Hai nước Ý-Pháp chỉ suýt dùng AK mà thôi.
Pháp thì không dùng AK Thụy Sỹ SIG-540 để đổi lấy FAMAS đĩ điễm và rất dở. Ý thì khó mà nói là AK được vì khóa nòng khác, sau khi không chấp nhận Galil Israel vì quá tồi.
Pháp có ngân sách quân sự hết sức bê bối, cái văn hóa súng ống điên rồ ngu đần cực điểm của Mỹ là học từ bên Pháp sang. Ở trang trước, chúng ta đã thấy người Pháp vòng vo tam quốc
vỏ đồng phát triển sai ở mle 1854, rồi quay lại
vỏ giấy trong mle 1866, rồi bại trận 1870, sau bại trận
thu hồi mle 1866 về khoét ổ đạn ra làm lại vỏ đồng thành Gras mle 1874. Hay khẩu
Lebel M1886 đẻ non làm cái gương y đúc cho M16 Mỹ sau này, Lebel học theo các súng Áo, thu lại đường kính nhỏ 8mm từ cỡ đường kính cũ khoảng 11mm, nhưng vẫn là băng ống gỗ dọc trong khi các súng tiên tiến đã chuyển sang băng ngang sắt mỏng, báo hại Lebel không thể dùng đạn đầu nhọn trong thời Mauser-Mosin, nhưng Lebel ôm lấy cái ngai đó không cho
Berthier mle 1892 ngoi lên, cũng như AR-15/M16 với AR-18, đến mức nước Pháp bắn đầu WW1 với băng ống gỗ dọc và đạn mài bằng đầu. Từ cách mạng Pháp, các quân xưởng nhà nước Pháp đã bây đầy giun sán giòi bọ là những nhà cung cấp của chúng và các quan chức chính trị thối nát. Chính vì thế mà có chiến tranh Napoleon, các nhà thầu đó dùng Napoleon để tiêu thụ sắt thép lởm của họ, cũng như Mỹ ngày nay. Sau chiến tranh Napoleon, ngai vàng Pháp bị ngoại bang đặt lên các bù nhìn liệt não để ăn cắp chính quyền và lũng đoạn ngân sách Pháp. Những sức mạnh và tự hào Pháp chết cùng với Napoleon.
Chúng ta có thể thấy thế này. Cùng được chấp nhận một năm với AK, năm 1949 Pháp chấp nhận
súng trường tiêu chuẩn MAS-49. Đó là cái súng cùng lớp với SVT, bắn phát một lên đạn tự động, cách AK đúng một thế hệ súng. Cái MAS-49 đó là tập hợp cả một đám hàng lởm, ví như cái trích khí trực tiếp mà Thụy Điển đã học theo Pháp rồi bỏ trong AG42. Trích khí trực tiếp được Pháp đề xuất trong cuộc chế tạo súng tự động trước WW1, cuộc đó không đem lại mẫu súng nào, đúng hơn là có
FSA-1917 siêu lởm ruột để ngoài da, để rồi đến năm 1949 nó mới thành công.
Có thể đánh giá MAS-49 qua ví dụ thế này. Liên Xô đưa ra hai hướng cải tiến khóa nòng chèn nghiêng. Một là làm hai tai hai bên sườn đuôi khóa nòng như SVT, AG42 Thụy Điển, FN FAL. Hai là vẫn giữ một móc tai trên lưng như cổ truyền, nhưng làm phần chịu lực ở đuôi bẹt và rộng. Cả hai cải tiến đều làm giảm chuyển động đứng, giảm chiều cao khóa nòng, giảm chuyển động dọc của bệ khi nhấc đuôi khóa nòng lên khỏi mấu chèn... thu nhỏ nhẹ kích thước súng và giảm rung nếu làm liên thanh, ví như dòng PTRS-41 và SKS xê ca xê. MAS-49 thông thái bác học tích hợp cả hai tiến bộ đó, hơn hẳn Liên Xô mỗi hướng chỉ dùng mỗi hướng, kết quả là MAS-49 không còn chỗ cho khe chạy của mấu hất vỏ cố định, phải dùng chọc vỏ lò xo cũng y như M16 sau này.
Còn cái trích khí trực tiếp thì do Pháp phát minh, Thụy Điển lại cảm quảng cáo hồi đó áp dụng lần đầu tiên trên
AG42 (Pháp không cho ra sản phẩm gì trước đó, chương trình bắn đầu từ năm 1900), trong chiến tranh Thụy Điển biết là ôm hàng lởm rồi nhưng quảng cáo át đi. Sau đến chính Pháp lại cảm cái quảng cáo AG42 áp dụng trên MAS-49, rồi lại quảng cáo át đi khi thua trận ở Đông Dương. Rồi đến AR-15 , và lên vua đẻ non M16, cả đời ốm yếu dặt dẹo trước AR-18 cho đến nay. AG42 có máy copy SVT Liên Xô trừ cái trích khí, sau đó Thụy Điển xin lỗi SVT bằng cách chấp nhận FN FAL sản xuất ở Thụy Điển với tên Ak4, có trích khí gần giống SVT nhưng thêm nắp mở đằng trước dễ tháo lau.
Ak5 của Thụy Điển dùng cho đến nay là FN FNC, tức AK Bỉ.
Khoảng giữa những năm 1970 Pháp mua li xăng khẩu súng AK Thụy Sỹ SIG SG-540 , công ty Manurhin sản xuất đến mức giao cho quân đọi thử nghiệm. Sau đó FA MAS thắng thầu, AK bị loại.
FAMAS có lẽ là khẩu súng trường xung phong lởm nhất trong khối NATO. Nó dùng dáng súng bullpup thời trang một thời, nhưng nhiều nước đá ném đi quay lại báng dài thường như
QBZ-03 Trung Quốc trở về báng thường sau
QBZ-95. Một số nước thì giữ súng máy ngắn bullpup làm súng cạc bin cho tăng pháo công binh.... Liên Xô và Nga đã từng chế loại bullpup ngắn và nhẹ nhất quả đất mà vẫn giữ đủ chiều dài nòng như AK,
khẩu TKB-022, nhưng không dùng, Liên Xô không trang bị bullpup cho boọ binh, còn các loại súng công pháo thì dùng AKU chung đồ với AK tiện hơn. FAMAS dùng nguyên lý lùi có hãm,
nhưng dùng kiểu máy Kiraly như khẩu súng ngắn liên thanh Hungari năm 1939. Cùng một nguyên lý vật lý, kiểu máy đòn bẩy này thay con lắn bằng trượt, máy súng trượt trong khi lực ép còn rất lớn, dễ làm nhưng tổn thọ, Liên Xô cũng từng thử nhưng cũng không chấp nhận
Korobov TKB-517 , kể cả phát triển thêm của kiểu máy bày là thêm cái khóa nòng cũng không được chấp nhận
Baryshev AB-762.
Bên ý, ban đầu Ý bị quân Mỹ chiếm rồi dựng lên quân đội Ý đánh phát xít, từ trong WW2 đã dùng súng Mỹ M1 Garand, sau đó Ý nhái khẩu súng đó thành BM59 bắn đạn NATO to 7,62x51. Sau đó thì Ý làm khẩu AR-70.
Công ty Bernardelli đã chế thử các bản mua li xăng Galil là Bernardelli Mod.377/378 VB-STR. Nhưng như nói trên, súng Galil rất dở, nên sau đó Ý dùng súng Beretta AR-70. Mình đã đề cập đến Beretta AR-70 rồi. Súng này cũng có nguyên lý máy khóa nòng quay hai tai, nhưng nó không dùng đầu khóa nòng to của AK. Đầu khóa nòng to dẫn đến không thực hiện được trên các máy đa năng năng suất cao như tiện phay, phải dùng máy thửa để chế khóa nòng và bệ khóa nòng mới có năng suất cao. Beretta AR-70 dùng đầu nhỏ cổ truyền như Mauser - Mosin trên cái bệ khóa nòng như AK. Vấn đề góc quay nhỏ mình cũng đề cập rồi, AK vì có đầu to nên dù tai có kích thước mm lớn thì kích thước góc theo độ vẫn nhỏ, khóa vẫn quay góc nhỏ. Beretta AR-70 dùng tai kích thước nhỏ trên đầu nhỏ, nên phải dùng hợp kim chịu lực khỏe. Vấn đề không phải ở cái khóa nòng, mà là ở cái cổ súng, vì súng hiện đại cái cổ này liền với vỏ máy súng nên toàn bộ vỏ máy súng phải làm băng hợp kim chịu lực tốt gia công rất tốn kém vì vỏ máy súng phức tạp. AR-70/90 là súng ngày nay quân Ý dùng đạn NATO 5,56x45.
Khóa nòng "AK đầu nhỏ" Beretta AR-70.
==========
Đến đây, chúng ta quay sang AK Bỉ FN FNC.
Fabrique Nationale FN là một hãng súng đạn lớn. Chính hãng này đã đưa ra bản nòng/đạn NATO 5,56x45 , FN SS109. Theo luật Mỹ thì hàng quân sự sản xuất bên Mỹ, nên FN mang nhiều nhà máy và công ty con sang Mỹ. Nó gia công khá nhiều súng quân sự Mỹ cũng như là một nhà sản xuất cung cấp hàng cho Colt và Reminton. Một lượng quan trọng vũ khí Mỹ do FN sản xuất, chủ yếu là súng máy và đạn.
Bỉ cũng như Thụy Sỹ, đất nước ít dân, quân đội nhỏ, nhưng xuất khẩu súng ống lớn. Những lúc Đức gặp vận bĩ thì Bỉ và nhóm các nước quanh Đức vớ to vì xuất khẩu hàng của các công ty vũ khí Đức.
Trước khi nói đến FNC thì vòng vo tam quốc các đời súng trước của Bỉ và FN một chút.
FN FAL , Fusil Automatique Leger, súng trường tự động nhẹ.
Trước đó,
Bỉ sử dụng FN FAL. FAL là khẩu súng liên thanh nhái theo SVT. Khóa nòng chèn nghiêng có hai tai hai bên sau như SVT. Khóa nòng của FAL rất giống khóa nòng của bản nhái SVT trước đó là AG42 Thụy Điển. Tuy nhiên, Thụy Điển trong chiến tranh vội vàng đã dùng trích khí trực tiếp FAL thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách copy trích khí SVT có sửa lại một chút, phần sửa khắc phục bệnh khó tháo lau của trích khí SVT, bằng cách thêm một nút vặt ở đầu tháo cylinder ra phía trước. AK thì không cần lau trích khí chúng ta biết rồi.
Ban đầu, FAL được thiết kế như súng phát một, rồi tiến lên liên thanh, được chấp nhận năm 1949 ở Bỉ và sau đó ở rất nhiều nước. Thụy Điển chấp nhận FAL như là đời sau của AG42. FAL là khẩu súng bán chạy nhất bên phương Tây thời AK47. FAL có thiết kế tốt nhưng hơi đắt,
nếu so các đánh giá của Thụy Điển, thì có thể ước lược được giá thành của nó, cũng giống như ước lượng qua cấu tạo, so với hệ máy MP45 Đức như G3/CEAME/Stg.57.... FAL đắt hơn các súng khác nhưng rẻ hơn G3, và FAL tin cậy hơn. Còn nếu đứng từ điểm AK Liên Xô mà đánh giá thì FAL cũng như các súng phương Tây khác thiếu loại đạn AK, nó khá nặng 4,31kg; nhưng khối lượng đó chưa đủ để giảm giật khi bắn nòng / đạn NATO 7,62x51 mm, để đủ ổn định súng thì súng phải nặng 7kg. Thời này là thời các nước đều sỉ nhục súng đạn Mỹ bằng cách dùng đạn to nhưng cắt ngắn nòng đi để xung phong. Việc cắt ngắn nòng đến đâu tùy vào quan điểm quân sự mỗi khách hàng, trong đó Đức sáng suốt nhất với việc cắt nòng còn 3xx mm, một số nước khác thì luyến tiếc để nòng dài, chỉ bắn tốt được ở chức năng phát một lên đạn tự động.
Một cải tiến quan trọng của FAL so với SVT là trích khí. Trích khí FAL cũng có cần đẩy lùi rời như SVT, nhưng làm xi lanh cố định, xi lanh có thể tháo ra về phía trước để dễ lau, khắc phục nhược điểm khó tháo lau trích khí của SVT, trích khí tiết lưu rất sợ tắc. Trích khí có hiệu chỉnh tiết lưu, có thể ứng dụng để chuyển chế độ bắn lựu hay điều chỉnh tốc độ bắn. Trích khí này về sau là mẫu mực cho hầu hết các trích khí tiết lưu sau này như FN FNC, SIG SG-54x/55x, INSAS.... và các súng khác.
Bản liên thanh của FAL nặng 4,45 kg khi dùng nòng có chiều dài đủ của đạn NATO 7,62x51 mm. Bản nòng ngắn lính nhảy dù được dùng như súng trường xung phong khá tốt 3,77kg. Súng này có báng khung nhựa gập ngang như AK-74.
Như ở phần AK Thụy Sỹ đã nói. Lúc này châu Âu có nhiều cải tiến đạn, nhưng về sau châu Âu chiều sức ép của Mỹ để có đạn chung. NATO 5,56x45 dùng kích thước hình học của đạn M16A1 Remington ".223". Tuy nhiên, Mỹ là kẻ bị lừa, vì đồ thị áp suất và xoáy của đạn NATO mới rất khác đạn M16A1, bắn chung cũng được nhưng không thể ứng dụng thực tế, M16A1 bắn đạn M16A2 thì đạn lộn trước 90 mét vì thiếu xoắn, ngược lại đạn bị lột vỏ. Kích thước hình học của đạn M16 quá sai nên bộ nòng đạn FN SS109 được NATO chấp nhận phải bỏ thuật phóng "chống trên mũi nhọn" hiện đại, quay về xoáy mạnh cố định trục như nửa cuối thế kỷ 19. Ngay cả khi được chấp nhận, thì nòng này cũng có tuổi thọ kém vì quá áp. Trước đó, FN cũng đã nỗ lực một kiểu kích thước hình học tương đối. Bỉ và Anh hợp tác thử nghiệm EM-2 Experimental Model-2 bắn đạn 7x43mm. CŨng như các chương trình bên Thụy Sỹ, các đạn này sau đó nhường kích thước hình học cho đạn M16.
FAL được copy có li xăng và chấp nhận như súng trường tiêu chuẩn ở rất nhiều nước ngoài thế giới AK-47. Ví như Ấn Độ, Indonexia, Brazil, Nam Phi... là những nước lớn nhất ngoài thế giới AK, Bỉ và Thụy Điển là những nước mua súng giá cao và đánh giá súng tinh vi. Phải nói là hầu hết thế giới ngoài AK-47 đã dùng FAL.
Đến thời đạn nhỏ NATO 5,56x45 thì Bỉ nhấp nhận FN FNC .
FN CAL Carabine Automatique Légère
Trung gian giữa FAL và FNC là FN CAL "Carabine Automatique Légère", cạc bin nhẹ. Súng thiết kế như AR-18. Như đã nói, bản AR-15 chưa đựng nhiều điểm cùng ngu cực xuẩn đến trẻ con Đông Âu cũng không ngửi nổi, đừng nói đến vấn đề chính là đường đạn và khóa nòng. Một số điểm rất ngớ ngẩn, ăn theo những "nghiên cứu khoa học" kiểu chó sủa trong phong trào chế súng tự động Pháp hồi từ 1900 đến trước WW1. Đó là, trích khí trực tiếp, bệ khóa nòng tròn xoay, búa để ấn chứ không để đập.... AR-15 khuyến mại thêm cái điên khủng ngớ ngẩn kiểu Mỹ là đặt lò xo đẩy về vào báng nên không bao giờ gập được báng.
Trích khí trực tiếp là không dùng cán piston, mà dùng ống dẫn, dẫn khí thuốc từ điểm trích khí , thổi thẳng vào bộ piston-cylinder đặt trên bệ khóa nòng. Nó nóng làm cong nòng, cháy ống dẫn, và thổi khí thuốc bẩn vào máy súng.... những cái này thì đọc trên internet và AG42 đầy. Như nói trên, toàn bộ chuỗi phát triển trích khí trực tiếp là lừa đảo nhau.
Búa để ấn chứ không để đập là khe quay của bệ khóa nòng. Từ thời chưa tự động thì Mauser-Mosin đã làm các cơ chế lấy đà để nhổ đạn ra khỏi ổ đạn sau nòng, vì sau khi bắn khả năng vỏ bận kẹt trong đó là lớn nhất. Đến thời tự động, các súng tử tế đều để bệ chuyển động tự do một lúc lấy đà, rồi bệ mới đập khóa nòng chuyển động nhổ vỏ đạn ra, tạo thành cái khe quay hình chữ S. Nhưng ta đã thấy FSA-1917 Pháp và M16 Mỹ dùng khe quay chéo thẳng, bệ không lấy đà mà ép luôn khóa nòng quay bằng lực trích khí.
Bệ khóa nòng tròn là để giảm diện tích mặt ngoài của bệ và như thế giảm ma sát, theo các nghiên cứu khoa học của Pháp nói trên, như FSA-1917. Nhưng ta đã thấy, cái bệ cần hãm chuyển động quay của khóa, chứ không cần tròn rồi lại làm gờ.
AR-18 bỏ lò xo đẩy về khỏi báng, làm khe quay chữ S để búa đập chứ không ấn, làm bệ khóa nòng hình hộp. Và, thay mặt AG42, AR18 lại cất lời xin lỗi SVT bằng cách bê y sì đúc trích khí SVT, bất chấp lúc đó FAL đã có một số cải tiến đáng dùng từ trích khí kiểu này.
CAL cũng như AR-18 nhưng dùng trích khí FAL. CAL bắn đạn M16A1. CAL được sản xuất khoảng 12 ngàn khẩu-vai trò giao cho quân đội dùng thử, từ năm 1967 đến 1977 thì dừng sản xuất, chịu thua.
Vấn đề cuối cùng trước khi chạm vào vách đá không thể vượt qua mang tên đường đạn, đó là khóa nòng. Khóa nòng nhiều tai mà AR-15/18 dùng được CAL dùng. Như đã nói, khóa nòng nhiều tai không tuân quy luật kiềng ba chân, nên khi mòn nó cập kênh, điều này dẫn đến chỉ một số tai trong nhiều tai chịu lực quá mức, khóa nòng nhanh hỏng. Điều đến nay vẫn là điều lệnh sử dụng súng khóa nòng nhiều tai kiểu Mỹ là cấm chỉ việc lắp khóa nòng và cổ nòng đã dùng rồi từ súng này sang súng khác. Trong nỗ lực phấn đấu đến một NATO thống nhất ngày nay, G36 chấp nhận khóa này, nhưng làm mọi thứ thay nhanh, tốn tiền nhưng đơn giản, thế là xong.
Như thế, CAL là một minh chứng về hệ súng Mỹ, châu ÂU có thể chiều Mỹ mọi thứ nhưng chỉ làm rõ thêm tính điên rồ cùng ngư cực xuẩn của súng ống Mỹ. Bỉ không chấp nhận khóa nòng này, và thế là AK Bỉ chính thức ra đời sau thời SVT Bỉ, tuy là thời gian có dài hơn từ SVT Liên Xô đến AK Liên Xô một chút.
CAL cũng không được các khách hàng truyền thống của FAL để ý. Mặt khác, trong các trào lưu đổi súng sau đó thì FN vẫn tiếp tục hiện đại hóa CAL để bán sang thị trường được nhồi sọ khóa nòng nhiều tai Mỹ như FN2000 và SCAR.
http://world.guns.ru/assault/be/fn-cal-e.html
FN FNC, Fabrique Nationale Carbine, cạc bin FN, bản AK Bỉ
http://world.guns.ru/assault/be/fn-fnc-e.html
tháo lắp FNC trên tube và có cảnh so sánh FNC với khóa nòng và bệ kiểu AK
FN FNC bắt đầu thời đại nòng/đạn NATO 5,56x45 của FN. Nhắc lại một chút, bản đạn này của NATO là FN đề nghị , FN SS109, Mỹ đổi mm sang inch thành đạn M855. Đạn này làm theo cấu tạo hình học đạn M16A1 Reminton ".223". Nhưng Mỹ bị lừa, vì đồ thị áp lực và xoắn rất khác nên M16A1 và M16A2 bắn lẫn thì nhả ra đạn được nhưng không có tác dụng gì. Kết quả là FN trở thành hãng gia công súng đạn bộ binh lớn nhất ở Mỹ.
Nhắc lại một chút. Trong thời gian AK 7,62mm , AK-47, thì châu Âu và hầu hết thế giới đều khionh bỉ súng Mỹ. Tất tần tật các nước đều dùng đạn to NATO 7,62x51mm rồi cắt ngắn nòng đi xung phong, không ai chấp nhận đạn Mỹ. Tuyệt đại bộ phận các nước đều không dùng súng Mỹ, mà phổ biến nhất thế giới lúc đó là FN FAL, bản SVT liên thanh hóa. Kể cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ là Úc, Canada, Anh. Duy chỉ có các nước bị Mỹ đô hộ là Nhật Ý dùng súng M1 Garand và bản liên thanh hóa của nó là M14, nhưng tất nhiên cũng dùng đạn NATO 7,62x51. Ngoài FAL thì phần lớn thế giới còn lại (chỉ tính ngoài thế giới AK-47) lại dùng các bản nhái khác nhau của AK.
Đến thời AK-74 5,45x39mm thì quá chênh lệch khối lượng đạn cả vỏ. Đạn AK 5,45x39 nặng 11 gram, đạn AK 7,62x39 nặng 16 gram, đạn Mosin nặng 22 gram, đạn NATO 7,62x51 nặng 25 gram. Vì vậy, châu Âu mới quyết định đổi đạn và xảy ra vụ lừa anh Mèo Hoang ngu hơn con eng éc kia. Hầu hết các nước châu Âu chuyển sang nòng-đạn mới vào đầu 198x. Mỹ cũng thời gian đó chuyển nòng cho M16 thành M16A2 nhưng máy móc vẫn như cũ.
Như đã nói trên, FN đã nỗ lực theo M16 bằng bản CAL, nhưng quân đội Bỉ không thể chấp nhận. FN nỗ lực rất nhiều để có thể có một bản AK Bỉ hợp lý. FN FNC bắt đầu được sản xuất và chấp nhận năm 1978, năm 1977 dừng sản xuất CAL. Thực chất, CAL chỉ dừng ở mức số lượng giao cho quân đội thử dùng. FNC sau đó được các khách hàng truyền thống của FAL chấp nhận. Ví dụ Indonexia dùng Pindad SS1 và Thụy Điển Ak5, cả hai nước đều mua li xăng về tự trồng. Pindad chúng ta đã đề cập, trước đó Indonexia dùng súng trường FAL sau khi thử không được AK Đan Mạch. Một số khách hàng lớn khác của FAL vẫn dùng FAL cho đến nay như Brasil, và cũng lên kế hoạch đổi sang FNC hoặc SIG SG-550.
Những đặc điểm chính của FN FNC mình trình bầy ngắn gọn bằng cách so sánh với AKM
Vỏ máy súng là phần có nhiều chi tiết phức tạp nhất và quyết định phần lớn giá thành súng ngày nay. AKM làm bằng tấm mỏng, còn vỏ máy súng FNC dựa vào nhiều cắt gọt, sẽ làm súng nặng hơn và đắt hơn. Như mình đã đề cập từ AK Phần Lan Rk, AKM tấm mỏng nhưng không phải dập nguội mà là rèn nóng, cho phép sử dụng vật liệu cứng, không gỉ, lâu mòn, nhưng khá ròn ở nhiệt độ thường không dập được, và giá rèn khuôn không rẻ. Để có thể có năng suất cao phải có các máy chuyên dụng đốt nóng phôi bằng gas hay than và tự động cho vào máy rèn khuôn chuyên dụng. Vật liệu làm vỏ máy súng AKM cũng như các súng Liên Xô và Nga khác từ PPSh là thép măng gan-phôt pho, đây là loại thép không gỉ (inox, i-nốc theo tiếng Ta bồi ông Tây Phú Lãng Sa), nhưng nó xỉn đen nên ít dùng đồ gia dụng.
FNC dùng cắt gọt/hàn/dập nguội, có thể chạy được trên các máy gia công đa năng chủ yếu là phay, sau đó là các máy đa năng điều khiển số CNC. Các máy đa năng bao gồm nhóm dập nguội, tiện, khoan, phay (bào , xoi...), hàn... SÚng sẽ nặng, đắt, và sau đó phải phốt phát hóa chống gỉ, vừa chống gỉ không tốt vừa đẩy giá lên.
FNC có vỏ máy súng gồm hai nửa như thời DP và PPSh, cũng như thừa kế từ FAL. Hai nửa này khớp với nhau bằng bản lề và các chốt, bản lề có vị trí như MP44 Đức. Nửa dưới có báng và máy cò. Nửa trên có nòng và bệ khóa nòng, trích khí, đẩy về.
Đẩy về của FNC có vị trí như AK nhưng théo lắp khác vì vỏ máy khác. Cán piston dài, nối liền với bệ khóa nòng khi vận hành bằng khớp cứng, nhưng có thể tháo ra khi tháo lắp. Cán piston của AK liền với bệ khóa nòng bằng khớp lỏng những không tháo lắp được.
Trích khí của FNC hơi khác FAL, không thể tháo ra từ trước để lau, mà chỉ được tháo sau cùng trong chuỗi tháo các khối súng ra lau như AK, hơi dở với trích khí tiết lưu. Đầu ruồi để trên trích khí. Trích khí cũng là tiết lưu. Trích khí có cần vặn chuyển chế độ sang bắn lựu từ nòng chính, khi chuyển sang bắn lựu thì cũng là chuyển sang thước ngắm lựu.
Điểm khác biệt lớn trong khóa nòng FNC so với AK là chuyển tai quay từ đầu to sang đuôi khóa nòng, cũng là để dễ gia công trên máy đa năng cái khe quay trên bệ khóa nòng, cấu tạo đó dễ gia công trên máy gia công trung tâm. Cấu tạo này làm lực bẻ quay khóa có bán kinh nhỏ và moment nhỏ hơn so với AK. Tuy nhiên, khe quay châu ÂU không đến nỗi ngu xuẩn như Mỹ, khá thoáng và có đoạn lấy đà.
http://www.youtube.com/watch?v=vnVVqTGNCYo
FNC có 4 chế độ bắn, an toàn- phát một - 3 viên - liên thanh.
Vị trí thước ngắm / đầu ruồi của FNC giống như của AK Phần Lan Rk, AK Thụy Sĩ SIG SG-4xx/5xx, AK Israel Galil.... có thước ngắm đặt sát mắt phía trên sau vỏ máy súng, đầu ruồi lùi lại tương ứng ở trên trích khí. Các vị trí này đều yếu, dễ cong vênh hơn so với đặt đầu ruồi đầu nòng và thước ngắm trên cổ súng cổ truyền. Liên Xô và Nga cũng như các nước dùng AK xịn khác đều giữ đầu ruồi thước ngắm cổ truyền, cũng như thước ngắm chữ U cổ truyền.
FNC có báng khung nhựa gập ngang như bản nhảy dù của AK-74. SÚng nặng 4,06 kg bản nhảy dù nòng ngắn 3,81 kg. Nòng dài đủ chiều dài đạn NATO 5,56x45; 449 mm. Bản nhẩy dù 363 mm. Chiều dài và cân nặng súng đều cồng kềnh nặng nề so với AK.
Ak5 Thụy Điển là bản copy có li xăng FNC
So sánh khóa nòng FNC (giữa)
Bệ FNC với khe quay tương ứng trên chuôi khóa nòng
Trích khí FNC và INSAS với cái cần gạt chuyển sang bắn lựu và thước ngắm bắn lựu
http://indiansforguns.com/viewtopic.php?p=94020