Sau đó chúng tôi xuôi về phương nam đến Khenifra, dưới chân dãy núi Trung Atlas, dọc theo các con đường gồ gề lộng gió, ngang qua những ngôi làng nhỏ bé có các ngôi nhà vách đất mái bằng, có mấy con lừa còng lưng thồ mớ củi tướng, và lũ nhỏ, tà áo dài lật cả lên, đang chăn đuổi đàn dê lông lốm đốm. Một đoàn du mục đi ngang, súng trường dài ngoẵng đeo cao tréo qua vai, cưỡi trên những con ngựa trang trí sặc sỡ, ngù len lắc lư. Tôi quên bẵng chứng say xe của mình vì phấn khích mỗi khi dừng lại bên một đoàn lạc đà chở các thùng gỗ lớn chứa muối, trong lúc chờ tài xế chúng tôi hỏi đường người Ả Rập cưỡi lạc đà.
Khenifra là ngôi làng nhỏ nằm bên rìa một sa mạc hoang vắng biệt lập. Đoàn Lê dương Ngoại quốc là một đội quân gồm những gã yêng hùng, phần lớn là kẻ trốn tránh xã hội nhưng hết sức có kỷ luật, đi bộ tuần tra trên sa mạc và các điểm nóng vùng núi, chúng tôi hiếm khi trông thấy họ. Bản thân cư dân làng này cũng chỉ không hơn một trăm người Ả Rập. Có thêm vài đứa trẻ người Pháp, loanh quanh tám đứa cả thảy, hầu hết đều lớn hơn tôi. Sung sướng và thường chơi cùng một nhóm bạn của mình, tôi nghĩ ra đủ thứ trò – đi bắt rùa trên sông, làm một cái hồ cho chúng trong khoảng sân có tường vây của nhà tôi, cho chúng ăn, tắm rửa cho chúng, cho chúng thi bò nhanh. Bourico, chú lừa nhỏ của tôi, người bạn thân thiết nhất, cũng sống chung trong khoảnh sân đó và cõng tôi đến ngôi trường bé tí xíu để học cùng đứa bạn cùng lớp duy nhất của tôi. Sau đó tôi thường thơ thẩn dọc chuồng ngựa để giúp chú coi ngựa chăm sóc những con ngựa Ả Rập tuyệt đẹp mà cha tôi hay cưỡi đi tuần tại tám chốt pháo binh trên sa mạc do ông chỉ huy.
Những kinh hãi của nơi này thậm chí cũng trở thành trò tiêu khiển của một thằng con trai. Ban đêm bò cạp từ sa mạc bò vào, lặng lẽ chui vào phòng ngủ của tôi rồi trườn xuống dưới tờ báo mà anh cần vụ người Senegale luôn đặt trên giường cho tôi. Mỗi khi nghe thấy tiếng loạt xoạt của chúng, tôi liền dụi mắt nhỏm dậy để đập chết bằng cái dụng cụ chuyên dùng để giết bò cạp của mình. Tồn tại mối hiểm họa từ người chleuh, tức những người Ả Rập chống đối lang thang khắp sa mạc để đánh cướp có vũ trang, tấn công làng mạc và cướp đoạt gia súc, đôi khi là cả phụ nữ. Và dĩ nhiên có cả người Touareg, khiến trẻ con sợ hãi hơn cả vì mặt họ vẽ màu xanh lam, bọn này đã bắt đi toàn bộ gia đình quân nhân mà chúng tôi đến thay chỗ, gồm cả cha, mẹ và các đứa con. Họ đã thâm nhập và tản ra ở bờ cấm bên kia của sông Oumer Rebia, nơi có thể tìm thấy những con rùa to đẹp nhất đang tắm nắng trên các tảng đá.
Tôi vẫn còn là trẻ con và người duy nhất lúc nào cũng luôn bên tôi là mẹ tôi, người mà tôi tôn thờ. Sau này, khi chuyển từ tuổi niên thiếu sang thời thanh niên, có đôi lần tôi cảm thấy ngột ngạt vì mẹ quá yêu thương mình, mặc dù tình cảm ruột thịt vẫn khiến tôi dễ dàng hông cảm cho mẹ. Trong phần lớn thời niên thiếu của tôi cha tôi chỉ lâu lâu tạt ngang, tôi cũng chẳng hiểu cha mấy, một người luôn thẳng lưng, trịnh trọng, mặc bộ quân phục, hay bắt tay tôi hơn là hôn tôi và xa nhà rất nhiều. Tôi hết sức kính trọng ông nhưng không bao giờ cảm thấy mình hiểu được cha. Ông rất tôn trọng mẹ với một vẻ kiềm chế rất thịnh hành hồi đó và khá khác lối thủ thỉ tâm tình của mẹ đối với tôi.
Maman là người rất thân thiện với mọi người xung quanh. Chỉ có vài phụ nữ Pháp ở Khenifra – gồm vợ của một cựu binh giải ngũ và một sĩ quan khác, bà hiệu trưởng và hai hoặc ba người khác – và mẹ hết sức cố gắng đễ vẫn giữ cách sống cũ của mình. Căn nhà của chúng tôi là nơi chiều chiều các bà các cô và chồng họ tụ tập, bởi nhà tôi có chiếc máy hát duy nhất trong thị trấn. Sau bữa tối tôi được phép thức rất muộn để xem họ nhảy, miễn là tôi chịu khó ngồi quay tay máy hát.
Tôi thích âm nhạc, thích các bộ váy đầm dài xoay vun vút trong điệu foxtrot, điệu nhảy hai bước, bởi các quý bà ăn mặc đẹp trong những dịp như vậy để tìm cách trốn khỏi thực tế cuộc sống của mình ở cái chốn xa xôi khỉ ho cò gáy đầy bụi bặm này của đế quốc Pháp.
Khi tôi mười một tuổi, chúng tôi đi xuống phương nam đến Madagascar, đến đảo quốc phía đông của Mozambique từng có thời là mốc đệm để các hoa tiêu Pháp định hướng hải hành đi khắp đế chế. Chốt biên giới nhỏ bé Diego Suarez ở bắc hòn đảo đã trở thành nhà của chúng tôi, một nơi thật thanh bình nên Papa chẳng có gì nhiều để làm trong quân ngũ ngoài việc có mặt. Tại đây, lần đầu tiên trong đời tôi, cha đã có chút thời gian rảnh chăm sóc cho tôi.
Đôi khi chúng tôi giương một tấm buồm vuông kiểu địa phương trên bãi biển toàn đá, với một người Châu Phi to nhe răng cười đứng điều khiển, và lướt vòng quanh bờ biển theo làn gió buổi chiều tới những nơi bí mật an toàn để câu cá, bồng bềnh theo ánh hoàng hôn. Làn nước, nhung nhúc những loài khó ưa – cá sấu caiman, lươn điện, cá đuối điện và cá đá có gai cực độc – hình như chỉ làm tăng thêm nỗi tò mò hấp dẫn.
Trong khu rừng rậm ẩm ướt Papa và tôi thường đi săn bươm bướm, những con bướm tuyệt đẹp to như con chim sẻ với sải cánh đến 25 cm màu sắc sặc sỡ, bụng luôn nơm nớp canh chừng con trăn thắt người khổng lồ nổi tiếng là hay bắt ăn dân địa phương. Đất đai hãy còn hoang vắng, thực sự chưa bị bàn tay con người đụng đến, một yếu tố thu hút vài vị khách du lịch người Pháp từ thủ đô Tananarive ở phía nam đến đây tham quan. Họ thường đến thăm cái hồ gần thị trấn để nấp sau rặng tre bên bờ hồ và quan sát đám cá sấu caiman lén lút ăn mồi. Nhẹ cân hơn cá sấu thường, cá sấu caiman dài tối đa 2,4 đến 2,6 mét với cái mõm nhọn thuôn, và chúng thường quay đầu ngược về phía đuôi hệt như cá heo mỗi khi có bất kỳ chuyển động nào sau rặng tre.
Không có gì khác để làm ngoài việc đi dạo trên các con phố của thị trấn, Maman và tôi thường lạng qua chỗ mấy gian chợ yên tĩnh nơi đám thợ thủ công người địa phương da đen bán sản phẩm của họ, những món đồ tuyệt đẹp giát đá quý và chạm lộng tinh xảo. Trong con mắt của một đứa trẻ, những người Phi Châu này thật vui tươi và thân thiện hơn nhiều so với dân Ả Rập ở Ma-rốc. Cuộc sống nơi đây có vẻ như thật đơn giản. Đường phố luôn đầy ắp tiếng cười, bởi họ cười rất nhiều, họ cười trước mọi thứ mà tôi bật cười. Họ rất thẳng thắn, dễ thổ lộ và ít phức tạp hơn nhiều so với những người mà sau này tôi được biết ở Đông Dương, và có lúc tôi nghĩ lại rằng có khi chính vì sống đơn giản không phức tạp mà họ đã có được thời gian để tận hưởng cuộc đời.
Thời niên thiếu của tôi thật yên ấm và đầy đủ, do tôi được bảo bọc bởi người mẹ mang trong mình nỗi đau đã mất một đứa con trước đó. Tôi không còn nhớ nhiều về Margaret em gái mình, ngoại trừ việc suốt mấy ngày sau khi em mất vì viêm phổi lúc mới mười tám tháng, mẹ tôi, người bảo bọc tôi, chỗ dựa vững chắc của tôi, gào khóc như hóa điên; rồi sau đó, xanh xao và kiệt sức, mẹ ôm tôi chặt đến nỗi tôi phải vùng ra để thoát. Kể từ đó trở đi tôi sống như bị tách rời khỏi thế giới bên ngoài vì sự chăm chút của mẹ tôi, bất cứ chúng tôi sống ở đâu cuộc sống của tôi cũng y hệt, tôi không bao giờ chán khi được một mình ở bên cạnh Maman để làm những chuyện lặt vặt.
Thật thú vị mỗi khi từ nơi đồn trú trở về Pháp, với các lớp học luôn đầy học sinh cùng tuổi tôi. Nhưng thậm chí ở đấy tôi cũng đơn độc, bởi sau giờ học tôi không được phép đi đâu mà không có cha mẹ đi cùng và rất khó để có được một tình bạn bền lâu. Các dịp cuối tuần tôi chỉ biết lịch sự ngồi trong phòng khách nhà bạn bè cha mẹ hay vơ vẩn theo sau họ đi xem hát hay dạo bộ buổi chiều. Ngoài mẹ ra, tất cả những gì tôi có chỉ là làm bạn với lũ vật nuôi. Tôi phải bằng lòng với việc tiêu khiển thời gian một mình.
Thời niên thiếu của tôi là dõi qua hàng rào xem lũ trẻ khác chơi đùa, qua tiếng la hét cười nói của chúng tôi biết hình như chúng có một gia đình thật đông đúc. Có lẽ thời niên thiếu của tôi cũng khá hạnh phúc, nhưng thật cô đơn.
|