Cuộc sống gia đình ổn định mau chóng và sung túc tại đất nước mới đến này và tất cả chúng tôi đều vô cùng hạnh phúc. Do đơn vị cha tôi đóng trong thành cổ, tức Hoàng thành Hà Nội, ông làm việc giờ giấc đều đặn và cứ đến chiều là về nhà. Với Maman điều này thật tuyệt vời khi được có một cuộc sống “bình thường” sau thời kỳ đi đày cô độc ở Ma-rốc và cả Madagascar, nơi rất ít người Pháp có thể hòa nhập được.
Bep, tay đầu bếp gốc Hoa của chúng tôi, là người quản lý ở trong nhà. Mẹ tôi thường nghe thấy ông ta sai phái Thi Hai và Thi Ba, hai cô gái giúp việc nhà, cứ như thể hai người này là hạng thấp kém hơn. Thỉnh thoảng mẹ có can thiệp vào – cũng rất khó, bởi mẹ không nói được tiếng của họ và mỗi lần như vậy họ thường không ừ hử gì với bà. Bep là một đầu bếp cừ và giúp mẹ tôi nhẹ gánh nhiều việc sau vô số lần mẹ phải đánh vật với chuyện huấn luyện cho người mới. Mẹ đã học được cách không can thiệp vào chuyện của Bep, thậm chí cả khi mẹ phát hiện ra anh ta lấy hai bàn tay vê viên thịt băm thẳng trên bộ ngực trần của mình. Đơn giản là mẹ lặng lẽ rút lui lại lên lầu, quay về với bàn tiệc tối mà không để họ biết là mẹ vừa có mặt.
Tôi có nghe thấy cha mẹ nói chuyện với nhau về việc cả gia đình sẽ định cư lại đây sau khi cha tôi mãn hạn phục vụ. Dường như cha mẹ khá hài lòng với cuộc sống ở Đông Dương. Tôi cũng vậy. Nơi đây có gì đó thật quyến rũ. Tuy nhiên, khi chín chắn hơn tôi ngày càng nhận thức rõ về lối sống của chúng tôi ở xứ thuộc địa. Tôi không nghĩ nhiều về điều này, nhưng tôi bắt đầu chú ý đến nhiều điều, những điều nho nhỏ liên quan đến người Pháp và người dân của đất nước mà chúng tôi đã chiếm lấy.
Nhà cầm quyền Pháp tự xem họ là đang thực hiện mission civilatrice, một sứ mệnh khai hóa văn minh và phát triển xứ Đông Dương, và thực tế đã làm rất nhiều để xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở đây – đường xá, cầu cống và đường sắt, những thành phố hấp dẫn với các tòa nhà đẹp và đại lộ thênh thang. Nhưng phát triển và duy trì một thuộc địa là rất tốn kém, và gánh nặng chi phí chủ yếu đặt trên vai của nhân dân dưới hình thức sưu cao thuế nặng. Để thực hiện công cuộc phát triển, quản lý và trật tự phải được duy trì, và đã thành truyển thống được người Pháp chấp nhận là bạo lực là cách thức hiệu quả nhất để làm điều này. Việc thi hành cưỡng bức luật lệ và trật tự Pháp rất khắc nghiệt, thường là tàn bạo. Tiêu chuẩn trả lương cho người Pháp và người Việt làm cùng một công việc là rất chênh lệch nhau, và mặc dù xét theo một mặt thì việc này cần làm để thu hút người dân Pháp kéo sang thuộc địa, đây là một nguồn dẫn tới sự bất mãn của người An Nam.
Trường tôi học, Lycée Albert Sarraut, là trường trung học tiếng Pháp ưu tú ở Hà Nội. Khoảng phân nửa số học sinh là người An Nam, và hầu hết bọn họ là con cái những công chức chính phủ được trả lương cao. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng chính phủ Pháp chỉ cung cấp một số lượng ít ỏi giáo dục tiểu học không bắt buộc cho người bản xứ, những người không có khả năng trả tiền. Có một sự khác biệt to lớn giữa kẻ có của và người tay trắng.
Ở trường lúc mới quen ta rất khó kết bạn với người Đông Dương và họ có khuynh hướng khép kín. Họ chịu khó ganh đua, nhìn chung siêng năng học hơn nhiều so với học sinh người Pháp và đạt kết quả khá cao, nhiều người giành được suất vào Đại học Sorbonne ở Paris. Những học sinh khá giả nhất tự trả tiền học đại học. Ở Đông Dương vàng rất được xem trọng và trong khi người giàu có rất nhiều vàng trong hầm nhà băng thì người nghèo chẳng bao giờ dám mơ đến.
Hầu hết các học sinh Đông Dương ở trường đều là những người dân tộc chủ nghĩa rõ nét, một số có khuynh hướng Cộng sản, và trong những người cùng thời tôi ở trường một số sẽ là các lãnh đạo đảng và chính phủ hàng đầu của nước Việt Nam độc lập sau này. Những nhà cách mạng tiềm năng không chỉ có trong số các học sinh mà cả trong nhóm giáo viên. Hai giáo viên trường tôi – Maurice và Yvonne Bernard, đôi vợ chồng người Pháp – sau này sẽ biến mất qua biên giới Việt – Trung. Họ là thành viên công khai của Đảng Cộng sản và thường trao đổi về quan điểm chính trị của mình với bất cứ ai muốn nghe. Họ nói rằng Đảng Cộng sản, một thành phần của Mặt trận Bình dân hoạt động hợp pháp, có ưu thế khá mạnh ở Pháp.
Thầy giáo lịch sử của tôi, người đồng thời cũng dạy ở Lycée Thăng Long, được đồn đại là dân Cộng sản bị cảnh sát lưu hồ sơ vì hoạt động có tính lật đổ. Nhưng tôi không thể nghĩ Professeur Giap lại là kẻ bạo loạn. Tôi thực sự có cảm tình với ông; tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều vậy. Ông là một người An Nam sôi nổi, nhiệt tình và, phần nào do vóc người thấp nhỏ, dường như không lớn hơn chúng tôi bao nhiêu. Ông có khuôn mặt tròn phúc hậu và luôn mặc bộ vest trắng tinh với sơ-mi trắng và cà vạt. Ông rất say mê Napoleon và hình như biết kỹ từng trận đánh của Napoleon tới từng chi tiết. Nhưng ông dạy sử cho chúng tôi khá công bằng và truyền đạt mọi giai đoạn lịch sử rất sôi nổi. Không như vợ chồng Bernard, ông không bao giờ nói bóng gió đến chính trị đương đại ở trên lớp. Ngay cả nếu ông có làm vậy chăng nữa thì chúng tôi cũng chẳng thấy phiền. Nhiều học sinh, trong đó có tôi, có khuynh hướng thân tả và cảm tình với cánh xã hội, bởi hệ thống thuộc địa ở Đông Dương không làm gì để khuyến khích chủ nghĩa tư bản dân tộc. Bên cạnh đó, dường như tôi thấy rõ rằng người giàu thì có quá nhiều trong khi người nghèo thì quá nghèo khổ. Chỉ cần ta để mắt nhìn xung quanh.
|