Tính phức điệu thế giới quan của văn học Nga những năm 1920-1930
TS. S.G. Seminova
(Tiếp theo)
Thử thách ở điểm cực. Nghịch lý của con người
Những nhân vật chính trong các truyện ngắn của Gorki những năm 1922-1925, cũng như trong vô số các tiểu họa, phác thảo, chân dung, bút ký, hình thành từ những ghi chép dạng nhật ký và hồi ký về các cuộc gặp gỡ với những con người thực (cuốn sách Những nhận xét lấy từ nhật ký. Hồi ức, 1923), - hoàn toàn không phải là những con người mới, có mục đích biến cải cuộc sống. Trong tip người kẻ khuấy đảo (như A.K. Voronski đặt tên), mà ông kiên trì xây dựng vào thời kỳ đó, có một cơ chất hư vô chủ nghĩa rõ rệt: thái độ bất mãn sâu xa nào đó trước cái phi lý của sinh tồn con người và xã hội phát triển thành sự ưa chuộng mang tính mỹ học, có ý thức những bịa đặt kỳ quái, những điều nhảm nhí sặc sỡ, những trò hề, chuyện vô nghĩa (truyện ngắn Cuộc sống xanh lam). Trong tập hợp những văn phẩm thuộc thể loại nhỏ, nhà văn dường như muốn dò tìm con người trên các ranh giới cực hạn của nó, những cực hạn của sự ngỗ ngược phi lý, sự nổi loạn lệch lạc chống lại chính những điều kiện tồn tại của con người tự nhiên hữu tử, những xung năng tội ác của nó, tất cả những gì cần phải thử thách để tìm sự vững chãi cho bản thân ý niệm Con người. Gorki khảo sát tỉ mỉ tâm lý của một kẻ khiêu khích, "một người rắc rối", phân thân, ham muốn lạ lùng "làm điều đê tiện nào đó cho một ai đó - người nào gần gũi nhất" (truyện ngắn Karamora). Ông khắc hoạ một nhân vật đao phủ, nhưng xem ra biểu lộ mối quan tâm đặc biệt tới một tip những kẻ giết người, không phải giết người vì lý do mưu sinh hay tư tưởng, cách mạng, mà là một dạng cuồng điên siêu hình, buộc người ta ở mức độ nào đó - về mặt động cơ - phải nhớ tới một số nhân vật của Dostoievski. Một thầy giáo môn tập viết lặng lẽ, cô đơn, qua những ghi chép để lại sau khi hắn chết, đã lộ ra là một kẻ săn tìm và sát hại có hệ thống những người hắn gặp tình cờ (Thầy giáo môn tập viết). Còn người đánh xe ngựa chở hàng Merkulov thì biểu lộ những xung năng bên trong của những ám ảnh khủng khiếp bởi những việc chính hắn đã làm; một lần sau khi gần như vô tình giết chết một người, y chợt thấu thị một phát hiện gây sốc và đầy xúc phạm: hoá ra, con người thật là "mong manh", nhoáng một cái có thể giết chết bất cứ người nào, như một con ruồi, mà thế có nghĩa là bản thân y có thể bị bất kỳ ai đó trong nháy mắt tước đi cuộc sống - và một nỗi sợ khủng khiếp cho sự sống của mình xâm chiếm y, càng làm y khát khao cháy bỏng hơn thử nghiệm một lần nữa trên người khác cái phát hiện của mình "vì tò mò", điều mà, cũng xin nói thêm, y sẽ hai lần nữa thực hiện vì không kiềm nén được mình (Những thí nghiệm).
Con người sát nhân đã trở thành trung tâm của nhiều khảo sát nghệ thuật trong văn học những năm 1920. Cần hình dung một cách thực tế, rằng cách mạng và nội chiến là thời gian của những tình huống cực đoan dày đặc vây quanh, đặc biệt đối với những người bị cuốn vào dòng xoáy của nó, mặt đối mặt với phép siêu hình của sự sống và cái chết, là thời gian trải nghiệm cái chết như một hiện tượng phổ biến, bình thường. Vsevolod Ivanov và Lidia Seiphullina, Aleksandr Neverov và Artiom Vesiolyi, Aleksandr Phadeev và Dmitri Phurmanov, Larisa Reisner và Isaak Babel… - tất cả, dù mỗi người một cách, đều đến với văn học trong cùng một cơn sốc của thời đại cách mạng, thời đại của sự lộng hành giết chóc chưa từng có, của thú tính hoá, của khao khát trả thù vô hạn độ được bung ra hoặc của sự cuồng tín hy sinh quên mình, của chất lãng mạn cách mạng… Cuộc sống của con người, vẫn được xem là đỉnh cao của sáng tạo và chủ nhân tạo tác của vũ trụ, bị hạ giá xuống vô cùng rẻ mạt, còn sự tồn tại và nhân cách của "kẻ thù", kẻ xúc phạm, thì đã mất hết không chỉ bất kỳ tính thiêng liêng nào, mà còn không giữ được dù một giá trị nhỏ nhất. Giết chóc, xác chết - là vật ngang giá chung của những khát vọng độc ác nung nấu, là đồng tiền trao đổi của báo thù, sự tự vệ, hay đơn giản là sự không thoả mãn, sự tiêu khiển man dại…
Hiện thực bi thảm và dã man, anh hùng và thấp hèn đến sửng sốt đó đã được khai mở, giải phẫu và khảo sát, trút vào các tác phẩm của nền văn xuôi mới, đẩy lùi khỏi mặt tiền của sân khấu văn học những sáng tác thơ ca từng thắng thế trong những năm đầu tiên sau cách mạng, mà trước hết là thơ ca vô sản, với các tuyên ngôn của nó về lý tưởng và những kế hoạch cải tạo vũ trụ cho tương lai vĩ đại. Cũng tại đây, văn xuôi biểu lộ sự tương phản quyết liệt với thơ ca: nếu như thơ ca dường như rung ngân, rền vang, ngợi ca trong một sự trống rỗng tu từ học duy lý tưởng nào đó, thì văn xuôi xô viết mới, bắt đầu sự phát triển của mình từ những hình thức nhỏ của bút ký và truyện ngắn, sau đó đến tiểu thuyết, ngược lại, đi sâu vào tính cụ thể sặc sỡ muôn màu của hiện thực, những phi lý lạ lùng của bản tính con người, sự không khoan nhượng khủng khiếp trong mối quan hệ giữa các giai cấp, phe nhóm, giữa người với người. Văn xuôi không những không mắc phải tinh thần lạc quan tếu, như thơ ca thường lâm vào, mà còn cho thấy những xung đột đầy kịch tính và thường là bi thảm, thậm chí bế tắc của sinh tồn, - không phải vô cớ người ta chê trách nó ở chủ nghĩa hiện thực quá ư sống sít, tàn nhẫn, tự nhiên chủ nghĩa… Các cây viết truyện ngắn những năm 1920 có khả năng truyền đạt một cách chú mục và đầy khí chất cái khát khao giết chóc không thể kìm hãm của cả hai phía, những cảnh bắn giết, nhạo báng, phanh xẻ xương thịt, những thực tại ghê sợ mang tính chất sinh lý học về xác chết, bằng những trang viết cô đúc làm nhức nhối độc giả bởi độ lắng đọng của nỗi kinh hoàng bình thản trước những tội ác và xác chết chồng chất từ cả hai phía. Và ở đây, như có thể lấy xẻng mà xúc, chỗ nào cũng có dẫn ra hàng chục, hàng trăm thí dụ, từ Artiom Vesiolyi và Isaak Babel đến Vsevolod Ivanov và Mikhail Solokhov…
Cái sơ đồ tiểu sử tương đối điển hình cho các nhân vật là: thoạt đầu họ là những người lao động yêu hoà bình, sau đó chiến tranh thế giới làm sinh ra trong họ tên giết người, đẩy họ vào một cuộc huỷ diệt điên cuồng, còn Lênin và Trotski thì chỉ làm sắc nhọn thêm lưỡi lê, hướng nó vào một đối tượng khác, đích xác, có địa chỉ về mặt tư tưởng - sơ đồ ấy đã được tái tạo, phân tích sâu sắc trong tác phẩm Kẻ cắp (1926-1927) của Leonid Leonov. Mitka Veksin, người anh hùng cách mạng, hiện là ông vua tội phạm, bị bẻ gẫy thực ra không phải do chính sách kinh tế mới, mà do cái mà tâm hồn nhân dân đã buộc phải trải qua: sự giết chóc hàng loạt những người gần gũi, sự xuống giá ghê gớm của nhân cách và cuộc sống con người, sự sổ toẹt những điều thiêng liêng. Lương tâm đau đớn của kẻ giết người (trong nội chiến anh ta đã giết tên bạch vệ một cách có chủ ý, hữu thức, dường như giết để chiếm lấy con ngựa, nhưng thực tế - đó là do ghen tị với văn hoá của hắn ta) đã đầu độc toàn bộ lục phủ ngũ tạng người anh hùng, nơi hỗn hợp chất độc tiết ra từ những đớn đau ám ảnh và những ảo giác hoang tưởng, từ sự thất vọng và ghê tởm bản thân đến mức bàng quan với tất cả.
Hơn nữa tác giả kiên trì và dường như không xác đáng lắm về mặt hiện thực lắp ghép đoạn mô tả những cảm giác buồn bã nội tâm của Mitka, những giằng xé tâm hồn của anh ta với những mộng mơ về cải tạo nhân loại, chắp nối khía cạnh khoa trương mỹ từ trong bản tính của Veksin, cái khẩu hiệu thường trực của anh ta "tiến lên phía trước và lên cao hơn" với trái tim nguội lạnh và một lương tâm đau đớn. Trên thực tế sự lắp ghép khiên cưỡng này làm giảm giá rất nhiều những mơ ước đó và tín điều chính yếu "kiểu Gorki” của anh ta. Và Veksin, một cách hoàn toàn lôgic, không thể không tiến tới lối thoát duy nhất cho cái tư tưởng đã thất bại hoàn toàn với những trù định lý thuyết không tưởng về một thành công đơn giản và chóng vánh: chúng ta đang nói về sự tất yếu xuất hiện... một người hùng, một nhà độc tài, "người chăn chiên", "người cha yêu thương hết thảy <…> nhưng với đầy đủ lệ bộ/ của sĩ quan cảnh sát", người ra lệnh và dẫn dắt bằng bàn tay sắt, bằng cơ bắp thép để "vượt qua", để tới đó, tới nơi "chói sáng mặt trời" của hạnh phúc không bao giờ tắt!
Cả Veksin lẫn Chikilev, một dạng nhà tư tưởng tại gia của ý tưởng kiểm soát toàn phần đối với con người "trong vương quốc tương lai", mỗi người theo kiểu của mình, cố gắng chỉnh sửa theo lối cưỡng bức-mệnh lệnh những “trái khoáy” của con người, cái mà Dostoievski gọi là sự ngỗ ngược, còn nhân vật khác của Kẻ cắp, nhà văn Phirsov, tiếng nói điều tra và khảo sát chính trong tiểu thuyết, một dạng cái tôi khác của tác giả, thì gọi là "một hệ số nhân tính". Chính từ giác độ của "hệ số" phi lý đó, từ những mâu thuẫn và khát vọng của bản tính con người đã phát ra lời phê phán sâu sắc nhất, có thể nói, mang tính nhân học về cách mạng, với những hy vọng cuồng nhiệt của nó về một sự xếp đặt nhanh chóng cuộc sống hạnh phúc-hợp lý.
Không phải vô cớ mà các nhân vật trung tâm trong các tiểu thuyết khác của Leonov những năm 1930, những nhà xây dựng chủ nghĩa xã hội, dù đó là Potiomkin - người khởi xướng và lãnh đạo công trường trong Sot - hay Kirillov, con người - thái sơn, trưởng phòng chính trị của tuyến đường sắt trong Đường ra Đại dương (1933-1935) đều bất thình lình, đột ngột và ngu ngốc đến đáng tiếc trở thành vật hy sinh cho những sức mạnh huỷ diệt đen tối, thuộc về bản chất của các sự vật trong thế giới hữu tử này. Đang lúc công việc vận hành hết cỡ, khi mọi người đặc biệt cần họ, thì bệnh tật đột ngột hất họ ra khỏi yên cương, vo viên các tư tưởng gia, những người khổng lồ, các nhà chinh phục thiên nhiên thành một dúm khổ sở, thờ ơ với tất cả, rũ xuống thành tro bụi thảm hại…"An hùng-an hùng, nhưng an hùng lại bị lòi dom!" - viên kỹ sư nếp cũ Philipp Renne, "người trí thức thoái hoá" trong "Sot" cứ nhắc đi nhắc lại một cách ám ảnh. Nhưng cái “trò xỏ lá man rợ" đó, "dính vào lưỡi" từ thời cách mạng, đi kèm với mỗi lần xuất hiện của nhân vật ấy trong tiểu thuyết là gì, nếu không phải một định thức thô thiển của một quỷ kế tiềm ẩn trong số phận của chính Potiomkin hay Kirillov: những nhà cải cách táo bạo của chúng ta đã quên mất một bất tiện nhỏ của tự nhiên – vị chúa tể kiêu hãnh kia của tự nhiên không hề được bảo vệ trước bất kỳ sự ngẫu nhiên bên ngoài nào, trước vi trùng gây hại hay trước biến chứng của bệnh tật!
Thật thú vị là các nhà văn lớn nhất của thời kỳ đó, trong khi các cách tiếp cận giai cấp-xã hội đối với sinh tồn đang thắng thế, đã có thể lôi cuốn sự quan tâm như vậy đối với cốt lõi tự nhiên-bản tính của các sự vật, đối với bản thân cơ chế hữu tử thuộc về bản thể của con người và thế giới, nó hoàn toàn không đếm xỉa đến bất kỳ những dự báo và hành động lịch sử và xã hội nào. Trong bút ký Những người xa lạ của Gorki, vị cựu bác sĩ Arkadi Riuminski, người đã từ bỏ cuộc sống có nền nếp chỉn chu và bỏ đi lang thang, như một máy chiếu tâm hồn đích thực đã phát lộ một cách tinh tế và sâu sắc nguyên nhân sâu xa nhất của cái ác và chủ nghĩa hư vô trong bản tính con người: “Ngay từ đầu, khi mổ xẻ những xác chết, tôi đã suy ngẫm rất nhiều về sự nhỏ mọn của con người, và cảm thấy một sự mỉa mai độc ác nào đó đối với tôi, trong tôi bắt đầu lớn lên cảm giác ghê tởm đối với mọi người và ghê sợ đối với bản thân, cái người có sứ mệnh trở thành một xác chết”(11). Sự hữu tử của con người, nỗi buồn chán giày vò nó, cảm giác về sự vô nghĩa của sinh tồn, chủ nghĩa hư vô nảy sinh trên nền tảng nỗi tuyệt vọng băng giá về sự cứu thoát khỏi cái chết, - tất cả cái đó nơi Gorki, không nghi ngờ gì, đã được kết lại ở đây vào một nút thắt.
Trong một văn phẩm của mình, có tên gọi Từ những hồi ức (1917), Gorki mô tả một hoàn cảnh đáng thương: “trong nhà bếp chật chội, bẩn thỉu” một người quen sáu mươi tuổi của ông, một con người dũng cảm và đáng kính, đã chết như thế nào. Quang cảnh của “trò chơi đểu cáng của thần chết”, sự huỷ hoại không tránh khỏi của con người diễn ra ngay trước mắt ông, gợi nên trong tác giả cảm giác “bị xúc phạm sâu sắc”: “Tôi thấy là, có lẽ, chỉ vài phút nữa thôi con người này sẽ câm lặng, vụt tắt, nhưng – sao mà khó tin vào điều đó! Sau đó tôi nghĩ rằng đến một lúc nào đó con người sẽ chiến thắng cái chết. Tôi không có cơ sở nào khác để tin vào chiến thắng trước cái chết, ngoại trừ một căn cứ là - đấy, một người đang chết và điều đó thật đơn giản, thật không cần thiết biết bao”(12)...
===================
(11) Sđd, tr.181.
(12) Sđd. Tập 14, tr.218.
(Còn nữa)
TỪ THỊ LOAN dịch
|