tướng Gracay hứa hỗ trợ họ. Đáp lại, Ủy ban hành chính Nam bộ gửi công hàm nêu rõ:
“Chúng tôi đối xử tôn trọng với quân đội Anh-Ấn đang thực thi sứ mệnh của mình, nhưng nếu họ có ý định lập lại sự cai trị của Pháp thì toàn bộ nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên bảo vệ nền độc lập của mình...”
Ngày 21 tháng 10 quân đội Anh-Pháp tấn công đồng bằng sông Mekong - vựa lúa đất nước và các vùng đồn điền cao su. Sau đó, vào tháng 11 và 12 năm 1945, họ tiến lên Tây Nguyên và đưa các đơn vị quân đội xuống Nam Trung bộ.
Đến cuối tháng 1 năm 1946 với sự hỗ trợ của lực lượng xe bọc thép và hải quân, thực dân Pháp kiểm soát được các thành phố chính và đầu mối giao thông ở Nam bộ, phần Nam Trung bộ và cao nguyên Trung phần. Tránh những trận chiến không cân sức, lực lượng vũ trang Việt Nam rút khỏi các thành phố và bắt đầu chuẩn bị cho kháng chiến tại các vùng nông thôn. Bao vây kinh tế và hoạt động phá hoại trở thành các phương pháp đấu tranh chủ yếu của Việt Minh tại các trung tâm thành thị. Các cơ sở kháng chiến lớn được lập trên vùng Bãi Sậy tỉnh Bến Tre và trong rừng U Minh phía Tây Nam bộ.
Tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:
“Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công”.
Ngày 25 tháng 11 năm 1945 các sắc lệnh về kháng chiến được thông qua. Đây là các nhiệm vụ (trước mặt tôi là các bản tài liệu của thời gian đó) của kháng chiến:
“...Cắt đứt giao thông giữa các thành phố bị chiếm đóng, tổ chức phong tỏa kinh tế, cách ly chính trị và không để địch được yên về quân sự... Tiến hành chiến tranh du kích ở mọi nơi, vận động người dân thành thị thực hiện chính sách không hợp tác với địch, còn người dân nông thôn tiến hành chiến thuật tiêu thổ. Giữ liên lạc giữa các quân khu khác nhau. Để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, cần phải chuẩn bị chi tiết cả kế hoạch tấn công, cả kế hoạch rút lui.”
“...Chuẩn bị trường kỳ kháng chiến và gửi lực lượng hỗ trợ miền Nam là nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ và toàn dân. Chúng ta phải hiến dâng tất cả sức lực và tính mạng của mình cho sự nghiệp kháng chiến, cho mặt trận miền Nam.”
Và kết quả không phải chờ lâu. Tướng Pháp Pelle đã viết:
“Kẻ thù ở khắp mọi nơi. Không có mặt trận nào như thế này, không có các tuyến phòng thủ cố định, nơi mà các phương tiện chiến tranh hiện đại của chúng ta có thể sử dụng hiệu quả. Từng bụi tre, từng túp lều đều có thể là nơi ẩn náu của đối phương. Binh sỹ chúng ta lúc nào cũng căng thẳng tột độ, bởi ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào họ đều có thể chạm mặt với kẻ thù không thể phát hiện”.
Còn đây là lời kể của một lính thủy Pháp, người trước khi sang Đông Dương tưởng rằng tới đó để chiến đấu chống phát xít Nhật:
“Ở Đông Dương quân đội Pháp hành xử cũng y như phát xít Đức tại Pháp. Họ làm tôi kinh tởm. Tại sao hằng ngày máy bay của chúng ta lại nã đạn vào những dân chài không vũ khí? Tại sao binh lính của chúng ta lại cướp của, đốt nhà, giết người? Không lẽ đây lại là cái văn minh mà chúng ta đang khai hóa? Trước chúng ta không phải là một đám nổi loạn, mà là cả một dân tộc tràn đầy quyết tâm bảo vệ quyền tự do của mình. Mỗi người dân ở đây đều là Việt Minh. Không thể nào tiêu diệt được cả một dân tộc”.
Người lính thủy đã viết những dòng này năm 1946 gửi về cho gia đình là Henry Martin.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
|