Chúng ta đang dừng ở phần mô tả những loay hoay của người Đức trước WW2. Là vị trí hàng đầu về súng ống, Đức có súng rất tốt, có các cơ quan đánh giá súng sáng suốt, nhưng vì họ bị cấm sản xuất súng máy một thời gian dài, nên họ tụt hậu sau Liên Xô xa. Cho đến liền trước WW2 thì Đức chưa có các kiểu máy súng đủ chất lượng. Trong WW2 Đức có các khẩu súng danh tiếng MG42, MP45, G43.... nhưng chúng vẫn chứa những nhược điểm chưa hoản hảo. MG42 và MP45 khó chế tạo quy mô lớn con lăn. G43 copy trích khí Liên Xô ngay trong chiến tranh, đồng thời nó chứa đựng nhược điểm cần chăm sóc kỹ trong khóa nòng, và khi chuyển sang liên thanh điều đó không chấp nhận được.
Còn các nước Anh Pháp Mỹ thì đơn giản là chấp nhận những kiểu súng mà Xô-Đức không thể ngửi nổi.
================
Để hình dung ra cuộc đấu súng trường xung phong-súng ngắn liên thanh bên Đức, chúng ta cần nhìn lại cuộc cách mạng súng từ súng trường cổ sang súng hiện đại chút. Cuộc cách mạng này bắt đầu vào khoảng giữa tk19, có năm bước liên tục cho đến 198x. Đến nay, các kỹ thuật mới được nói đến nhiều nhưng không đem lạc hiệu quả đáng kể, nên chưa hình thành một đợt súng mới. Những thay đổi từ 1990 đến nay, sau năm 2010, kể cả là lớn nhất, cũng khó sánh được với những đợt thay đổi giữa các đợt cách mạng lớn, như AK nguyên thủy 1949 sang AKM 1959. Ngày nay thì thay đổi đáng kể nhất với súng gồm máy tính đạn đạo và kính nhìn đêm. Máy tính đạn đạo thì không cần cho súng trường, mà chỉ ích lợi cho nòng phóng lựu đi kèm nó. Còn kính nhìn đêm đang được do dự để trên súng hay là trang bị cho lính dùng cho nhiều việc khác chứ không chỉ dùng súng trường.
Đợt 1: giữa thế kỷ 19
súng hiện đại ra đời với những đại diện
Mauser IG71 1871 Đế Quốc Đức,
Berdan M1870 Đế Quốc Nga,
Vetterli M1969 Thụy Sỹ (sau được vài nước đùng trong đó có Ý), "
Gendarmerie Repetier Gewehr System - Fruwirth M1872" Đế Quốc Áo-Hung.
Gras mle 1874 Pháp.... và những tiến bộ của chúng như
Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 , Khẩu súng mà các chó các lợn xưng là "chống trên mũi nhọn" nhưng vẫn thuộc lớp này là
Lebel 1886 Pháp (Le fusil de 8 mm modèle 1886), nó sao chép lại khẩu súng Áo-Hung bán cho Pháp cũng thuộc lớp này
Kropatschek Model 1881 Gendarmerie Carbine, thu nhỏ lại đạn so với mẫu trước Fruwirth M1872.
Ngoài ra, có các khẩu súng hàng "tiền khởi nghĩa", tức có cấu tạo trung gian, là "
Le fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866", thường gọi là
Chassepot 1866, Pháp, vỏ giấy, đường kính 11mm, sơ tốc 375 m/s, đầu đạn 25 gram. Trước đó có Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, đường kính 15,4mm đầu như trên, sơ tốc 305 m/s (
http://oldmilitaryrifles.eu/germany/germany.htm) (ảnh
http://www.littlegun.info/arme%20all...reyse%20gb.htm). Súng trung gian còn có một số súng rẻ tiền và các súng hoán cải từ súng cổ sang có vỏ nạp sau.
Các súng này được gọi là
súng trường đối kháng battle rifle, chúng được phát triển và có vai trò là súng chủ lực cho đến khi AK xuất hiện.
đợt hai: 189x, súng dùng băng hộp lò xo ngang
Những súng có băng là Repeter, nhưng băng ống gỗ dọc không thật sự là băng. Khi bắn hết đạn không thay băng được nên thà lắp từng viên như không băng còn hơn là lắp đầy băng đánh nhau tiếp. Ban đầu băng ngang cố định nhưng có cái kẹp đạn lắp đạn cho nhanh, sau đó là băng thay nhanh.
"Súng Hội Đồng" Phổ (Đế Quốc Đức) G88 năm 1888, Mosin nguyên thủy Nga M1891, Lee Enfield Anh, Berthier 1892 "
Le mousqueton d'artillerie de 8 mm modèle 1892" của Pháp.
Súng Áo-Hung Austro-Hungarian Kropatschek Carbine M1881, cũng như bản nhái của nó là Lebel Pháp, đều là trung gian giữa hai đợt, đã thu nhỏ đạn nhưng vẫn dùng băng ống gỗ dọc.
Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung, nó là súng "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, kiểu khóa chèn nghiêng sau này sẽ phát triển thành những BAR-ZB-Bren-SVT-FN FAL... Krag-Jorgensen được dùng ở các nước Bắc Đức Đan Mạch/Na Uy (không sát nhập vào Đế Quốc Đức của Phổ) và sau đó truyền sang Mỹ.
Tuy có nhiều, nhưng các súng đợt này thì trừ các bản "Straight-pull bolt action" đều xoay quanh các thiết kế Mauser và Mosin. Mauser có bộ kim hỏa tinh vi hơn bao gồm chức năng khóa an toàn.
Winchester Lee Navy rifle model 1895 Mỹ cũng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, nhưng đơn giản hóa chèn nghiêng thành bản lề sau này sẽ tiến thành các trung liên BAR Mỹ và FM 1924 Pháp.
Đợt 3: chống trên mũi nhọn 190x
Đó là các bản G88 Mauser, Mosin M1908, ".3006" Mỹ.... và các súng khác. Các súng này có cỡ nòng giống như trước, bắn được lẫn đạn, ở nhiều nước không có phân biệt rõ rệt. Cải tiến đợt này chủ yếu là ở đạn, chuyển sang lõi thép vỏ đồng.
Đợt 4, súng trường xung phong lần 1
Gồm các
súng trường xung phong assault rifle bắn đạn có cỡ đường kính nòng như súng trường cũ. Như AK 7,62mm (thường gọi không đúng lắm là AK=47), FN FAL, FN FNC Bỉ bán cho rất nhiều nước, G3 Đức và bán cho một số nước.
Cải tiến lớn nhất của đợt này là giảm động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay.
M14 Mỹ thật ra là M1 Garand liên thanh cũng thi đua trong đợt này nhưng không thể xung phong vì nó giật như AVS-36 hay AVT (bản liên thanh của SVT). M16A1 cũng thuộc nhóm quái thai a dua đợt này mặc dù đạn nhỏ, vì nó quá lởm đạn yếu.
Đợt 5, súng trường xung phong lần 2
Thu nhỏ đầu đạn xuống AK-74. NATO chấp nhận sử dụng bản nòng-đạn FN SS109 (FN= Fabrique Nationale Bỉ), Mỹ áp dụng nòng đạn này lên M16 thành M16A2.
==================
Súng trường và súng ngắn cổ truyền trước cách mạng súng ống hiện đại
Súng trường cổ. Trước khi có súng hiện đại, thì súng cổ là súng nạp miệng, đã chuyển sang hạt nổ , thôi không dùng đã lửa, ví như anh Phú Lãng Sa "
Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1842 T". Những súng cổ này xuất hiện ở châu Âu từ trước chiến tranh Bắc Âu 1700 ở Ottoman và Thụy Điển, trong chiến tranh này Piotr làm ở Nga, sau đó truyền đến Pháp 1717 và Anh 1747. Ban đầu chúng là đá lửa, sau đó chuyển sang hạt nổ đầu tk19. Cỡ nòng của chúng khoảng trên dưới 17mm, đầu đạn khoảng 30 gram , như Thiên Tự "trọng bát tiền diên tử" 17mm đạn nặng 8 đồng cân. Cỡ đó là cỡ hòn chì hình cầu khoảng 17mm.
Chúng ta vinh dự có Hồ Nguyên Trừng đã chỉ huy format khẩu súng trường đầu tiên trên thế giới, tuy rằng lúc đó nó còn yếu do chưa có kỹ thuật khoan nòng dài. Thiên Tự là tên Trung Quốc đặt cho súng này khi Hồ Nguyên Trừng bị bắt sang đó cùng 17 ngàn kỹ thuật viên của ông, bắn đầu sản xuất khoảng 1409.
Có thể nô tả súng cổ đó như sau, nạp miệng thuốc rời, cả lê dài hơn 2 mét, nặng 4-5kg, nòng trơn, súng dài để làm cán lê giáp lá cà. Sơ tốc 250-300 m/s vừa đủ sức chịu giật của người. Cũng có một số nỗ lực làm xoắn nòng trơn, như siêu súng siêu đạn Miniê Pháp, bán sang Mỹ đăng ký phát minh năm 1959, nhưng siêu súng Minie cũng không khác gì siêu xe tăng, siêu máy bay nhà Mỹ ngày nay, toàn nổ tung trời.
Một số nước tiên tiến trong nhóm súng cổ sẽ dùng cỡ đường kính nòng bé hơn một chút, còn những nước ngớ ngẩn như Anh Pháp thì chỉ thích to. Nga-Phổ dùng khoảng 15-17mm, Anh-Pháp 17-19mm. Cỡ nòng to làm súng hơi nặng khi đấu lê, ngày đó không thể nạp đạn được khi giáp lá cà.
Tầm bắn hiệu quả của súng cổ rất kém, có thể sát thương được ngoài 300 mét nhưng bắn chính xác bia to hình người đứng chỉ đạn dưới 50 mét.
Súng trường cổ dùng bộ máy cò flint-lock, thường được gọi ở ta và Tầu là súng điểu đầu, đầu chim, do các nước Đông Nam Âu và Pháp-Tây-Bồ-Ottoman thường quan hệ với phương đông manhg theo kiểu "đầu thiên nga" của họ. Còn Anh Thụy Điển... dùng "đầu chó". Đó là hình dáng cái búa. Búa súng chạy bằng lò xo lá ngắn, búa nặng gây rung theo chiều xoắn và ngang trục nòng, làm lệch trục rất nhiều trước khi điểm hỏa. Tuy nhiên, với độ chính xác của súng nòng trơn thì điều này không quan trọng.
Vật liệu làm súng cổ
Súng trường cổ chủ yếu được làm từ thép rèn. Đây là loại thép cổ không nóng chảy, có một số phương pháp sản xuất chúng, nhưng đều cho chất lượng không ổn định và thành phần không đồng đều trong mỗi khối thép. Một phương pháp được dùng để rèn kiếm Nhật, xuất phát từ phương pháp rèn thép Đa-mát (Damacus), là người ta làm gang xám dễ nấu chảy trong lò cao, nung đỏ khối gang xám, đập dẹt, gập lại.... nung đỏ đập dẹt gập lại... . Lớp gang xám gần ngoài khối gang nóng đỏ bị thấm oxy không khí cháy bớt carbon, dần dần cả khối gang dẻo dần thành thép. Vì kỹ thuật làm thép tốt nên Nhật Bản nhanh chóng thực hiện được súng hỏa mai tốt, khẩu súng mồi thừng có nòng dài 1 mét đường kính lỗ 10mm từ 1530. Tuy nhiên họ không kiếm được đủ trình độ làm lò xo để bỏ cái thừng mồi lửa như người Mèo ta.
Bên châu Âu, thép rèn sản lượng cao được làm từ các
lò thấm carbone theo phương pháp xi măng, sắt xốp được làm từ các lò không nóng chảy như nung vôi, được rèn thanh thanh, lèn vữa trong các hộc lò, vữa chứa carbone như than củi hay bồ hóng, và có thể có chất thấm phốt pho chống gỉ như bột xương, tuy phốt pho làm thép ròn. Lò thấm carbone là lò lửa quặt như lò mác tanh nhưng nhiệt độ thấp 600-800 độ C rất dễ thực hiện, lò xây bằng đá sa thạch, có nguồn gốc Ấn Độ.
Thép rèn xấu đó chỉ làm nòng không cho ra bộ máy cò tốt. Ví dụ Anh Quốc đến đầu tk19 mới tự chủ được bộ máy cò. Trước đó họ nhập nguyên bộ từ Thụy Điển nên thừa kế kiểu dáng "đầu chó", Pháp nhập từ Ottoman sau đó là Áo thừa kế dáng "thiên nga" điểu đầu. Thụy Điển và các nước tiên tiến nấu chảy được thép mà không biến chất, cho ra "thép trắng" đồng đều, dẻo, đàn hồi, dai.... để làm bộ máy cò.
Súng ngắn cổ cũng dùng nhiều, có một bản đặc biệt là "hộp hạt tiêu" pepper box, tiền thân của các
revolver. Súng "
hộp hạt tiêu" có nhiều nòng nạp sẵn, mỗi phát bắn một nòng, thuận lợi khi giáp lá cà-xung phong, chính là tiền thân của "súng ngắn liên thanh" MP/PP. Loại súng này phát triển thành các revolver, đầu tiên là hạt nổ sườn Lefaucheux , sau đó có các revolver hạt nổ tâm như ngày nay. Các "hộp hạt tiêu",
revolver , Lefaucheux .... là những súng có thể bắn được nhiều phát không cần nạp lại, nhưng không thể là súng tự động vì nó không tự động nạp đạn. Các súng này khi bắn hết đạn thì nạp vào rất lâu, đồng thời chúng có nhiều buồng đốt nên mỗi buồng đều mỏng yếu, không thể có đạn khỏe. Revolver , Lefaucheux.... và các súng ngắn nạp miệng cổ truyền cũng dễ dàng làm rãnh xoắn vì nòng nó ngắn, gia công và nạp đạn đều dễ.
=======================
Cách mạng súng và cách mạng thép.
Cuộc cách mạng súng ống ra đời cùng với việc thép chất lượng cao ngày càng nhiều, đặc biệt sau Siemens chế ra lò mác tanh ngày nay 185x, cho phép có nhiều công cụ gia công kim loại tốt. Đây cũng là điểm khởi đầu của thời hiện đại.
Lò Siemens cũng là loại lò lửa quặt nhưng lớn và dùng máy thổi, than cốc (than luyện), cho nhiệt độ cao. Lò Mác Tanh Martin là gọi theo tên phiên bản cải tiến năm 187x chủ yếu là các lò vớt nhiệt. Các lò này tiết kiệm nhiên liệu, rất nóng, có thể ủ lâu ở nhiệt độ cao mà không tốn nhiều để carbone cầu hóa, đồng thời thử đi thử lại cho thành phần thép thật đúng chuẩn.
Cuộc cách mạng súng ống đầu tiên "đợt một giữ thế kỷ 19" là nỗ lực chuyển sang nạp sau, nhờ đó thuận lợi cho dùng rãnh xoắn cho súng trường. Đạn xoáy cho phép trục đạn ổn định khi bay nên làm được đạn dài thay cho đạn cầu, vì vậy, các súng đợt này giảm đường kính từ 17mm xuống 11mm. Ở tỷ lệ giảm đường kính này, diện tích tiết diện đạn giảm gấp đôi tương ứng với kép dài đạn gấp đôi. Khối lượng đầu đạn vẫn như đạn nòng trơn cổ truyền, động lượng đầu đạn vẫn như cũ vì tuân theo lực giật điển hình .
Đặc điểm của đợt này là vẫn dùng thuốc nổ đen truyền thống. Đạn vẫn là đạn chì đúc.
Những súng tốt hơn sẽ có đầu đạn nhẹ hơn một chút đổi lấy sơ tốc, cho phép chính xác hơn chút. Khối lượng đầu đạn 25-30 gram, sơ tốc 300-375 m/s. Lúc này súng đã chính xác hơn, nhưng tầm bắn hiệu quả vẫn chưa khai thác được điểm 250 (300 tùy cách đánh giá rộng), để khai thác tối đa năng lực ngắm bắn của đa số binh nhất. Tầm bắn hiệu quả của súng thời này đạt 150 mét trong những bản đầu tiên và nâng dần lên. Đến cuối đợt này, khoảng cuối 187x đầu 188x thì những súng Áo 8mm đã đạt tầm bắn hiệu quả 250 (300).
Berdan 1870, Mauser IG71 và Gras 1874 đều là súng khóa nòng quay, cái đế tay cầm là tai khóa nòng dụy nhất. Thao tác kiểu bolt action / kéo khóa bằng tay , động tác kéo khóa vừa nhả vỏ (lên đạn nếu có băng) và lên búa cò.
Kết quả của đợt này là các súng dùng vỏ đồng có vai, hạt nổ tâm như ngày nay, nhưng có gờ móc như đạn Mosin (đạn PK) (
hình ảnh đạn Mauser IG71). Gờ móc cản trở chuyển động của đạn trong băng hộp lò xo đẩy ngang như ngày nay. Gờ móc vừa để móc vỏ đạn ( extractor ) của khóa nòng làm việc, vừa để vỏ đạn không tụt sâu vào trong ổ đạn trong điều kiện gia công kém chính xác. Ký hiệu đạn gờ móc là R, như Mosin 7,62x54R.
Vỏ đạn làm bằng đồng thau có thành phần chính là đồng Cu, và phụ gia chính là kẽm Zn. Đồng thau dễ dập tạo hình và đàn hồi, dai (lâu bở khi va đập trong sức bền gọi là dai). Đuôi vỏ đạn là phần đặc để tránh sai số quá rộng giữa bịt đáy nòng và đuôi nòng. Khi đạn nổ, vỏ đồng thau nở ra thành van một chiều bịt kín, ngăn khí thuốc lọt về sau.
Hạt nổ đặt trong một lỗ khoan nông ở tâm đáy vỏ đạn dầy, có ống dẫn lửa vào khoang trong. Nga và Áo-Hung dùng ống dẫn hai bên thường được gọi sai là kiểu Berdan (
xuất hiện rất lâu trước súng Berdan như Krnka 1857/67) , kiểu này đen đặt hạt nổ lồi tâm lên thành một kim hỏa phụ nên rất nhậy, vì gia công đắt nên Đức không theo vẫn dùng lỗ tâm.
Hồi đó dùng vỏ đạn dùng nhiều lần, xạ thủ có thể tự đúc đầu, chỉ mua thuốc và hạt nổ. Đầu đạn được đúc bằng các "khuôn tiêu chuẩn",
nhiều khi đơn giản trông như cái kìm, gập vào để làm khuôn đúc, mở ra lấy đầu. Đầu đạn làm bằng chì pha 1-2% nikel.
Người ta lấy giấy dầu lót chặt đầu đạn.
Xoắn đều chuyển sang xoắn chữ nhật thay cho
xoắn tam giác (rãnh xoắn hình tam giác dễ gia công nhưng chóng hỏng) và
xoắn đa giác (không cõ rãnh xoắn mà nòng hình đa giác xoắn dễ gia công và nạp miệng).
Ngoài các bản súng mới trung gian như
Chassepot 1866 Pháp, Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, thì đợt này người ta hoán cải rất nhiều súng nạp miệng cổ sang nạp sau bằng khóa nòng lật trap door như
Wanzl Infanterie Gewehr M1954/67 und M1862/67 (các model 1854/1862 hoán cải năm 1867). Một số súng dùng đạn mới cũng dùng trap door như các súng Mỹ đến 189x hay Áo-Hung bán lừa đảo các chư hầu loại súng
Werndl Model 1867 Infantry . Trap door thao tác phức tạp, dễ kẹt vỏ đạn và đạn chưa bắn trong ổ vì không có móc vỏ đạn.
Hầu hết các súng của các nước lớn và tiên tiến Nga-Đức đều dùng 1 viên như Mauser IG71 nguyên thủy, Berdan 1870, Gras 1874. Anh Mỹ lúc này súng ống thậm tệ không đáng bàn, Anh vẫn dùng xoắn đa giác, Anh-Mỹ thì vẫn dùng cửa lập trap door.
Một số súng đợt này có băng đạn ống dọc như
Fruwirth M1872 Áo-Hung. Băng này ngày nay chỉ dùng cho súng bắn đạn ria vì đạn ngày nay cứng nhọn đâm chọc nhau gây nổ trong băng.
Lebel M1886 cũng băng ống gỗ dọc. Mauser IG71/1880 cũng băng ống gỗ dọc. Một số súng có ""Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng" như
Vetterli 1869 và
Mannlicher 1885 , tiền thân của súng tự động.
Băng ống gỗ dọc cũng như súng ngắn revolver đều không thay nhanh lắp nhanh được, nên khi hết đạn trong băng mà đang chiến đấu thì thà lắp từng viên coi như không có băng, còn hơn là nhồi từng viên đến khi đầy băng. Vì thế ít nước dùng băng ống gỗ dọc kể cả những nước quân sự mạnh như Nga-Đức, mà Áo cũng chỉ dùng cho một vài mục đích, như hiến binh đuổi trộm cần bắn thật nhanh, hay thủy quân lục chiến xung phong.
Súng trung gian của đợt 1. Súng hiện đại đầu tiên, M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr của Phổ.
Các súng M1841 Phổ và mle 1866 Pháp đều dùng vỏ giấy, chúng là những sản phẩm trung gian. M1841 Phổ vẫn dùng cỡ đường kính nòng gần như cũ 15,4mm, nên đạn không nhỏ dài được bao nhiêu, vẫn gần như hình cầu,
ban đầu là hình cầu, rồi dài ra chút hình trứng. Sau người ta làm đai đạn bao quanh trụ để có những ránh bớt khối lượng, đầu đạn dài ra chút.
Tiếp sau nữa thì lõm đuôi được dùng để đạn dễ nở và dài ra mà không cần thay tiêu chuẩn nòng súng toàn quân rất rắc rối trong thời súng sản xuất rất chậm. Đường kính đạn lớn đương nhiên bị cản nhiều trong không khí. Súng có khóa nòng quay một tai như kể trên, tiến thành Berdan M1870-Mauser IG71-Gras mle 1874, và sau này phát triển thành khóa nòng quay 2 tai như Mauser-Mosin. Vỏ giấy thoát khí rất nhiều nên các súng này yếu, và hay kẹt máy súng do bột giấy không cháy hết khi lọt vào khe khóa nòng.
M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr có xoắn tăng độ chính xác và cái búa điểu đầu gây phiền. M1841 sử dụng lò xo xoắn ruột gà đẩy búa theo chiều dọc, cái lò xo ruột gà ngày đó hiếm có khó tìm và được gọi là mỳ. Như trên, cơ cấu này là cơ cấu chung của súng trường cho đến Mauser-Mosin. Các súng hoán cải và các súng chế tạo mới nhưng lạc hậu rẻ tiền dùng cửa lật trap door và búa điểu đầu không hưởng được việc tránh rung xoắn và đứng của ruột gà "mỳ". Mặt khác, một động tác kéo về đẩy lên của M1941 Dreyse vừa mở cửa, lên cò, còn cửa lật trap door thì lên búa thay đạn rời nhau làm lần lượt.
M1871 - M1889 British Martini-Henry có một cơ cấu
mở cửa lật để lên cả búa lẫn lật cửa, nhưng các súng cửa lật trap door lại không thằng nào có móc vỏ đạn , và không tiến lên có băng được. Martini-Henry là xoắn đa giác sao rất ngớ ngẩn sản xuất đến năm 1906 (
ảnh đã sao lưu,
ảnh to gốc,
kích thước xoắn).
M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr đi trước quá nhiều thời gian trong thời này. Nó là một vinh quang của Phổ. Lúc đó, Đức chưa thống nhất được đến như ngày nay, vẫn còn nhiều nước Đức lớn chưa chịu nhập, (không kể các nước còn lại đến ngày nay như Đan Mạch Hà Lan....). Các nước Đức khác đều có súng riêng, vào thời điểm chiến tranh Pháp-Phổ 1870 thì các súng các nước nói trên đã có nhiều vỏ đồng 11mm ngon lành hơn Phổ về đạn, như Bavaria ban đầu dùng nạp miệng 13,9mm, hoán cải thành súng tuy hoán cải những vẫn cỡ nòng bẽ hơn Phổ Podewils M1858/67. Sau đó là
M1869 Werder 11,5x50 R, Tuy nhiên, bản này lại dùng búa điểu đầu và khóa nòng lật như hoán cải.
Chưa hết sung sướng nếu đọc những nước Đức theo Tây khác, cũng dễ hiểu việc chúng bị Phổ làm thịt sạch. Mới nhìn cấu tạo súng đã thấy ngân sách các anh đầy giun sán giòi bọ. Mặc dủ các anh có thể sản xuất súng tốt như Mauser, nhưng cách anh không biết thế nào là súng tốt vì chóp bu các anh thối nát.
Baden Jägerbüchse M1863 và Bavaria Gewehr M1867 đều có vỏ giấy như Prussia Dreyse IG M1841, nhưng vẫn dùng búa điều đầu, và đặc sắc nữa là hạt nổ rời như súng đá lửa Tây Phú Lãng Sa mle 1842 nói trên, búa không hề hiệu chỉnh để bớt rung đứng mà vẫn bổ chửng từ trên xuống. Đương nhiên hoán cải này rất dễ thực hiện nhưng nó không có kết quả của nạp sau là bắn chính xác.
Sau chiến tranh Pháp-Phổ thì có Mauser IG71 chung cho toàn nước Đức vì Tây Phú bị cưỡng bức rồi, mấy anh theo tây bị Phổ xích tuốt trừ mấy anh Bắc Đức như Đan Mạch dẻo mỏ còn đến ngày nay.
M1841 Phổ đặt hạt nổ ở tâm đuôi viên đạn, khi bắn kim hỏa phải xuyên qua thuốc, nên so với ngày nay có nhiều phát xịt.
Chassepot mle 1866 thì đặt hạt nổ như vị trí ngày nay, nhưng đế đe của hạt nổ là vỏ giấy, kết quả thử nghiệm được làm giả để nhận thầu ồ ạt trước chiến tranh, Pháp bị Phổ bắn thua. Sau chiến tranh Pháp
khoan rộng buồng đốt Chassepot mle 1866 để chèn sửa thành
Gras mle 1874.
Chassepot mle 1866 có cỡ nòng điển hình của đợt này 11mm, hiện đại hơn M1841.
Dễ thấy, Pháp thay súng trước chiến tranh dễn đến nhiều điều. Phổ vì thế vẫn dùng súng khá lạc hậu mặc dù trước đó 30 năm nó số một thế giới, mà không thay súng. Sau chiến tranh thì Phổ lấy vàng của Pháp mua Mauser IG71, Pháp thì hoán cải như trên, đến lúc người Pháp trắng mắt ra thì đã muộn, họ thay súng trước chiến tranh với một đống các quân xưởng bâu đầy các nhà thầu giun sán giòi bọ, họ ỉm đi kết quả thử nghiệm để có thầu, và ngớ ngẩn là bại trận rồi, mất vàng đền chiến phí rồi, mới làm vỏ đồng.