Chương II
TỪ VIỆT MINH ĐẾN VIỆT CỘNG. CÁC CUỘC ĐỌ SỨC
SỰ ĐẠI BẠI VÀ RÚT LUI CỦA NHẬT
Nhà sử học Việt Nam Nguyễn Khắc Viện, người tôi đề nghị nhận xét cho bộ sách “Phong tục, tập quán Việt Nam”, kể lại:
- Từ những ngày đầu Chiến tranh Thế giới thứ 2, giới cai trị Pháp đã ra sức sử dụng tối đa các nguồn lực của thuộc địa Đông Dương để tăng cường tiềm năng quân sự cho chính quốc. “Tăng đóng góp của Đông Dương đến tột cùng cho sức mạnh quân sự Pháp” - Pa-ri đã giao nhiệm vụ như vậy cho chính quyền bản xứ.
Vào ngày Pháp tuyên chiến với Đức ở Đông Dương cũng ban bố lệnh tổng động viên. Chế độ làm việc ngày 10 tiếng (9 tiếng đối với phụ nữ) được thiết lập. Sưu thuế tăng cao, tiền công, tiền lương bị cắt giảm đối với hầu hết các tầng lớp trong xã hội. Chính quyền thực dân tuyên bố đưa Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và tiến hành tiêu diệt tất cả các tổ chức công khai hoặc bán công khai do những người cộng sản thành lập. Làn sóng đàn áp, bắt bớ lan khắp Việt Nam, hàng vạn người bị đày ra Côn Đảo, vào các nhà tù ở Lao Bảo, Nghĩa Lộ và ra cả nước ngoài. Viên toàn quyền công khai tuyên bố phải “bảo vệ an ninh và giữ Đông Dương trung thành với Pháp”.
Sau thất bại tháng 6 năm 1940 của Pháp ở Châu Âu vị thế của chính quốc ở Đông Dương bị suy yếu nghiêm trọng. Quân đội Nhật đã tiến sát biên giới Việt-Trung từ tháng 5 năm 1940.
Ở phía Nam Đông Dương, thực dân Pháp xung đột với tham vọng bành trướng của Thái Lan. Băng Cốc, với sự hỗ trợ của Nhật, tranh chấp chủ quyền vùng lãnh thổ ở tây bắc khu vực Biển Hồ và cả rẻo đất bờ phải dọc sông Mekong thuộc Lào. Các đội quân Việt Nam nhận lệnh đi đánh lại quân đội Thái Lan. Quân đồn trú ở Sài Gòn nổi loạn. Việc này phù hợp với kế hoạch của Xứ ủy Nam kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương, từ tháng 6 năm 1940 đã tích cực chuẩn bị nhân dân khởi nghĩa, kết hợp nổi dậy trong binh lính với phong trào nổi dậy của nhân dân khắp các tỉnh thành Nam bộ.
Cuộc khởi nghĩa lẽ ra phải được bắt đầu vào đêm ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhưng chính quyền thực dân đã phát hiện được kế hoạch của những người cách mạng và tước vũ khí của binh sỹ. Kết quả là lực lượng yêu nước chỉ nổi dậy được tại 8 trong số 20 tỉnh thành Nam bộ. Ở tỉnh Mỹ Tho có 54 trong số 100 làng đã khởi nghĩa. Tại đây lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh, sau này trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu. Nhiều làng mạc bị đốt cháy, hơn 29 ngàn người bị bắt và xử bắn, trong đó có các nhà lãnh đạo phong trào cộng sản Nguyễn Văn Cừ (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương), Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai và những người khác.
Sau năm 1940 quân chiếm đóng Nhật cấu kết với chính quyền Vichy Pháp nhằm giữ chế độ thuộc địa. Để thỏa mãn các lợi ích của Pháp, đồng thời trang trải những chi phí chiến tranh ngày càng phình to của mình, Nhật đẩy mạnh bóc lột kinh tế Đông Dương. Các phong trào yêu nước bị đàn áp với sự tàn bạo khủng khiếp.
Chính quyền Pháp chấp thuận cho Nhật bố trí các lực lượng quân sự lớn ở Bắc kỳ, đồng thời cắt 70 ngàn km2 lãnh thổ Lào và Cam-pu-chia cho Thái Lan sử dụng. Cái được gọi là “Thỏa ước phòng thủ Nhật-Pháp” ký ngày 9 tháng 12 năm 1941, thực tế nó cho phép quân đội Nhật chiếm đóng toàn bộ Đông Dương. Tóm lại, ngay từ khởi đầu chiến tranh trên Thái Bình Dương, Đông Dương đã bị biến thành căn cứ quân sự và nơi vơ vét tài nguyên của phát xít Nhật - thành viên Hiệp ước Bec-lin - Roma - Tokyo.
Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ 2 chính quyền thực dân Pháp phải cung cấp gạo cho Nhật: năm 1941 – 585, năm 1942 – 973, năm 1943 – 1023, năm 1944 – 900 ngàn tấn. Thời gian đầu Nhật trả bằng vàng hoặc các mặt hàng công nghiệp, nhưng nguồn dự trữ của Nhật cạn rất nhanh và từ tháng 12 năm 1942 Nhật thanh toán bằng “đồng yên đặc biệt” (thực chất là trái phiếu Nhật bị mất giá).
Vừa bóc lột nguồn tài nguyên và nhân lực của Việt Nam, vừa đàn áp tàn khốc bất kể hình thức hoạt động cách mạng nào, phát xít Nhật vừa đồng thời tuyên truyền ý tưởng thành lập “Khối Đại Đông Á thịnh vượng” dưới sự bảo trợ của Nhật. Trong khuôn khổ khối này, Việt Nam dường như có thể trở thành quốc gia tự chủ. Các khẩu hiệu của chủ nghĩa sùng Á “Châu Á là của người Á!”, “Đả đảo bọn da trắng dã man!” v.v... vang lên khắp chốn. Người Nhật tích cực chiêu nạp tay sai trong tầng lớp địa chủ và tư sản, thành lập vô số đảng phái dân tộc (gần như tất cả các tổ chức này đều tự xưng là “đảng Đại Việt”, sau năm 1944 thì tan rã hết.)