Thất bại của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã được định trước khá lâu, trước khi bị sụp đổ hoàn toàn vào tháng 3 năm 1954, tại trận chiến Điện Biên Phủ.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945 chính phủ Pháp gửi đến bờ biển của Việt Nam binh đoàn lính chiến “Maccie" và Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa dưới quyền tướng Leclerk. Vị tướng được bổ nhiệm làm chỉ huy các quân đoàn viễn chinh. Ông đã liên lạc với Đô đốc Thierry d'Arzhanle - Cao ủy Cộng hoà Pháp tại Đông Dương và cam kết sẽ khôi phục lại sự cai trị của Pháp tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Như bước đầu tiên tiến hành các hoạt động quân sự, ngày 23 tháng 8, toán lính dù Pháp đã được thả xuống một vùng của Nam Bộ (Nam Việt Nam). Quân Nhật đã cho phép toán lính dù này được vào Sài Gòn.
Trong những ngày đầu tiên của tháng 9 lực lượng quân đội Anh-Ấn Độ đã có mặt tại thủ đô của miền Nam Việt Nam, họ mở cửa các nhà tù, phân phát vũ khí cho các nhóm lưu manh. Một làn sóng cướp bóc và bạo lực đã lan ra khắp Sài Gòn.
Tại sao người Anh lại sốt sắng ủng hộ Pháp ở Đông Dương? Nỗi lo sợ cho tương lai các thuộc địa của mình đã buộc họ phải hành động mạnh dạn và dứt khoát, không để ví dụ xấu của Đông Dương lây lan tới các thuộc địa của Anh ở châu Á. Đó chính là động cơ các hành động của London ở Đông Dương.
Ngày 21 tháng 10 năm 1945 quân đội Anh-Pháp phát động một cuộc tấn công ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó các đơn vị của quân đoàn viễn chinh đã tiến lên cao nguyên Tây Nguyên. Chính phủ VNDCCH đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Từ năm 1946 đến năm 1952, quân đội Nhân dân Việt Nam (khi đó được gọi là Vệ quốc quân) đã thực hiện những trận đánh chiến thuật lớn, nhưng cũng ngay trong thời gian đó, hoạt động ngoại giao tích cực từ các chiến hữu của Hồ Chí Minh đã cho phép Vệ quốc quân có thời gian ngưng chiến, có thể bí mật và nhanh chóng sắp xếp lại lực lượng cùng khí tài quân sự.
Tới tháng 5 năm 1947, lực lượng vũ trang Pháp tại Việt Nam đã có hơn 115.000 người, nhưng, như các diễn biến chiến trường cho thấy, quân viễn chinh đã không có lợi thế quyết định mà phải chịu những tổn thất nặng nề, còn chiến thắng nhanh chóng như đã hứa thì chẳng thấy đâu giữa núi rừng xứ Annamit. Các hoạt động quân sự phối hợp của lính dù, các đơn vị trong binh đoàn lính lê dương và các đội tàu chiến trên sông (tháng 10 năm 1947) đã không cho kết quả tích cực. Trong vùng giải phóng khi đó đã xuất hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng!" Đó không đơn giản chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền. Việc sản xuất vũ khí, trang thiết bị quân sự và sửa chữa khí tài, mở đường mới được thực hiện trơn tru. Việc quyên gạo cho bộ đội và dân đã tăng đến 2 triệu tấn vào năm 1947. Phong trào tiết kiệm theo phương châm: "Hũ gạo nuôi quân" được thực hiện rộng khắp. Lực lượng Vệ quốc quân không ngừng được củng cố, những cuộc vận động tổ chức bồi dưỡng chỉnh huấn-chỉnh quân được tiến hành. Nghị định ngày 4 tháng 11 năm 1949 về nghĩa vụ quân sự bắt buộc được thực hiện và vẫn còn hiệu lực đến tận bây giờ .
Uy tín quốc tế của những người cách mạng được củng cố. Ngày 30 tháng 1 năm 1950 quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và VNDCCH được thiết lập, sự công nhận quốc tế và uy tín của nước cộng hòa trẻ tuổi đã được mở rộng.
***
Vào cuối năm 1950 một viên tướng mới đã đến Việt Nam, Tướng De Lattre de Tassigny. Ông mang theo những tài liệu về chiến lược quân sự mới và "học thuyết chiến tranh dồn ép" dựa vào việc nhận được nhiều hơn trang thiết bị quân sự của Mỹ. Xuất hiện cùng lúc tại Việt Nam là các cố vấn Mỹ từ Phái đoàn thường trực của quân đội Mỹ - MAAC. “Sale Guerre” ("chiến tranh bẩn thỉu") - người ta gọi cuộc chiến tranh của Tướng De Lattre tại Việt Nam như vậy.
Lực lượng lính viễn chinh đã phải chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Trong tháng 5 năm 1953, tướng Henry Navarre được bổ nhiệm làm chỉ huy. Trước Việt Nam, ông đã đến Washington, nơi ông đã thống nhất kế hoạch "chiến tranh cơ động" ở vùng núi và thung lũng dựa theo các đặc điểm tự nhiên của Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Để tiến hành các hoạt động quân sự, tướng Navarre được Mỹ cung cấp cho 785 triệu đô la, mà sau này cho thấy, tất cả đã bay theo gió ... Ngày 15 tháng 10 năm 1953 sau cuộc "diễu binh khải hoàn" tại Hà Nội, Tướng Henry Navarre bắt tay vào thực hiện một kế hoạch "Hải âu" hợp nhất các đơn vị chiến đấu của quân đội Pháp ở các khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Kế hoạch này đã thất bại, và ngày 07 tháng 5 năm 1954 sau 55 ngày đêm kể từ khi bị vây hãm, tập đoàn cứ điểm thực dân - Điện Biên Phủ đã thất thủ.
Ở Việt Nam và Paris người ta đã tổng kết cuộc Kháng chiến thứ nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử một nước thuộc địa nhỏ bé đã trở thành người chiến thắng trong cuộc đấu tay đôi với một cường quốc thực dân to lớn.
- Sau gần 9 năm chiến tranh, quân đội thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn đã mất gần nửa triệu lính và sĩ quan.
- Pháp đã đầu tư 2.688 tỷ franc và 2,6 tỷ USD nhận được từ Hoa Kỳ cho chiến tranh.
- Trong quá trình chiến tranh, các lực lượng cách mạng nhân dân đã tiến hành chính sách kháng chiến toàn diện trường kỳ trên cơ sở tự lực, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chống các tầng lớp phong kiến, tiến hành các hoạt động quân sự cùng với việc thực hiện cải cách ruộng đất, triển khai đấu tranh vũ trang, chính trị, kinh tế và ngoại giao, dần dần chuyển chiến tranh du kích thành chiến tranh với các lực lượng vũ trang chính quy.
Đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân được thực hiện kiên định. Ví dụ như hơn 200.000 dân công đã dành hơn 3 triệu ngày lao động cho việc vận chuyển các loại hàng hóa khác nhau ở Điện Biên Phủ. Hàng chục ngàn nam nữ thanh niên đã mở đường, cùng với công binh vô hiệu hóa bom, mìn trên đường vận chuyển. Hàng chục ngàn xe đạp, xe cút kít, tàu thuyền đã được sử dụng để cung cấp cho mặt trận thực phẩm, đạn dược và vận chuyển bộ đội.
Trong cuộc chiến tranh nhân dân này có nhiều thứ, nếu ở phương Tây chỉ có ý nghĩa thực dụng, còn khi được sử dụng ở phương Đông thì lại rất khác và hoàn toàn không còn mang ý nghĩa dân sự nữa. Ví dụ như chiếc xe đạp, người Pháp đã luôn luôn gọi những người Việt Nam là "dân trên xe đạp", nhưng dường như họ đã không nhận thức được rằng xe đạp là phương tiện giao thông mạnh mẽ và thậm chí còn là “loại vũ khí quân đội". Bằng một chiếc xe đạp, những người dân công đã di chuyển một quãng đường dài với 300-350 kg hàng hóa quân sự. Trên chiếc xe đạp, chiến sỹ liên lạc và quân bưu đã thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu quan trọng. Chiến sỹ súng cối đã bắn đạn cối từ bộ khung xe đạp và bộ đèo hàng phía sau.
Còn tre, loại cây thường mọc ở quanh xóm làng hoặc thị trấn? Đây là thứ vũ khí sắc bén, một cái bẫy, và là một loại vật liệu xây dựng phòng thủ. Những "người Tây" thường gọi người Việt Nam là "dân tre", trong cái tên lóng này có ý nghĩa tiêu cực, nhưng đối với Việt Nam, tre luôn có ý nghĩa tích cực, là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của nhân dân.
...Những búp măng mọc thẳng sau mùa mưa - chính là sự mạnh mẽ của thiên nhiên. Như những con ngựa chiến tung bờm. Cây tre - đó là người hiệp sĩ của mảnh đất Việt Nam. Đó là hiệp sĩ của tinh thần cao cả, vượt qua mọi sự lo toan thường nhật, là người hiệp sỹ mãi mãi sẵn sàng phục vụ nhân dân.
Với người phương Tây để hiểu biết Việt Nam không đơn giản. Đặc biệt là đối với những người đến với một thanh kiếm trong tay. Đối với những người vượt qua ngưỡng cửa của ngôi nhà Việt Nam với hòa bình và lòng tốt, Việt Nam sẽ trao tặng các bí ẩn và những đoá hoa của mình ...
Hoa cúc - biểu tượng của sức mạnh, sự cao thượng và là một dấu hiệu của mùa thu. Khi trời lạnh, hoa toả ra nhiều hương. Ý nghĩa của nó - gian nan mới biết ai là bạn.
Phù dung với những cánh hoa đỏ hồng lộng lẫy - như đời người ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Hoa này chỉ nở trong mười hai giờ.
Hoa sen - biểu tượng của sự thanh cao, đẹp đẽ, là dấu hiệu của mùa hè.
Hoa anh túc và hoa phong lan được gọi là hoa mùa xuân. Phong lan nở vào đêm trước của năm mới theo âm lịch. Được sùng bái như là hoa của tình yêu, tuổi trẻ, sự thanh lịch.
Hoa mận - biểu tượng của sự kiên cường, lòng trung thành. Cành mận - dấu hiệu của mùa đông.
Các nhà khoa học, nhà ngoại giao, nhà sử học, quân nhân, nhà văn, trí thức phải biết các biểu tượng và truyền thống Việt Nam.
Chiếc quạt Việt Nam có một vai trò đặc biệt. Đối với người Việt, quạt có một khái niệm rộng. Vật dụng này được phú cho quyền hạn đặc biệt, và mỗi chuyển động của chiếc quạt đều có thể mang một ý nghĩa nhất định.
Chiếc quạt - đó vừa là nhà hát, vừa để biểu lộ tình yêu. Và đôi khi một cái phẩy tay cầm quạt là một dấu hiệu của một lời tuyên chiến. Vài thế kỷ trước một nhà văn Việt Nam đã từng viết: "Tâm hồn tôi được mở ra cùng với chiếc quạt...". Thế kỷ XV, nhà quân sự và nhà thơ Nguyễn Trãi đã khuyên nhủ các nhà ngoại giao không bao giờ được rời khỏi chiếc quạt. Trong khi nói chuyện, các vệ sĩ đứng đằng sau viên sứ giả chỉ nhờ duy nhất vào chuyển động của chiếc quạt đã có thể biết cuộc đàm phán được tiến hành như thế nào. Chiếc quạt đã chuyển tải tâm trạng nhà ngoại giao: quạt vẫy chậm có nghĩa là có sự hiểu biết, bình tĩnh và nồng ấm trong cuộc trò chuyện giữa hai bên. Khi viên sứ giả vẫy quạt nhanh nhưng đều đều có chừng mực thì đó là một dấu hiệu của sự hòa giải. Nhưng nếu nhà ngoại giao bất ngờ gấp quạt lại và nâng nó lên mặt mình, thì có nghĩa là - chiến tranh không thể nào tránh khỏi. Đã bao nhiêu lần chiếc quạt đã phải gấp lại trong 4000 năm lịch sử của Việt Nam!
***
Đống tro tàn của cuộc chiến thứ hai. Sự kết thúc cuộc phiêu lưu thực dân của nước Pháp trên sân khấu Đông Dương (1946 - 1954). Thất bại của quân đội Pháp đã được Mỹ lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Hạm đội 7 của Mỹ đã tiến gần đến bờ biển Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã đề xuất các lực lượng đế quốc ở Đông Dương phải "phối hợp hành động".
Phản đối các biện pháp này, vào tháng giêng năm 1954, theo sáng kiến của Moskva, một hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đã đạt được thoả thuận triệu tập. Sau 72 ngày đấu tranh ngoại giao phức tạp và nhạy cảm, ngày 20-21 tháng 7 năm 1954 hội nghị Genève về Đông Dương đã tiến hành thông qua các quyết định về việc chấm dứt chiến sự, đã có kế hoạch vạch ra sự phát triển của ba nước Đông Dương theo hướng hòa bình, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau. Nhưng điều đó không nằm trong các kế hoạch quân sự và chính trị của Hoa Kỳ ở Đông Dương và Đông Nam Á.
Hoa Kỳ từ chối tham gia tuyên bố cuối cùng của hội nghị, nhưng đối mặt với yêu cầu của dư luận quốc tế, đã buộc phải cam kết thực hiện theo "tinh thần và câu chữ" của hiệp định Genève năm 1954. Trên thực tế, đó là khởi đầu của việc can thiệp về chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự quy mô lớn của Mỹ vào công việc của các dân tộc Đông Dương. Thậm chí khi đó đã bùng cháy ngọn lửa một cuộc xung đột quân sự khu vực mới, không chỉ một lần có xu hướng phát triển thành thảm họa quân sự toàn cầu. Đống tro tàn cuộc chiến Đông Dương thứ ba sẽ được phân tán chỉ sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Và bây giờ, hơn hai mươi năm sau, theo trình tự thời gian, theo dõi từng bước diễn biến của chiến dịch quân sự "Hồ Chí Minh" (mùa xuân 1975), nhà sử học và nhà báo đã kể lại với nhiều chi tiết cụ thể về chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Bộ máy tuyên truyền phương Tây đã gọi những hoạt động của Việt Cộng là "hành động khủng bố". Nhưng đó là một cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân vì tự do và giải phóng dân tộc. Chính Hoa Kỳ đã đóng vai trò của một tên sen đầm quốc tế.
Thảm họa cuộc chiến thứ ba ở Đông Dương đã cướp đi một triệu rưỡi sinh mạng, kết thúc bằng những núi tro tàn ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Nhưng khi những vết thương chiến tranh thậm chí chưa kịp lên da non, thì một cuộc xung đột mới lại bắt đầu. Lần này là với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tham vọng lãnh đạo chính trị trong khu vực Đông Nam Á, nhưng không thể áp đặt "luật chơi " lên các dân tộc Đông Dương. Cuộc chiến tranh ba mươi ngày đã trải dọc theo toàn bộ chiều dài (1.400 km) biên giới Trung Quốc-Việt Nam trong tháng 2 - tháng 3 năm 1979. Cuộc chiến tranh này là đòn đáp trả của Bắc Kinh cho sự thất bại của chế độ Pol Pot ở Campuchia, một nỗ lực để "trừng phạt Việt Nam bướng bỉnh", biểu dương ”sức mạnh cơ bắp” và đồng thời để đưa ra một lần nữa tuyên bố lãnh thổ của họ trên một số các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, ...) ở khu vực biển Đông. Nhưng không được.
Những chương đặc biệt của cuốn sách được hướng tới các khu vực "sườn" Đông Dương - hai nước Lào và Cam-pu-chia, là nơi mà lãnh thổ của họ cũng đã bị bao phủ bởi ngọn lửa chiến tranh và được miêu tả trong một bối cảnh chung của cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc và chống chủ nghĩa bá quyền của các dân tộc Đông Dương vì độc lập, hòa bình, tự do và tiến bộ xã hội.
Các chương về cuộc xung đột vũ trang Việt Nam-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1979 có lẽ là tác phẩm báo chí đầu tiên của tác giả nước ngoài này, là người đã chứng kiến các sự kiện và có thể mô tả chúng một cách khách quan, đầy đủ. Vào thời điểm đó, trên biên giới bị bao phủ bởi lửa đạn đã có khoảng 70 nhà báo của gần 40 quốc gia từ các châu lục khác nhau. Tuy nhiên, cuốn sách này, hơn hai mươi năm sau, là tác phẩm đầu tiên của các sự kiện tại thời điểm đó, nhiều sự việc cho đến tận bây giờ vẫn còn được coi là các bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương trong thế kỷ XX.
Ngô Gia Sơn
Nhà báo Việt Nam