View Single Post
  #5  
Cũ 16-05-2008, 19:45
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

GS.TS. V.A. Keldysh

(Tiếp theo)

Ý nghĩa của di sản cổ điển Nga đối với văn học giao thời thế kỉ đã được nhận thức từ buổi bình minh của thế kỉ bạc (chúng tôi đã điểm qua cuốn sách của Merezhkovski để chứng minh điều này). Và cuối cùng thì những sợi chỉ kết nối chắc hơn cả đã có được nhờ sáng tác của Dostoevski. Mối quan tâm tới ông trong đời sống tinh thần Nga giáp ranh hai thế kỉ là không thể sánh nổi so với những thập niên trước đó. “Xã hội Nga đang tiếp nhận di sản mà nó chối bỏ rất lâu”(45), - S.N. Bulgakov viết. Trong sáng tạo nghệ thuật không đếm nổi những lời viện dẫn thường xuyên tới Dostoevski (từ Belyi và Remizov tới Gorki) và những cách giải quyết vấn đề của ông đã được các nhà văn đầu thế kỉ XX kiểm chứng thông qua kinh nghiệm bản thân - kiểm chứng với sự tin tưởng hoàn toàn đối với ông, cũng như những tranh cãi quyết liệt cùng ông. Song cả hai trường hợp đều khẳng định sự cần thiết của Dostoevski. Sự cần thiết, một cách gián tiếp, thể hiện cả ở những hiện tượng văn học không có liên quan trực tiếp tới sáng tác của nhà văn này và cũng không nhận thức được sự lệ thuộc đối với ông.

Một trong những tuyến kế thừa quan trọng nhất bắt đầu từ Dostoevski là những suy tư của nhà văn này về số phận từng cá nhân riêng lẻ trong quan hệ của nó với cái chung, đó là những suy tư căng thẳng nhất trong toàn bộ văn học cổ điển Nga, và cuối cùng cũng là vấn đề quan trọng nhất - giữa những lí giải khác về vấn đề cá nhân - đối với văn học giao thời thế kỉ.

Viacheslav Ivanov viết về Dostoevski – “một thi sĩ của bộ sử thi bất tận về cuộc chiến giữa Chúa trời và quỹ dữ trong trái tim con người”(46), nhắc tới những lời quen thuộc đã trở thành văn tuyển của Dmitri Karamazov: “Ở đây quỷ giao chiến với Chúa trời và chiến trường là trái tim con người”(47), trong đó - đặc trưng cho Dostoevski - nội dung bản thể rộng lớn nhất hiện ra hoàn toàn mang tính cá nhân, trong những xung đột tinh thần của con người cụ thể. Cặp đối lập “Chúa trời và quỷ dữ” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sáng tác của Dostoevski, còn được nhà văn xác định một cách khác, gần với cốt lõi tư tưởng của ông hơn, - “Thần - nhân (bogochelovek) và nhân – thần (chelovekobog)”. “Người sẽ tới và tên Người là nhân – thần”, - Kirilov, một nhân vật trong Lũ người quỷ ám, đã nói lên tư tưởng cứu thế tâm đắc của mình. “Thần - nhân?” – Stavrogin hỏi lại cho chính xác. “Nhân – thần, khác nhau ở chỗ ấy đấy”, - Kirilov trả lời. Cặp đối lập này, trên bình diện khái niệm, được hiểu như sự đối kháng giữa hai quan niệm không tương dung – quan niệm hữu thần và quan niệm vô thần, “hội thánh” và cá nhân. Nhưng trong thế giới hình tượng của nhà văn, cặp đối lập này còn hướng tới bản chất tự nhiên của con người, và với tư cách ấy nó đã không còn mang tính rạch ròi quyết liệt như thế nữa. Trước mắt chúng ta - sự thống nhất của hai mặt đối lập, trong đó sự gắn kết của cá nhân con người với cái chung cũng quan trọng như giá trị bản thân nó, ý chí tự do của nó. Nếu như “thần - nhân” gắn với khái niệm về yếu tố siêu cá nhân trong bản chất con người, thì “nhân – thần” - dấu hiệu của yếu tố cá nhân trong nội dung hai chiều của nó: sự kính trọng của Dostoevski đối với cái “tôi” độc lập bên cạnh nỗi sợ hãi trước sự chuyển hoá của ý chí tự do thành chủ nghĩa duy kỉ tùy tiện.

Yếu tố “nhân – thần” của Dostoevski là sự báo hiệu trực tiếp tư tưởng “siêu nhân” của Nietzsche(48). Về điều này S. Bulgakov cũng đã nói tới, nhấn mạnh sự “vượt trội” của Dostoevski so với Nietzsche: “(…) tinh thần của nhà viết tiểu thuyết của chúng ta, bên cạnh tâm hồn Nietzsche-Ivan, còn tỏ ra có khả năng dung nạp cả tâm hồn Aliosa lẫn khí chất tiên tri của trưởng lão Zosima”(49).

Tính hai chiều và tính mâu thuẫn nội tại – hai “trụ cột” trong tư tưởng của Dostoevski về con người – phù hợp với quan niệm hai mặt thống nhất về cá nhân con người, mà thực chất, đã trở thành thành tựu chung của văn học “thế kỉ bạc”. Tính hợp thời của quan niệm này được xác nhận bởi các quá trình trái ngược trong cuộc sống tinh thần giao thời thế kỉ được đánh dấu bằng sự gia tăng mãnh liệt tinh thần cá nhân - từ “cái tôi’ nổi loạn được bao phủ bởi hào quang của chủ nghĩa anh hùng, tới sự gia tăng mối đe dọa về hiện tượng tha hóa. Bên cạnh đó, tính phức tạp trong thái độ của cá nhân đối với thế giới được văn học mô tả một cách căng thẳng đặc biệt. Điều này được lí giải, bên cạnh sự bùng nổ của bước ngoặt lịch sử, còn là kí ức về Dostoevski, về hình tượng thời đại trong những tác phẩm của ông được nhìn nhận thông qua những tình huống đầy cao trào kịch tính trong cuộc sống, những xung đột bi thảm và những dục vọng cuồng loạn. Hình tượng ấy nhiều người cùng thời với Dostoevski coi là không thật, là bệnh hoạn, là cường điệu quá mức, song nhiều hậu sinh lại tiếp nhận như là một khải thị.

Trong sáng tác của các nhà văn tượng trưng Nga, sự phân cực trong tư tưởng chung về cá nhân con người trở nên rõ ràng và nổi bật. Sự đối lập “thần - nhân”, và “nhân – thần”, tư tưởng hợp quần và tư tưởng cá nhân, được đề cập tới, thí dụ, trong cuộc tranh luận giữa “các nhà tượng trưng chủ nghĩa trẻ” và các nhà văn, nhà thơ theo khuynh hướng suy đồi những năm 1890. Tuy nhiên, ở đây không có sự khác biệt quá lớn. Sự tiếp nhận hiện tượng cá nhân như một hiện tượng mang mâu thuẫn nội tại “theo kiểu Dostoevski” có trong tất cả các nhánh của phong trào tượng trưng chủ nghĩa. Song, trong một số trường hợp, đóng vai trò quan trọng là khuynh hướng hoà giải các yếu tố cấu thành mang tính đối lập giữa “cái tôi” và “cái không – tôi”, còn ở những trường hợp khác thì sự bất đồng giữa chúng được thể hiện mạnh hơn.

Thậm chí sự tôn vinh “cái tôi tự đủ” một cách ồn ào, thách thức, đặc trưng cho “nhân vật trữ tình của trường phái tượng trưng thời kì đầu” trở nên phức tạp hơn bởi những “âm hưởng của sự tự phê phán có màu sắc suy đồi”. Quan niệm cá nhân mang tính mâu thuẫn nội tại được thể hiện sâu sắc và đầy kịch tính trong sáng tác của F.K. Sologub với sự sùng bái tưởng chừng vô điều kiện “cái tôi” nơi ông cùng với “huyền thoại” do nó “sáng tạo” ra, song cùng lúc với cả xúc cảm có sức tàn phá về sự cô đơn của con người tha hóa (trong các bài thơ và trong tiểu thuyết Con quỷ nhỏ). Sự tiếp nhận tình huống cá nhân cô đơn trong thế giới vừa như là hạnh phúc, vừa như là sự nguyền rủa, đã làm cho Leonit Andreev, vốn xa lạ trong nhiều cái với các nhà tượng trưng chủ nghĩa, gần gũi với Sologub. Đối cực “thần - nhân” với “nhân – thần”, theo cách riêng, in đậm dấu ấn ở nhân vật trữ tình trong thơ của Z.N. Gipnius. Theo nhận xét chính xác của O. Matich, nhân vật này kết hợp một cách độc đáo những nét của các nhân vật đối kháng của Dostoevski – “người bảo vệ ý Chúa” và “kẻ chống lại Chúa”. Merezhkovski cũng cố gắng tìm kiếm con đường tổng hoà. Sự gắn kết dị thường Kitô và phản Kitô trong các tác phẩm văn học và văn học - triết học của ông không đơn giản là sự phản ứng thần luận đối với tính lưỡng phân trong bản chất của thần thánh và cũng không chỉ là dấu ấn của “những xung đột tinh thần bên trong” của nhà văn, được phản chiếu lên cái nền của những mâu thuẫn đối kháng lịch sử-văn hoá(50), song còn là sự phản ánh tình huống cuộc sống giao thời thế kỉ - tính hai chiều cực đoan của các yếu tố ngã thể con người. Sự hài hoà, sự “kết hợp cuối cùng” của các yếu tố này còn ở phía trước, trong tương lai của Giao Ước Thứ ba.

Trường phái tượng trưng chủ nghĩa thế hệ sau cũng thể hiện tính chất phức tạp trong tiếp nhận cá nhân và sự tham dự của nó trong thế giới. Người ta đưa ra ý kiến về sự đối lập yếu tố hài hoà trong sáng tác của Blok với yếu tố bất hài hoà trong sáng tác của A. Belyi. Song sự khác biệt, tất nhiên, không tới mức triệt để: nhân vật trữ tình của Blok nhiều khi bị chấn động bởi những khủng hoảng của tâm thức “cô liêu”, còn trong thế giới nghệ thuật của Belyi thường xuyên diễn ra sự tìm kiếm những con đường dẫn tới “tính hợp quần”. Trong nhánh này của phong trào sáng tác tượng trưng, Viacheslav Ivanov đóng vai trò “người hoà giải” chính. Trong trường ca Con người (1915-1919) - một trong những tác phẩm thơ của ông hoàn thành trong giai đoạn trước cách mạng, với cốt truyện trữ tình - triết lí và tính khái quát đặc biệt, biện chứng của sự đối lập nghiệt ngã giữa yếu tố cá nhân và siêu cá nhân được kết thúc bằng những lời tán dương sự khắc phục tính đối lập. Tuy nhiên sự tổng hoà chúng một cách cao cả - vẫn chỉ là kì vọng vào tương lai.

Văn học hiện thực thời kì đó cũng đưa ra những song hành loại hình kì lạ - cả ở phong trào chung, lẫn ở những hiện tượng riêng biệt(51). Trong dòng văn học này, ở cuối thế kỉ, sự thể hiện “môi trường quần chúng vẹn toàn” (M.E. Saltykov-tsedrin) theo tinh thần truyền thống của các nhà văn thập niên 60 thế kỉ XIX và của văn học dân tuý, được đưa xuống hàng thứ hai, thay vào đó là sự gia tăng mối quan tâm tới số phận cá nhân.

Vào thời kì này, bất chấp những kêu gọi thường xuyên của L. Tolstoi – nhà đạo đức học Kitô giáo - từ bỏ cái “tôi”, những tác phẩm nghệ thuật nổi bật của ông lại nói về điều khác. Và cho dù những tác phẩm này có viết về thời kì nào - về đương đại hay về quá khứ (Khadzhi- Murat, Thây sống, Sau vũ hội, Vì sao?), dù những nhân vật có khác nhau như thế nào trong những tác phẩm này, dù vẫn giữ những yếu tố nào đó của sử thi, sự miêu tả đầy đủ thực tiễn xã hội (Khadzhi-Murat), thì cá nhân cụ thể đã trở thành trung tâm tự sự trong các sáng tác của nhà văn những năm 1890. Loại tự sự khác của nhà văn hình thành trước đó, bắt đầu những năm 1880 (trong “những truyện ngắn dân gian”, những vở kịch về đời sống nông dân, Quyền lực bóng tối, v.v...), trong đó đời sống nhân dân được miêu tả một cách “khái quát”, giờ đây đã bị lấn át.

Trong những tác phẩm cuối cùng của mình, Tolstoi cùng tham dự vào con đường văn học mới. Motip quan trọng của những tác phẩm này – “sự li khai” của cá nhân khỏi môi trường xã hội xung quanh – cũng đã trở thành một trong những môtip chủ yếu ở hàng loạt sáng tác của các nhà văn trẻ tuổi đương thời (Korolenko, Gorki, Andreiev…). Những xung đột của “con người thừa” mà phe phê bình dân chủ một thời đã nói tới một cách nghiêm khắc, giờ đây lại xuất hiện trên một bình diện mới. Nhưng sự xung đột giữa xã hội và cá nhân từ chối nó, được thể hiện thường xuyên hơn trong những hình thức đầy kịch tính căng thẳng. Gorki không còn gọi những nhân vật được tái sinh bởi văn học của thời đại giao thời thế kỉ là “những người thừa”, mà là “những người thoát vây”. “Họ không hẳn chỉ là những kẻ bị hắt hủi, mà chủ yếu còn là những người chủ động chối bỏ”(52), - N.K. Mikhailovski nói về những vật trong những sáng tác ban đầu của Gorki. Ở đây có một chuyển biến ý nghĩa đáng để ý. Ở định nghĩa đầu, trọng tâm nhấn vào kết quả đầy kịch tính của quá trình “li khai”, định nghĩa sau - vào sự nỗ lực thực sự nằm ở nền tảng quá trình đó.

Một đặc điểm khác của những nhân vật mới – cũng vẫn tính hai chiều của yếu tố cá nhân. Cả ở Khadzhi-Murat, cả ở những người chân đất của Gorki và những nhân vật lãng mạn trong những truyện cổ tích và thần thoại của ông, và ở hàng loạt những nhân vật tương tự của các nhà văn khác, cảm xúc cá nhân rõ rệt, quan điểm nổi loạn xã hội không thoả hiệp, thái độ khinh bỉ tình trạng nô lệ nhiều khi gắn kết với những nét tiêu cực trong tính cách: vị lợi, cá nhân vô chính phủ. Cách hiểu khác nhau của giới phê bình về hai loại cá nhân đối cực trong tác phẩm Bà lão Izergil là công bằng, song chưa đủ. Larra - kẻ duy kỉ cá nhân theo kiểu Nietzsche chà đạp lên người khác và Danko - người vị tha, cuối cùng gắn với nhau bởi cùng số phận - bị ruồng bỏ, cô độc và xa lạ với nhân quần. Thái độ phức tạp đối với những vấn đề cá nhân - một đặc điểm nổi trội của văn học giao thời thế kỉ một lần nữa được thể hiện. Trong văn xuôi Gorki thời kì đầu và của một loạt các nhà văn cùng thời, quan điểm chiếm ưu thế là quan điểm cá nhân tách khỏi xã hội (cho dù cá nhân đó có những tư tưởng nhân đạo cao cả), ý thức về sự được lựa chọn của mình.

Sự bùng phát yếu tố cá nhân còn lí giải sức cuốn hút của một kiểu quan hệ xác định giữa nhân vật và tác giả. Đây là nói về định hướng thường thấy nhằm tới kiểu nhân vật anh hùng của bi kịch, loại nhân vật trở thành trung tâm tự sự và thể hiện thế giới quan của tác giả, cho dù ở mức độ khác nhau, - lúc thì không trùng khớp, khi lại rất gần gũi. Khuynh hướng này đã lôi cuốn văn học Nga giao thời thế kỉ vào dòng chảy của tiến trình văn học thế giới thời kì đó. “Brand – đó chính là tôi trong những giây phút tốt đẹp nhất của cuộc đời (…)” – G. Ibsen nói về nhân vật nổi tiếng của mình(53). Sáng tác của tác giả Brand, Đốc tờ Stokman và những tác phẩm khác với cảm hứng cá nhân mạnh mẽ và tương thích với nó là “kết cấu nghệ thuật đơn tính” là một trong những hiện tượng có ảnh hưởng hơn cả đối với văn học nước Nga ở giáp ranh thế kỉ. Với mức độ đồng tham dự tương tự là phong trào văn học “tân lãng mạn” ở phương Tây đối lập sự phản kháng của cá nhân đơn độc với quyền năng định mệnh của môi trường đối với con người (J. London với tư cách tác giả chùm truyện ngắn về vùng đất Clonday, J. Konrad, E. Rostand tác giả vở kịch nổi tiếng Syrano de Bergerac v.v..).

Trong “thành phần” của quan niệm cá nhân ở thời kì chuyển giao thế kỉ, hiển nhiên có mặt cả truyền thống “đấu tranh vì cá nhân” (N.K. Mikhailovski) của văn học dân tộc (chủ nghĩa lãng mạn ba thập niên đầu thế kỉ XIX, “những người thừa” đã được nhắc tới), nhưng được đổi mới một cách cơ bản theo tinh thần của một thời đại chờ đợi những kịch biến và chống chủ nghĩa thực chứng. Bậc tiên khu gần gũi với phong trào đổi mới này là sáng tác của V.M. Garshin, tác giả các truyện Bông hoa đỏ, Attalea princeps... – một kinh nghiệm thể hiện xung đột giữa cá nhân và thế giới theo lối bi kịch - biểu hiện chủ nghĩa.

Chúng tôi nhận thấy – dù điều này thoạt nhìn có vẻ nghịch lí – tư tưởng và cấu trúc lấy nhân vật làm trung tâm tìm thấy sự phản ánh cả trong văn học của chủ nghĩa tự nhiên Nga thời kì đó; tuy nhiên, ở đây nổi lên bình diện hàng đầu là tính khuôn sáo, sự câu nệ vào truyền thống.

Định hướng tới “những nhân vật không khuất phục và cô độc” (Skitalets) đặc trưng cho khuynh hướng tân lãng mạn (theo nghĩa rộng của từ) trong văn học Nga những năm 1890-1900, dần biến đổi cùng với sự tới gần của bão táp cách mạng 1905. Phong trào sáng tác hiện thực chủ nghĩa (và đặc biệt là nhóm sáng tác gần gũi với nhà xuất bản “Tri thức”) bắt đầu không còn gắn tư tưởng tích cực với chủ nghĩa cá nhân nhân đạo nữa, mà với ý chí của “nhà hoạt động tập thể”, lôi cuốn theo mình những cá nhân cụ thể, không trùm lấp nó, mà, ngược lại, giải phóng tiềm năng tinh thần của nó. Nhóm phái các nhà văn tượng trưng cũng bị cuốn vào lịch sử cách mạng. Phong trào giải phóng được họ tiếp nhận chỉ như một bước đi, song là bước đi quan trọng trên con đường dẫn tới cuộc cách mạng chân chính, siêu nghiệm của tinh thần. Tức là, trên con đường dẫn tới “sự thống nhất tất cả”, tới sự hài hoà những yếu tố cá nhân và yếu tố siêu cá nhân trong quá trình đổi mới thế giới.

Trong giai đoạn văn học tiếp theo – sau thất bại của cuộc cách mạng lần Thứ Nhất - xuất hiện phong trào sáng tác hiện thực mới đánh mất những hi vọng hào hứng vào sự đổi mới nhanh chóng dòng chảy lịch sử. Trong dòng văn học này quan niệm về bản nguyên “tôi” và “không-tôi” lại trở nên phức tạp: chúng được tiếp nhận một cách khác nhau nơi các nhà văn. Và mặc dù ý tưởng về sự tổng hòa trong tương lai vẫn còn đó, song nó nằm yên ở tầng sâu lắng của cảm quan thế giới liên quan tới phong trào sáng tác hiện đại chủ nghĩa.

Như vậy, từ những dòng văn học khác nhau hình thành một cái gì đó thống nhất liên quan tới một trong những vấn đề then chốt của “kỉ nguyên bạc”. Nó không chỉ dẫn đến sự chối từ đơn giản quan niệm thực chứng chủ nghĩa. Khủng hoảng của thời đại giáp ranh hai thế kỉ làm sâu sắc thêm cảm nhận về hiểm hoạ kép đe doạ cá nhân con người: cả sự hoà tan vào “môi trường”, cả sự li khai nó (điều thứ hai này được cảm nhận đặc biệt nhạy sắc chính ở mảnh đất Nga với những gốc rễ tâm thức xã hội luận của nó). Lần đầu tiên trong văn học chúng ta những sản phẩm mang yếu tố cá nhân được đặt vào bảng màu đa dạng đến vậy. Vận mệnh của tâm thức cá nhân lúc được soi rọi một cách cao cả, khi mang màu sắc bi hài, sẽ trở thành một trong những vấn đề mâu thuẫn nhất, nan giải nhất của toàn bộ văn học thế giới thế kỉ XX.

45) Bulgakov S. Ghi chép về F.M.Dostoevski. Qua ¼ thế kỉ (1881-1906) // Dostoevski F.M. Toàn tập 14 tập. M., 1906. T.1, tr.5.

(46) Ivanov Viach. Dostoevski và tiểu thuyết – bi kịch// Ivanov Viach. Tuyển các tác phẩm. Bruisel, 1987. T.4. tr.404.

(47) Dostoevski F.M. Toàn tập 30 tập. L., 1976. T.14, tr.100.

(48) Chúng tôi, tất nhiên, không động chạm tới hàng loạt bình diện của vấn đề phức tạp “Dostoevski-Nietzsche” mà một mảng lớn phê bình văn học đã đề cập.

(49) Bulgakov S. Ivan Karamazov (trong tiểu thuyết của Dostoevski Anh em nhà Karamazov), như một kiểu triết học // Những vấn đề triết học và tâm lí học. 1902. Quyển 1, tr.838-839.

(50) “Bi kịch tinh thần của Merezkovski là ở chỗ ông là kẻ tuẫn tiết của chủ nghĩa nhị nguyên (…)” Rudich V. Dmitri Merezkovski (1866-1941) // Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Kỉ nguyên bạc, tr.219,220).

(51) Thí dụ, một số nét tương đồng của quan niệm cá nhân được lí giải bởi “hơi thở của cuộc sống trong cùng một thời đại”, tìm thấy ở nhà hiện thực Tchekhov và nhà tượng trưng Annenski (xem: Kolobaeva L.A. Tư liệu đã dẫn, tr.51-54), bên cạnh đó thấy rõ ác cảm của Annenski - nhà phê bình đối với Tchekhov - nghệ sĩ.

(52) Mikhailovski Nik. Về Maksim Gorki và về những nhân vật của ông // Mikhailovski N.K. Những bài phê bình văn học. M., 1957. T.4, tr.627.

(53) Ibsen G. Tuyển tác phẩm 4 tập. M., 1958. t.4, tr.691.


(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch
Trả lời kèm theo trích dẫn