Tiếp theo phần trước
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA- BỘ PHẬN LÃNH THỔ THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆT NAM, QUA CÁC BẰNG CHỨNG LỊCH SỬ, PHÁP LÝ
Các bằng chứng lịch sử- Cơ sở pháp lý vững chắc đã chứng minh Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa suốt mấy thế kỷ.
Thời kỳ các nhà nước phong kiến Việt Nam trước thế kỷ XIX
Chỉ căn cứ vào các sử sách, văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến (PK) Việt Nam (VN) từ thế kỷ XVII, cũng đã thấy người đầu tiên chiếm hữu thực sự và liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa (Bãi Cát Vàng, Vạn Lý Trường Sa, Đại Trường Sa, Đại Hoàng Sa là tên gọi chung cho cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời kỳ đó; Phương Tây gọi là Pracel hay là Paracels). Tính thật sự của hành động thực hiện chủ quyền Việt Nam trong thời kỳ này được thể hiện ở những bằng chứng có ý nghĩa pháp lý sau đây:
1. Về tổ chức hành chính, Hoàng Sa trong thời kỳ này đã được phiên thuộc vào tỉnh Quảng Nam.
Trong toàn tập
Thiên Nam chí tứ lộ đồ thư của Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, dựa trên cơ sở của các tư liệu thu thập được vào thời kỳ vua Lê Thánh Tông tiến hành các hoạt động mở mang bờ cõi về phía Nam, có ghi rõ trong đoạn chú giải bản đồ vùng phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam:
"giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (tức Hoàng Sa)".
-
Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, đã chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Nghĩa: "xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài biên có núi, gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chinh, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa..."
- Các bộ sử của triều đình nhà Nguyễn trong thời kỳ từ năm 1802-1884 cũng đã ghi rõ mối quan hệ địa lý, hành chính này.
Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1882, đoạn nói về lãnh thổ tỉnh Quảng Nghĩa, cũng viết: "phía Đông có đảo cát (đảo Hoàng Sa), liền với biển làm hào..."
2. Tổ chức các đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải (cũng do đọi Hoàng Sa kiêm quản)đi khai thác, quản lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa .
Trong toàn tập
Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, thế kỷ XVII ghi rõ: " Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến Bãi Cát Vàng, lấy hóa vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn"
Trong
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép rằng: "trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ 3 tháng nhận giấy sai đi, mang lương thực đủ ăn sáu tháng..."
"...Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, Cù Lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm. cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản"...
Trong các bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như:
Đại Nam thực lục tiền biên và
Đại Nam thực lục chính biên soạn (soạn xong vào năm 1844 và 1848) cũng đã ghi chép rõ những nội dung nói trên:
..." Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo...Lại có Đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật; Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản.
Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, mặc dù phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của quân Xiêm, vẫn luôn luôn quan tâm duy trì hoạt động của các đội Hoàng Sa. Trong một tờ sai của quan thượng tướng công năm 1786 có chi rõ:..."Sai cai đội Hoàng Sa Hội Đức hầu dẫn 4 chiếc thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ đồng và đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải ba, cùng của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ.."
Trong
Đại Nam thực lục chính biên và
Đại Nam thực lục tiền biên đã chép rõ một loạt các sự kiện:
Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.
Những bài gỗ do Phạm Hữu Nhật mang ra Hoàng Sa để cắm trên đảo ghi rõ:
Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ
Hay Tờ đấu của quan thượng thư Bộ Công lên vua Thiệu Trị năm 1847 ghi rằng: "Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hằng năm có phái binh thuyền ra xem xét để thông thuộc đường biển. Năm sau bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau". Vua Thiệu Trị đã phê "Đình"
Nhiều tác giả phương Tây như Jean Louis Taberd, J.B Chaigneau, M.A.dubois de Jancigny, E.Cortambert, và Léon de Rosny, P.A.Lapicque, Raoul Serene, Henri Cucherousset, Alexis Elie Lacombe... đã đăng nhiều bài viết nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các báo, tạp chí từ những năm 20 của thế kỷ này đề cập đến các sự kiện nói trên và đều khẳng định rằng các vua chúa nước Việt Nam (mà lúc đó gọi là nước Cochinchine hay Annam) đã thực hiện chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này.
Năm 1095-1096, chiếc tàu Bellona của Đức và Imegi Maru của Nhật chở đồng cho Anh bị đắm ở Hoàng Sa. Dân đảo Hải Nam ra đó lấy cắp đồng ở trên hai chiếc tàu này. Anh đã phản đối, Phó vương tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) trả lời rằng: quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc, nên Trung Quốc không có trách nhiệm gì ở đấy...
(còn tiếp)