View Single Post
  #3  
Cũ 21-01-2013, 20:30
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Nối tiếp đợt 1 của cái post trên


Khi tinh thần cách mạng bên Đông Âu nổi lên, thì cách mạng là món hàng có giá và vẫn thường được tây Âu làm giả, cuộc cách mạng to nhỏ nào cũng vậy. Ví dụ sau.

Pháp không phải là không biết đến vỏ đồng, khẩu cạc bin vệ binh hoàng gia mle 1854 đã là vỏ đồng, nhưng vỏ đồng này hạt nổ lệch như súng ngắn Lefaucheux . Mút cơ tông mle 1954 có hạt nổ sườn, búa đập ngang, vì thế nó không thừa kế việc nạp sau dùng xoắn có mục tiêu để bắn chính xác, chỉ a dua a tòng dùng vỏ đồng mà không biết tại sao người ta lại dùng vỏ đồng. Súng này có đường kính rất hiện đại lúc đó 9mm, đầu đạn 11 gram, sơ tốc 547 m/s, phải nói là cực kỳ nếu như không đập ngang súng trước khi điểm hỏa. Được cái, súng được điểm sơ tốc như thế với một cái máy súng siêu đơn giản, khóa nòng then trượt đứng đồng thời là búa, không cần mì tôm mỳ sợi gì cả. Súng được nạm vàng, nên nó chứng minh rằng càng nhiều tiền càng dễ mua phải súng lởm.

Chưa hết, bác Tây Phú Lãng Sa còn có thêm đạn Minie làm xiếc súng nạp miệng xoắn. Minié ball là đăng ký phát minh tại Mỹ của một sỹ quan Pháp Claude-Étienne Minié lang thang sang kiếm ăn. Đạn có lỗ nở đằng sau, đường kính bé hơn nòng, khi bắn đạn nở ra khớp với xoắn trên thành nòng. Tất nhiên, các hãng bán súng Mỹ sau này sản xuất cả trơn và xoắn, vì nếu như viên đạn chì trứ danh Miniê có thành mỏng mà cong méo, thì phải đem súng đến lò rèn. Cái hài là, sau lần này thì lỗ nở này Anh-Pháp-Mỹ không dùng cho đến nay. Cùng là đạn NATO nhưng Đức cứ dùng đạn Đức. Bao giờ Đức-Nga cũng phải có lỗ nở, từ Krnka 1867 cho đến AK hiện đại. Người Pháp dùng lỗ nở để biểu diễn xiếc, còn Nga Đức để đạn gia công không chính xác khít với nòng mòn, nên súng của họ rất chính xác.

Sau hai lần dùng xoắn kiểu đó, thì bác Phú chuẩn bị chiến tranh với vỏ giấy giả vờ vỏ đồng bằng cách đặt hạt nổ y như vỏ đồng, và vì thế hạt nổ đặt trên đe bằng giấy. Napoleon III trước chiến tranh có câu "Đã chuẩn bị đến cái khuy áo cuối cùng trên quân phục người lính cuối cùng". Sau Napoleon (I, Bô na pác), những sức mạnh và vinh quang Pháp bị tiêu diệt, người Pháp tủi nhục, ngai vàng Pháp là những ông vua xác khô liệt não được ngoại bang dựng lên, nghiện ngập những đức tính cao quý của súc vật. Ngân sách thối nát bâu đầy chặt giun sán giòi bọ.


Ngoài những súng đó thì có khẩu Kammerlader 1842 Na-Uy. Súng nạp sau dùng nòng xoắn, đạn đai như M1841, nhưng không có vỏ. Phần buồng đốt lật lên đổ thuốc nạp đạn. Khẩu súng này có cơ cấu máy giống như khẩu "trung liên bắn đạn ria" "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831". Tuy nhiên "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" không cần bắn chính xác như súng trường, nó là súng trợ chiến nặng 8,6 kg, đường kính 21,8mm; xoắn tam giác, vai trò như trung liên ngày nay. Kammerlader 1842 và "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" đều yếu do thoát khí quá nhiều, dùng hạt nổ.


Lùi lại thời gian, có bác Patrick Ferguson Anh-Mỹ. Bác là một sỹ quan Anh sang Mỹ đàn áp Washington. Trận đầu tiên tham chiến bác chết, thế là súng hết. Bác dùng một con ốc để đóng mở cửa hậu, thuốc bột rời, đá lửa.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Chúng ta cần hiểu rằng, không phải cứ có vỏ nạp sau là hiện đại, vì súng thế kỷ 15 đã có vỏ nạp sau để bắn cho nhanh. Cái buồng đốt là vỏ đạn, có thể có nhiều nhóm nhồi đạn , nhiều vỏ... phục vụ một khẩu súng bắn cho nhanh. Tiếng Thụy Điển là Vögler , Tiếng Bồ Đào Nhà là Ninigret , tiếng Đức là Vogler...

Vì khó đánh giá thế nào là hiện đại nên các chính khác tha hồ lừa đaqor ngân sách. Từ đây xuất hiện nạ quảng cáo súng, súng được quyết định bằng đoàn chó dại cùng ngu cực xuẩn và điên rồ hết cỡ trong xã hội thông qua quảng cáo, át lời thiểu số bác học.
=========================





Đợt hai 189x xuất hiện cùng với việc "gia công tấm mỏng" xuất hiện trong kỹ nghệ kim loại. Ban đầu, gia công tấm mỏng chỉ là làm thủ công, người ta đập dẹt kim loại bằng lò rèn thủ công. Sau đó các máy cán thép cho ra các tấm-dây sản lượng lớn, đem đột cắt, rồi dập nóng (rèn) hay dập nguội (nguội) , gò tán hàn... thành công cụ và chi tiết máy rất rẻ so với rèn và cắt gọt như cũ.

Thời này xuất nhiện băng hộp lò xo chuyển động ngang viên đạn như các băng đứng của AK hay băng trống của RPK như ngày nay. Cũng thời này xuất hiện nhiều băng đạn dây cho súng máy cũng tấm mỏng. Như nói trên, băng ống gỗ dọc không thay băng nhanh, nên khi hết đạn trong băng thì nếu như đang chiến đấu, thà là lắp từng viên coi như không có băng còn hơn. Băng ngang ban đầu là cố định, nhưng xạ thủ đem sau các kẹp đạn đã lắp sẵn đầy đạn để trút sang băng nhanh. Một số súng có cơ cấu hãm khóa nòng ở sau để dễ trút đạn. Ban đầu một số băng có 3 viên, về sau này tăng lên 5 và hơn nữa. Một số súng thay cả kẹp đạn, người ta nhét luôn kẹp đạn rẻ tiền vào băng, bắn xong vứt đi.

Việc dùng băng ngang dẫn đến việc cái gờ móc lạc hậu, nó cản chuyển động của vỏ đạn trong băng ngang. Điều này dẫn đến việc dùng vỏ đạn có rãnh móc thay gờ móc như G88 dùng đạn Mauser 7,92x57. Vỏ đạn có rãnh nặng hơn vỏ đạn có gờ một chút. Điều quan trọng với vỏ đạn có rãnh là nó cần gia công vai buồng đạn và vỏ đạn chính xác vì vỏ đạn không tụt sâu vào nòng bằng vai chứ không phải là bằng gờ móc nữa, điều này dẫn đến các máy móc khoan buồng đốt của nòng đắt đỏ hơn. Có một câu chuyện buồn là Mosin chấp nhận dùng gờ móc lạc hậu để dành việc cho các quân xưởng cổ truyền như Tula, nhưng những đợt hàng lớn đầu tiên của Mosin vẫn bị bán đứng sang Anh-Pháp-Mỹ, có lẽ vì thế mà cho đến nay PK không bỏ gờ móc để nhắc lính Nga cái thời Nga Hoàng bán nước toàn diện.



Đợt hai cũng đánh dấu việc bỏ thuốc nổ đen. Đông Âu chuyển sang thuốc súng cháy chậm, cùng một động lượng đầu đạn thì nòng súng mỏng hơn nhẹ hơn. Anh Mỹ dùng cordite vẫn cháy nhanh nhưng không khói.

Đích của việc thay thuốc đến WW2 mới đủ chức năng và cho đến nay vẫn hoàn thiện. Thuốc súng cháy chậm được làm bằng những chất rắn, cứng chắc, không vỡ khi bắn, không truyền chấn động vào sâu viên thuốc, nên chỉ cháy ở bề mặt viên thuốc, tốc độ cháy bão hòa tỷ lệ thuận vởi tổng diện tích bề mặt các viên thuốc. Nhờ thế người ta có thể tạo hình những viên thuốc sao cho nó thay đổi diện tích bề mặt như ý muốn. Ví dụ, đạn pháo ngày nay làm bằng những viên hình trụ rỗng to như ngón tay người, vừa cháy ngoài vào, vừa cháy trong ra, nên ít thay đổi diện tích mặt ngoài. Pháo có viên to dễ làm, còn súng trường cần viên rất nhỏ nên khó làm, đến thời AK viên thuốc mới gọi là đều hình dẹt, còn trước đó vẫn là những dạng như đùn sợi hay vê viên giống như viên cám chăn nuôi.

Việc thay thuốc súng bắt đầu bởi pháo to ở Nga-Đức 187x. Bởi vì gia tốc đạn pháo nhỏ, thời gian chuyển động lâu, cần thuốc cháy chậm. Ban đầu thuốc súng thay bởi nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) như poudre B Pháp. Poudre B là nitrô-xenlulôz khử acid, trộn keo da trâu gelatin và 2% nến faraffin, hòa dung môi ê-te (ether), cán, sấy thành giấy mỏng, cuộn thành cuộn hay cắt vụn cho vào vỏ đạn lebel (giống như kỹ thuật làm phim chụp ảnh ngày đó). "Viên giấy cắt vụn" này quá sơ khai. Sau đó Nobel đưa "thuốc súng đường đạn" "Ballistite" và đăng ký phát minh ở nhiều nước để bán thương mại, sau khi ông đăng ký ở Thụy Điển quê ông. "Thuốc súng đường đạn" ghồm 2% chất Diphenylamine (C6H5)2NH để ổn định, còn lại là hỗn hợp nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) và nitrô-glyxêrin (nitroglycerin), hỗn hợp được hóa keo trong long não camphor C10H16O, tạo hình rồi sấy khô. Với súng trường có viên thuốc nhỏ thì tạo hình thường là đùn thành sợi rồi cắt lát. Tùy từng loại súng mà người ta gia giảm hai thành phần chính và kích thước hình dang viên thuốc đễ có tốc độ cháy và tốc độ tỏa năng lượng như ý. Đến năm 1907 thì long não được sản xuất nhân tạo quy mô lớn ở Tainionkoski/Phần Lan, nên thuốc súng tốt đã quá dễ để cho ra Mosin M1908.



=
Tây Âu đánh giá thuốc súng Đông Âu.... và đưa ra hai kết luận như sau.
Một là nó không có khói
Hai là mật độ năng lượng / khối lượng cao

Thế là Anh Mỹ đưa ra cordite, thuốc súng thừng. Thuốc này không có khói và mật độ năng / khối rất chi cao.... VL Tây Âu. Quá dễ để các nhà khoa học Tây Âu hồi đó nghiên cứu các bài báo khoa học Đông Âu cũng như phân tích thuốc súng Nobel xem có những chất gì. Không có khói và mật độ năng lượng cao thì đúng là mạnh rồi còn gì nữa nào.

Vấn đề là, cordite làm bằng phương pháp đùn sợi. Để trơn tru dễ đùn, cordite có lượng khá lớn vadelin, tức là mỡ gốc dầu khoáng, nó nhẹ hơn một chút loại mỡ cho vào vòng bi, các quý cô cũng hay dùng làm trơn da. Vadelin cũng kỵ nước nên về sau này nó có tác dụng bảo quản rất tốt, chống ngấm nước hút ẩm. Nhưng vấn đề là, cordite có thành phần vadelin nên nó là một thuốc nổ dẻo, truyền phản ứng cháy vào bên trong khối thuốc, không thể làm thuốc súng hiện đại được.

Một điều ngu xuẩn là. Dù cho có dùng thuốc nổ đen làm thuốc súng như cổ truyền, thì lượng thuốc súng cũng rất nhỏ so với khối lượng đầu đạn. Đến đạn hiện đại mạnh như AK chẳng hạn, thì chỉ có hơn 1 gram thuốc súng hiện đại, nếu thay thuốc nổ đen là 3 gram, vẫn nhồi thừa thãi vào cái vỏ đạn AK hiện đại. Đầu đạn AK nặng 8 gram và cả vỏ là 16 gram. Như thế, nếu AK dùng thuốc nổ đen thì nó sẽ nặng 18 thay cho 16, tăng không đáng kể. Thuốc nổ đen hiện đại cũng không khói và được sản xuất rất nhiều, không khói vì hiện nay người ta dùng đường ăn trộn với NH4NO3, là những chất dễ kiếm và rẻ tiền hơn nhiều KNO3-S-C.

Lee Enfield đã có tai chịu lực kéo dài phần thép dầy ở vỏ máy súng, lại có thuốc súng "thuốc nỏo đen cổ truyền không khói" nên sơ tốc hàng 700m/s không bằng các bản cạc bin cưa nòng cho ngắn của Mauser-Mosin. ".30-06" Springfield cùa Mỹ đạt sơ tốc đến hàng 800m/s gần bằng Mosin thì vỏ đạn nặng ục, 64x7,62 so với 54R x 7,62 (Mosin).

Còn Pháp, thì Giáo Chủ Ri-sơ-li-ơ, thiết giáp hạm Richelieu , soái hạm Pháp, đã bay mất nòng trong trận đánh đầu tiên tại Dakar Senegan 23-25 tháng 9-1940. Thuốc poudre B Pháp được cải tiến nhiều lần. Nhưng như chúng ta thấy, thuốc súng tốt không phải là một thứ thuốc, mà mỗi súng người ta sẽ trộn tỷ lệ thuốc khác nhau, ép thành các viên hình dang kích thước khác nhau, không có thứ thuốc nào chúng như mopij loại súng như poudre B Pháp hay cordite Anh-Mỹ cả.


Tuy nhiên. Vấn đề gia công đạn lõi thép vỏ đồng không đơn giản, nên bước 2 chỉ dừng ở băng ngang, và cải tiến chút thuốc súng, vẫn là đạn chì đúc tuy nhanh hơn chút. Sau khoảng 10 năm thì vẫn các súng đó chuyển sang bước 4 thay đạn "chống trên mũi nhọn", hầu hết đều bắn được chung đạn, nhưng phair thay thước ngắm chẳng hạn.




Đồng thời các mác thép đã chuẩn nên thép súng đã tốt hơn, gia công bằng máy chính xác hơn cắt gọt bằng các công cụ thủ công, nên máy súng chau chuốt hơn. Các súng khóa nòng quay Mauser, Mosin.... và các súng khác đều dùng 2 tai nhỏ thay cho 1 tai trên cán tay cầm như Berdan và IG71. Hai tai trước (ngay sau nòng) cho phép đường truyền lực rất ngắn, khóa nòng và vỏ máy súng đều nhẹ đi mà đắp vào nòng, nhưng Lee-Enfield và các súng Mỹ cho tai chịu lực về sau để gia công rẻ, né được cái cổ vỏ máy súng khoan khoáy phức tạp. Lee-Enfield có đạn yếu xìu so với Mauser, Mosin, thậm chí không bằng những bản cạc bin nòng ngắn.


Lúc này chuyển đường kính đạn xuống 8mm (Lebel, nhưng Lebel chỉ cải đạn mà cấu tạo súng vẫn cũ, Berthier mới là súng thế hệ mới nhưng bên Pháp Lebel đã làm vua không cho Berthier được trang bị, nên 1900 thì súng thuộc địa Pháp tốt hơn súng chính quốc Pháp), 7,62mm (Mosin), 7,92mm (Mauser G98 và súng trường "hội đồng" G88).

Sơ tốc đầu đạn đạt 500-600 m/s. đợt này phổ biến dùng các đầu đạn 15 gram. Vẫn là đầu đạn chì đúc.

Các ví dụ về đợt 2 có G88 Đức, Mosin 1891 Nga, Berthier Pháp như trên chính là Anh Đô Si Noa nhà ta sau này, Krag – Jorgensen của Đan Mạch Na Uy Mỹ, Lee Enfield Anh, Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung.




Đợt 4. Đợt 3 có thể được chia làm đôi, đợt sau của đợt 3 là "đợt 3,5", đó là chống trên mũi nhọn 190x. Nhưng ở đây ta đánh số đợt 4

Mấu chốt kỹ thuật của đợt 3 này là gia công được đầu đạn lõi thép vỏ đồng. Điều này cho phép sử dụng sức mạnh của thuốc súng mới. Hầu hết các súng đều không có thời điểm chính xác chuyển sang kiểu này trừ Mauser G98 năm 1898, ".30-06" năm 1906, Mosin M1908.

Riêng bác Lebel thì bác chống trên mũi tù vì băng ống dọc đạn thép chọc hạt nổ nhau gây tai nạn, không cho Berthier lên. Hài hước là từ khoảng gần 1900 thì súng thuộc địa như ANh Đô Si Noa nhà ta tốt hơn súng chính quốc vì dùng Berthier không có băng ống gỗ dọc phải cưa bằng đầu đạn lõi thép.

Tuy nhiên, bên Nga thì không dùng thuốc lởm của Anh-Mỹ-Pháp poudre B/cordite, muốn dùng "thuốc súng đường đạn" của Nobel, nhưng lại không có nhiều long não, trước đây được chưng cất từ một số loại gỗ. Thuốc súng dùng cho pháo lớn dên làm hơn, viên nó to, Nga tìm ra một số giải pháp đúc rắn tạo hình... nhưng súng trường thì khoai. Mosin đi hợ chậm M1908 nhưng là súng vừa mạnh nhất vừa chính xác nhất trong số các súng trường phổ thông ngày đó.



Các súng đợt này đầu tiên phải là Mauser G98 Đức/Phổ (Phổ thống nhất các miền dân Đức thì đặt tên đế quốc là Đức). G88 được gọi là súng hội đồng mặc dù nó rất giống các súng khác của nhà Mauser, nhưng nhà Mauser không hiểu vì sao dỗi không tham gia hội đồng. Mosin bắt đầu M1908 với việc Long Não để sản xuất thuốc súng đường đạn Nobel đã được tổng hợp bên Phần Lan thuốc Đế Quốc Nga năm 1907. Mỹ có ".30-06" nói trên.

Sơ tốc lúc này đạt 700 m/s (Lee Enfield Anh), 800m/s (Mauser), 870 m/s (Mosin, về sau còn 860 vì bỏ bản nòng dài).... và ".3006" Mỹ gần như Mosin nhưng đổi lấy cái vỏ đạn to tướng báo hại súng máy. Sơ tốc này làm vỡ đầu đạn chì, vì vậy các súng chuyển sang đạn thép có vỏ mềm bằng đồng. Đạn lõi thép vỏ đồng đầu nhọn sinh ra việc áp dụng thuật phóng "chống trên mũi nhọn". Trong thuật phóng này, đầu đạn có một cái "mũi đường đạn" xé không khí, toàn bộ viên đạn sau mũi đó nằm trên buồng chân không do mũi tạo ra. Việc đạn xoáy và vì thế nó như con quay, luôn muốn chổng ngược trọng tâm lên mũi đinh quay. Điều này giúp đầu đạn uốn dẻo theo đường cong của đường đạn.

Đạn xoáy cũ không có đầu nhọn do đúc chì, đồng thời đạn bay chậm buồng chân không bé, mà đạn thì lại to dài thò ra khỏi buồng đó, chỉ cố định trục đường đạn.

Khối lượng đầu đạn giảm xuống còn 9,5 gram cho đạn sát thương điển hình, 12 gram cho đạn súng máy có khả năng xuyên tốt hơn. Khả năng bắn trúng bia hình người (tầm bắn hiệu quả) lên đến 600 mét, thừa gấp đôi khả năng ngắm bắn của binh nhất điển hình. Mức động lượng của đầu đạn vẫn giữ gần bằng cũ - tính từ thời nạp miệng. Các đạn cầu nạp miệng Nga-Đức thời Napoleon cởi truồng khoảng 15-17 mm có động lượng cũng ngang với Mosin-Mauser ( đạn cũ nặng 27-30 gram sơ tốc 300 m/s, đạn mới 9,5-12 gram sơ tốc 800-900). Đây gần như là "tiêu chuẩn động lượng" phù hợp với sức chịu giật người lớn khi bắn phát một.

Ban đầu, các đầu đạn như G98 chọn cỡ 12-13 gram. Tuy Mosin chưa được duyệt loại đạn mới (năm 1908), nhưng đã chỉ ra cỡ đầu 9,5 gram. Loại đầu nhẹ này xuyên giáp, xuyên rừng... không bằng đạn nặng, nhưng sơ tốc lớn-buồng chân không dài, đạn ngắn, nên chính xác hơn trong khoảng 600 mét đầu tiên, và xuyên qua phần lớn các giáp cá nhân kể cả như ngày nay. Đến năm 1930 thì có một số ý kiến quay lại đạn nặng vì xe thiết giáp lúc đó nhiều, nhưng sau đó ý kiến này nhạt vì đạn súng trường thôi không hy vọng đánh xe tăng nữa. Tokarev đến 1936 đưa ra đạn phức tạp như đạn pháo có sức xuyên và chính xác tốt cho Mosin.

Bên Anh Mỹ thì muốn dùng súng máy bắn diện tích, nên sử dụng đạn nặng. Đức thì phái Hitler không giỏi về súng ống lắm nên nửa nhẹ nửa nặng 12 gram

Các đường đạn chống trên mũi nhọn ngày đó vẫn được dùng cho đến nay như Mosin và NATO 7,62x51. Sau này các súng này chuyển sang tự động lên đạn. Cỡ đạn này không cho phép dùng liên thanh với cỡ súng cá nhân 3-4-5 kg vì rất giật. Xô-Đức đều có những súng như thế ví dụ AVS-36, AVT-40 (bản liên thanh của SVT), nhưng đều không dùng. Còn Mỹ thì có bác M14 sang Việt Nam bán vung và còn nhồi cho Nhật Bản bại trận. Các bản xung phong của FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... đều cắt ngắn nòng đi để giảm động lượng khi xung phong. Để ổn định, thì ít nhất súng phải nặng 7kg, quá nặng với cá nhân.




Đợt 4 của cách mạng súng ống là AK năm 1949.
Nhưng như chúng ta đã biết, do 3 đế quốc Đông Âu tan vỡ nên chương trình chậm lại, đáng ra đợt 4 đã xuất hiện cùng với các súng Mondragon (Mexico, Thụy Sỹ và Đức thiết kế chế tạo), Fedorov Avtomat (Nga).

Bản chất của đợt 4 là các máy móc gia công hàng loạt đạn đã nhiều, cũng như các máy móc gia công hàng loạt các mặt hàng khác. Điều này cho phép tạo hình thuốc viện điểu khiển đúng tốc độ cháy, đạn mạnh, cũng như đạn nhiều như biển và rẻ.

Tác dụng với súng ống của đợt này là cắt bớt động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay khi xung phong.

Mỹ đưa ra khẩu súng lởm M16A1 năm 1967. Nó lởm quá đến nỗi chẳng nước nào mua, chúng ta sẽ nói sau. Lúc đó ngoài quân bộ binh Mỹ thì chỉ có các cỡ Nam Hàn, Nam Việt... là dùng M16. Kể các các đồng chí thân nhất của Mỹ, hay bị Mỹ đô hộ nhưng còn có chút quyền... như Úc, Canada, Anh, Nhật... đều chổng mông vào M16. Các nước trên trừ Nhật dùng FN FAL, các nước đánh giá súng tiên tiến hơn dùng FN FNC. Nhật dùng M14 là bản liên thanh của M1 Garand.

Các súng FN FAL, FN FNC (Bỉ), G3 (Đức), CETME (Tây Ban Nha-Thụy Sỹ) đeeuf dùng bản nòng ngắn để xung phong. Làm đạn to nặng, nhưng ném sức đạn đi... là NATO sỉ nhục Mỹ trong thời AK.

Hầu hết thế giới dùng FN FAL, đây là bản copy SVT có cải tiến một chút để dễ tháo lau trích khí, đồng thời khung vỏ máy kiểu gập thích hợp với điều kiện gia công truyền thống của nước này (giống khung súng DP). Một số các nước dùng FN FNC, đây là bản nhái AK nhưng có 2 cải tiến, một là khung súng gập như trên, hai là chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi khóa nòng, điều này sẽ thuận tiện hơn khi gia công trên máy phay/tiện đa năng thường (phôi được đặt trên trục quay như máy tiện, lưỡi gia công quay như mũi khoan), sau đó là máy điều khiển số CNC. Còn AK thì bệ-khóa phải dùng bộ gá chuyên dụng, không thích hợp với các nhà máy làm ra nhiều loại súng bán nhiều nơi.

Chúng ta đang nói đến súng ngắn liên thanh tranh ngôi súng trường xung phong, xuất phát từ những rối loạn chính trị bên Đức và sự tan vỡ khó khăn của 3 đế quốc Đông Âu, chính điều này là nguyên nhân chủ yếu đẩy lùi đợt 4 đến 40 năm.



Đợt 5 của cách mạng súng ống là AK-74 năm 1974
Đạn AK-74 phức tạp như đạn pháo, thực hiện được bằng các máy móc điện tử mới xuất hiện. Như thế, cho phép giảm động lượng đầu đạn xuống nữa mà súng vẫn khỏe, giảm khối lượng đạn, lính mang được nhiều đạn.

AK chuyển từ 7,62x39 xuống 5,45x39. AK chỉ giảm đường kính nòng đạn, chiều dài nòng đạn và các chi tiết khác giữ nguyên.

Đạn NATO 7,62x51 nặng 25 gram. Đạn Mosin nặng 22 gram, đạn có gờ móc nhẹ hơn một chút vì đạn có khe móc đế dầy, đồng thời Liên Xô cách mạng luôn cái vỏ đạn chuyển sang vỏ sắt. Đạn AK 7,62mm nặng 16 gram, đạn AK 5,45mm nặng 11 gram.

Đến đây, thì các FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... dùng đạn NATO 7,62x51mm quá nặng sop với đạn AK. Tỷ số là 25 gram / 11 gram, suýt soát 2,5 lần. Vậy nên NATO mới thống nhất nòng / đạn mới do FN Bỉ đề xuất, là FN SS 109. Mỹ chuyển tiêu chuẩn này samng hệ inch là M855 Mỹ. Nòng đạn này mạnh nước nào nước ấy áp dụng. Mỹ là M16A2. Chương trình này bắt đầu áp dụng đầu 198x.

ôi trời, mạng ở nhà đang dỡ nhà hàng xóm phải thay dây, ra quán chát mãi mới chọn được cái key, thì đang gõ mất mouse, thôi, pause hôm nay.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 21-01-2013 thời gian gửi bài 23:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (21-01-2013), tolaind (22-01-2013)