Đầu năm 1941, sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc. Tháng 5 năm 1941 tại Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), ông triệu tập Hội nghị VIII Ban Chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị nhấn mạnh cách mạng Việt Nam giai đoạn này là một bộ phận của phong trào chống phát xít thế giới, đứng đầu là Liên Xô. BCHTƯ quyết định bắt đầu tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Với mục đích này, việc thành lập và củng cố lực lượng du kích và tự vệ, cũng như các căn cứ kháng chiến, đã được tính đến.
“Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn” - Hồ Chí Minh viết.
Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là mặt trận Việt Minh ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Lực lượng chủ yếu cấu thành mặt trận là các hội cứu quốc của công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ v.v... gồm cả tư sản dân tộc và địa chủ yêu nước. Cờ đỏ sao vàng được xác lập là biểu tượng của Việt Minh.
Đến cuối năm 1943 các đội vũ trang của Việt Minh đã hoạt động trên khắp vùng núi rừng Việt Bắc rộng lớn (nằm ở phía bắc đồng bằng sông Hồng). Năm 1944 Việt Bắc trở thành vùng giải phóng. Các căn cứ du kích cũng được thành lập ở vùng trung Trung bộ và Nam bộ. Tháng 12 năm 1944, theo chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đội tuyên truyền vũ trang đầu tiên được thành lập - đứa con đầu lòng của Giải phóng quân Việt Nam (tên đặt như vậy để thể hiện tính chất chính trị trong hoạt động của quân đội). Chỉ huy đội quân là Võ Nguyên Giáp. Trang sử đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), lực lượng chiến đấu trên chiến trường chính tại vùng Đông Nam Á trong và sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, được bắt đầu như vậy.
Đến đầu năm 1945 viễn cảnh thất bại hoàn toàn của các nước thuộc trục phát xít không thể đảo ngược. Chế độ Vichy ở Pháp sụp đổ, Nhật chịu hết thất bại này đến thất bại khác ở Trung Quốc cũng như trên Thái Bình Dương. Ở Đông Dương những người ủng hộ tướng Charles de Gaulle, đặc biệt là cánh quân sự, tìm mọi cách để níu giữ sự đô hộ của Pháp. Phát biểu tại Brazzaville (Công-gô) ngày 8 tháng 2 năm 1945 de Gaulle chỉ hứa hẹn trao một phần tự trị cho Đông Dương. Chính phủ mới ở Pháp chuẩn bị đưa các lực lượng quân sự sang Viễn Đông để đảm bảo “sự hiện diện của Pháp” tại vùng đất này của thế giới.
Để cảnh cáo các hành động của Pháp, ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân đội Nhật đồng loạt tấn công các trại lính Pháp trên khắp Đông Dương và chỉ sau vài giờ đã tiêu diệt hoặc giam giữ các lực lượng vũ trang chủ yếu của Pháp. Ngày 10 tháng 3 chính phủ Nhật tuyên bố phế bỏ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Cũng ngay hôm đó đại diện Nhật gặp gỡ với vua Bảo Đại và đề nghị ông hợp tác với Nhật. Lúc đầu vị vua này không đưa ra câu trả lời dứt khoát.
Các đảng phái thân Nhật, đặc biệt là tổ chức có tên gọi “Liên minh dân tộc Đại Việt”, phát động chiến dịch tuyên truyền nhằm thuyết phục quần chúng tin vào “lòng cao thượng và thiện chí” của người Nhật, vào sự ưu việt của “Đại Đông Á”. Bảo Đại ban chiếu hủy toàn bộ các thỏa thuận với Pháp và khôi phục nền “tự chủ” của Việt Nam trong khuôn khổ “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” do Nhật Bản đứng đầu.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
|