Tên gọi phân loại
AK là súng trường xung phong, assault rifle, không phải tiểu liên sub machine gun SMG. Trong tiếng Nga, tên chính thức ban đầu của AK là cạc bin ( карабин ) liên thanh, cạc bin là súng trường ngắn gọn. Từ AK (Автомат Калашникова) được đặt khi biên chế, avtomat ( автомат) nghĩa là tự động, chung với các súng ngắn liên thanh (SMG) khác như PPSh. Nhưng nhanh chóng sau đó người ta đã dùng lai từ súng trường, chia súng ngăn liên thanh ra thành nhóm khác. Bên Liên Xô, súng ngắn liên thanh là PP пистолет-пулемёт Шпагина). Súng trường xung phong là штурмовые винтовки, thường dùng tên riêng (AK, ka-las...) hay từ súng trường винтовкa.
Trong tiếng Nga, avtomat chỉ súng liên thanh cầm tay, bao gồm cả súng ngắn liên thanh và súng trường liên thanh. Từ này là một từ lịch sử từ Fedorov Avtomat, thường để chỉ các súng liên thanh cầm tay. Tuy nhiên, khoa học quân sự phát triển, avtomat chia ra súng ngắn liên thanh và súng trường liên thanh. Như trên. Hiện nay ngôn ngữ thường AK là súng trường vì nó là súng trường phổ thông, các súng Mosin cũng là súng trường vì nó đã từng là súng trường phổ thông. Còn bọn SVT, SVD, Mosin M44 (K44), Mosin bắn tỉa M30 (Trường Hung).... thì gọi là bắn tỉa, mặc dù cũng là hạng như Mosin, nhưng ở thời của chúng thì chúng không là súng trường phổ thông.
Ra đời
AK được thiết kế tập thể, thắng là vươn lên lãnh đạo thiết kế là Mikhail Timofeyevich Kalashnikov , Михаи́л Тимофе́евич Кала́шников (dòng này copy để lấy dấu trọng âm nhưng nó đánh sai), sinh ngày 10-10-1919. AK được chấp nhận trong biên chế năm 1949. Nhưng đến khoảng năm 1959-1960 AK mới trở thành súng trường chủ lực của quân Liên Xô. Cùng đợt 1959 có các thành phần khác của bộ binh Liên Xô: B41 RPG-7, BMP-1 (xe chiến đấu bộ binh), RPK (trung liên, súng máy cá nhân, cùng tác giả AK) và PK ( đại liên, súng máy toàn năng, cùng tác giả AK). Trong giai đoạn 1949-1959 thì các súng trường cá nhân đa phần vẫn là SKS (Việt nam hay gọi là xê ca xê Sudaev) và trung liên RPD (Degtiarev).
Năm 1949, Kalashnikov thắng thầu đợt thi đua phát triển súng lớn nhất thế giới đến nay dưới sự lãnh đạo của Viện Sỹ Hàn Lâm Fyodorov, bắt đầu từ năm 1943. Kalashnikov nhận thầu tổ chức sản xuất , tiếp quản nhà máy Izhevsk Machinebuilding Plant, Izhmash, tổ chức sản xuất và phát triển súng tại đó.
Phổ biến
AK nhanh chóng trở thành súng trường tiêu chuẩn của khối xhcn cũ. Bao gồm Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba , một số nước Mỹ la Tinh, phần lớn châu Phi. Hầu hết các nước này đều có li xăng, tự sản xuất và phát triển các phiên bản riêng.
Các bản AK nhái thuộc hàng rất giống là súng trường tiêu chuẩn của Ấn Độ (INSAS), Israel (Galil), và các bản súng sau này của Trung Quốc như QBZ-95 và QBZ-03, Phần Lan (nhái có li xăng sau làm mẫu cho Galil) và rất nhiều hãng súng nhái Mỹ cũng như các nước khác.
Các bản nhái hơi khác đôi chút là FN FNC Bỉ, bán thành PINDAD Indonexia và một số nước khác.
Con số 80 triệu khẩu đã được sản xuất là con số ước lượng các súng có li xăng, còn sự thật thì quân đội các nước trên, chỉ cần cộng Tầu-Ấn, đã hơn 80 triệu khẩu trong suốt hơn nửa thế kỷ.
Ngoài các súng xhcn, Trung Quốc 198x đổ về.... xem một vài bản nhái AK để biết độ phổ biến và ước lượng có bao nhiêu súng. Sợ rằng AK nhái đông hơn AK li xăng.
Đó không phải là hết vinh quang súng Nga. FN FAL là anh em của FN FNC, là bản sao gần như giống hệt SVT. FN FAL là súng bán chạy nhất ngoài khối xhcn hồi AK-47. Kể cả các nước đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Úc, Canada, Anh... cũng dùng. Ngoài ra thì gần hết thế giới còn lại như châu ÂU (AK-4 Thụy Điển là FN FAL chẳng hạn), Brazil, Ai Cập khi chưa dùng AK...
INSAS assault rifle (India)
Súng bắn đạn 5,56x45 mm NATO. Máy và dáng giống hệt AK nhưng trích khí lúc này AK chưa làm cho đạn NATO, dùng trích khí FN FNC.
QBZ-03 assault rifle (China)
Súng dùng đạn tầu 5,8 x 42 mm. Cải tiến lớn của súng là dùng khóa nòng FN FNC. Về đại thể, khóa nòng này cũng như AK nhưng chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi, thích hợp với gia công bằng máy đa dụng điều khiển số CNC. AK gia công khóa-bệ bằng máy chuyên dụng.
FN FNC assault rifle (Belgium)
Về đại thể, khóa nòng này cũng như AK nhưng chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi, thích hợp với gia công bằng máy đa dụng điều khiển số CNC. AK gia công khóa-bệ bằng máy chuyên dụng.
Một thay đổi khác là trích khí. Trích khí AK là trích khí xiên ngược rất khó đổi đạn, nên rất ít súng copy AK nhái lại trích khí này trước khi AK có bản đạn tương tự. Trích khí FN FNC giống FN FAL, là trích khí cải tiến từ SVT, nhưng dễ lau tháo hơn và có hiệu chỉnh lỗ trích. QBZ-03 dùng trích khí xiên ngược của AK tuy khó nòng giống FN FNC. INSAS Ấn Độ rất giống AK, kể cả khóa nòng, nhưng dùng trích khi FN FNC
Bofors AK-5 assault rifle (Sweden)
FN FNC
Pindad SS2 assault rifle (Indonesia)
Súng SS1 là FN FNC bắn đạn NATO 5,56x45. SS2 ra đời khi AK đã có bản đạn này, nên SS2 có trích khí xiên ngược.
Valmet Rk. 62 / 76 / 95 (Finnland)
Phần Lan copy cả súng lẫn đạn của đất mẹ, có một phần li xăng. Đạn cỡ vỏ như AK nhưng Phần Lan sản xuất. Trích khí cũng xiên ngược
Valmet M82 rifle (Finland)
Đời sau của Phần Lan, dùng đạn NATO 5,56x45, dang súng khác nhưng máy móc trích khí y đúc AK.
IMI Galil assault rifle (Israel)
Súng copy AK qua Phần Lan
Galil ACE assault rifles (Israel)
Sức mạnh
đạn AK rất chính xác. M16 Mỹ thật ra không đủ tiêu chuẩn súng trường, tiêu chuẩn thử nòng AK điểm phải bỏ đúng bằng điểm nòng mới của M16.
khả năng xuyên sâu của AK-47 gấp hơn 2 lần M16, AK-74 thấp hơn chút nhưng cũng gấp đôi M16.
Thể tích phá thịt (sát thương) của AK gấp nhiều lần M16 ở khoảng cách thông thường trên 100 mét. ở khỏang gần hơn với mục tiêu nhỏ vừa phải thì AK thường xuyên qua lỗ nhỏ, M16 yếu hơn ngoáy phá thịt rộng.
các loại AK
AK không chỉ do Kalashnikov thiết kế, sau nhiều đợt đánh giá, AK mang nhiều chi tiết và phong cách cả các súng anh em mà nhiều nhất là Bulkin. Ban đầu AK bắn đạn M43 7,62x41mm , sau đó cải lại M43 7,62x39mm năm 1948-1949. Mỗi viên đạn M43 7,62x39mm nặng 16 gram. (đạn Mosin nặng 22 gram, đạn NATO 7,62x51mm nặng 25 gram). Các cỡ súng AK bắn đạn 7,62mm thường được gọi không chính xác là AK-47.
AK-1949 nặng 4,3 kg, đạn M43 7,62mm x 39 mm
Năm 1959 AKM được chấp nhận. Cải tiến quan trọng của AKM về tính năng chiến đấu là lẫy điều hòa tốc độ bắn, cho phép lò xo búa súng bền hơn vì chấp nhận lò xo rất cứng hay đã quá nhão so với trước. Cải tiến lớn nhất về kỹ thuật là thay vỏ máy súng receiver từ cắt gọt sang dập nóng, từ nòng vặn truyền thống sang nòng chèn chốt. Từ đây AK mới thật sự là khẩu súng dễ chế tạo, rất rẻ tiền, nhưng ổn đinh tin cậy và rất mạnh.
AKM 1959 nặng 3,14kg, đạn M43 7,62mm
AKMS là báng gập thép thường thấy ở ta
AKMN là AK có khe gắn ống ngắm nhìn đêm
Năm 1974 AK chuyển sang đạn 5,45mm, chiều dài vỏ đạn và nòng giữ nguyên. Đặc trưng của loại đạn này là có đầu đạn cấu tạo phức tạp như đạn pháo, đạn đắt, nhưng súng và đạn đều nhẹ. Mỗi viên nặng 11 gram (mỗi viên đạn 5,56mm NATO nặng 13-14 gram). Từ đây gọi là AK-74.
Các phiên bản AK nguyên thủy, AKM, AK-74.... đều có rất nhiều chi bản, nhiều linh kiện thay thế khác nhau
AK-74 nguyên thủy 3,07 kg
AKS-74 báng gập 2,97 kg (báng gập khung nhựa gập ngang)
AKM-74 báng nhựa đặc 3,4 kg
AK có các loại lê 3 cạnh cứng lắp cố định, lê dẹt (lá lúa) và lê nhiều tác dụng. Lê nhiều tác dụng là dao găm, lắp vào vỏ dao có cái kìm cắt dây, có thêm các tác dụng cưa, chặt.... lưỡi làm bằng hợp kim đặc biệt bổ củi xong cạo râu được.
Cá biến thể khác trong dòng AK-100. AK-100 là những biến thể mà hãng sản xuất tự phát triển để sống trong thời gian từ sau 1991, không được đánh giá bằng các đợt đánh giá quốc gia.
AK-101: bản sau 1991 cỡ đạn NATO 5,56mm
AK-102: như AK-101 nhưng nòng ngắn
AK-103: bản sau 1991 cỡ đạn 7,62x39mm
AK-104: như AK-103 nhưng nòng ngắn
AK-105: như AK-104 nòng ngắn nhưng đạn 5,45x39
AK-107: là bản chiều dài đầy đủ, dùng hệ thống chuyển động cân bằng, tức là có đối trọng chuyển động ngược với bệ khóa nòng để giảm rung. Bắn đạn NATO 5,56x45
AK-108: như AK-107 nhưng bắn đạn Nga 5,45x39mm
AK-12 là mẫu thiết kế tiêu chuẩn nhưng chưa định hình, update các điều kiện kỹ thuật thế kỷ 21. Những thay đổi lớn là: các khe lắp tiêu chuẩn để lắp các thiết bị điện tử như máy tính đạn đạo, ống kính, nhìn đêm, laser, màn hình máy tính có liên lạc không dây để chiến đấu trong đội hình.... và vật liệu mới, gia công tự động. Súng được đánh giá quốc gia. Cũng chính vì đánh giá quốc gia nên súng và các thiết bị của nó vẫn chưa định hình.
Ngoài các phụ kiện khác, AK có khẩu cối cá nhân đeo theo, có các loại GP-25/GP-30.
Tổ tiên Vladimir Grigoryevich Fyodorov
Nếu như nói cha đẻ của AK là ka la x nhi cov Kalashnikov, thì phải nói tổ tiên gốc của AK là Fyodorov , Vladimir Grigoryevich Fyodorov . Владимир Григорьевич Фёдоров. Sinh 3 (15) tháng 5 năm 1874. Mất 19 tháng 9 năm 1966. Fyodorov là nhà khoa học chế súng Nga thời "hy sinh toàn diện" tức là thời triều đinh Nga Hoàng suy đồi cực điểm, các nhà khoa học phải lo cho nhau từng miếng cơm manh áo, không có trợ giúp của chính quyền-công nghiêp-tư bản, tự chế súng. Sau Chiến Tranh Nga-Nhật, phân tích các đặc điểm chiến đấu của Mosin, Fyodorov tiên đoán mẫu súng tương lai là súng trường xung phong. Fyodorov nhận một cần vụ là Vasily Alekseyevich Degtyaryov (sinh 2-1-1880, mất 16-1-1949). Degtyaryov là hậu duệ của 3 đời thợ súng Tula, đi làm thợ súng từ năm 11 tuổi, đến tuổi đi lính, được Fyodorov nhận làm cần vụ và huấn luyện thành Tiến Sỹ Kỹ Thuật.
Từ năm 1906-1909 Fyodorov trình bày với bạn bè là những nhà khoa học chế súng hàng đầu Nga lúc đó phương thức chiến đấu (concept) mới. Đó là một khẩu súng trường bắn được phát một lên đạn tự động và liên thanh, bắn liên thanh trên tay không cần chân giá. Tầm bắn hiệu quả của súng trường rút xuống 300 mét, đổi lấy sức giật và đạn nhỏ để bắn liên thanh được trên tay và mang được nhiều đạn. Súng có thể bắn ứng dụng ngắm nhanh, hay không ngắm, những mục tiêu xuất hiện đột ngột ở tầm gần trên đường xung phong, bắn khi giáp lá cà, tức là khả năng xung phong. Súng có tầm bắn 300 mét đảm bảo hầu hết các binh nhất có thể khai thác được tối đa khả năng ngắm bắn, đảm bảo chức năng súng trường.
Đây là phương thức chiến đấu concept chi tiết hiệu quả nhất ngày đó. Chúng ta có thể so sánh thế này. Lúc đó gia công tấm mỏng đã phát triển, đạn được làm hàng loạt rất rẻ cùng với băng đạn lò xo thay nhanh, nên ý định thiết kế súng liên thanh rất nhiều. Thompson người Mỹ là một nhà hậu cần nhìn thấy điều đó, nhưng không biết thiết kế phương thức chiến đấu và sau đó không biết thiết kế máy súng, cho ra Thompson SMG, là súng ngăn liên thanh nhưng nặng hơn trung liên RPK, vứt xó. Bên Âu chỉ chú tâm đến các đại liên như Maxim, bắn đạn súng trường như đạn Mosin, nhưng nặng hàng tạ. Hoặc bên Âu có những trung liên là súng máy cá nhân như Madsen Đan Mạch, Chauchat Pháp, MG13 Đức... cũng đều bắn đạn súng trường thường, tuy nhỏ hơn đại liên, nhưng cũng chỉ bắn được trên giá 2 chân. Trong WW1, Ý chế ra khẩu trung liên leo núi VP dùng trên Alps, có hai nòng súng ngắn bắn liên thanh, cuối chiến tranh họ chế ra OVP là phiên bản sỹ quan có 1 nòng, bổ đôi súng này ra tự nhiên phát hiện ra khả năng xung phong. Đức theo đó làm súng ngắn liên thanh Đức MP19 Maschinen Pistole. Các MP và PP có khả năng xung phong nhưng lại không có khả năng súng trường. Ngày nay súng trường xung phong là súng trường phổ thông trên toàn thế giới.
Năm 1909 Fyodorov bắt đầu thiết kế mẫu súng mới sau này mang tên Fedorov Avtomat, ông tiến hành từng bước để dễ có mẫu thử, thử nghiệm, và dễ được chấp nhận. Nikita là nhà khoa học giúp ông tính toán lý thuyết. Có nhiều khẩu súng đi theo hướng này, nhưng Fyodorov nổi trội nhờ Degtyaryov , ông có mẫu thử trình lên hội đồng trong khi các súng khác chỉ là bản vẽ suông. Các thử nghiệm kéo dài đến năm 1913, đồng thời có một số thay đổi sau
Ban đầu là súng phát một tự động, sau đó là súng hai chế độ phát một tự đông-liên thanh.
Ban đầu dùng đạn Mosin trong súng phát một tự động lên đạn. Sau đó Fyodorov tự chế đạn 6,5mm. Sau cùng Hội Đồng bắt dùng đạn 6,5mm Anh Quốc đang sản xuất cho Nhật Bản, Anh là đồng minh của Nga trong WW1.
Hài hước là, món hàng này do Anh bán chịu vũ khí hiện đại cho Nhật Bản đánh thắng Nga hồi 1905. Năm 1915 súng được chấp nhận, nhưng đến cuối chiến tranh chỉ có vài ngàn khẩu được sản xuất.
Điểm quan trọng nhất là đạn. Fyodorov cần phát triển một loại đạn mới. Việc sử dụng đạn Nhật Bản đã ngăn ông phát triển đạn, sau này đạn là mấu chốt của súng trường xung phong.
Súng dùng máy lùi như Mauser C96. Máy này cũng không phải là tốt, cả máy và đạn đều không cho phép Fedorov Avtomat là khẩu súng bền, tin cậy, gọn nhẹ. Nhưng sức chiến đấu của nó nổi trội lúc đó.
Lúc bấy giờ, bên Thụy Sỹ và Đức nhận thiết kế gia công Mondragon cho Mexico. Cũng có nỗ lực súng trường xung phong từ 189x, nhưng hồi đó quá thiếu kỹ thuật. Mondragon dừng ở các phiên bản phát một tự động bắn đạn Mauser 7mm và cạc bin liên thanh cho máy bay.
Khoảng năm 1915-1916, một phiên bản khác của Fedorov Avtomat nhưng dùng kiểu khóa nòng Degtyaryov như là mẫu thiết kế sơ cua của súng.
Fedorov Avtomat là khẩu súng trường xung phong đầu tiên trên thế giới.
Giữa hai thế chiến và chương trình M43 ra đời.
Sau WW1, ba đế quốc Đông Âu đứng đầu thế giới về súng ống tan vỡ, nên các chương trình tiên tiến bị đình lại. Áo-Hung thì tan tành luôn cả đế quốc, nhưng dư âm súng ống của nó còn dài đến AK.
Thầy trò Fyodorov và Degtyaryov ngay sau cách mạng mò đến Kovrov. Đây là một thị trấn nhỏ nằm trên đường sắt Maxcơva-Nizhny Novgorod, cách Maxcơva 240km về phía Tây, trên bờ sông Klyazma ( Клязьма). Hai ông xây dựng nhà máy súng máy chủ chốt của Hồng Quân. Năm 1918 Degtyaryov được bầu làm xếp trưởng nhà máy, còn Fyodorov là giám đốc kỹ thuật. Ngày nay nhà máy và các nhà máy con vẫn mang tên Degtyaryov , thành phố có cỡ 15 vạn người, hầu hết là nhân viên và gia đình, cũng như gia đình các cựu nhân viên của nhà máy, và các ông ty con. Kovrov trở thành một nhà máy-thành phố mới, như Tula trước đây, hay Tomsk-7 hạt nhân sau này, hay thủ phủ mới của Sukhoi Komsmolsk na Amure thời gần đây.... là các thành trì của khoa học-công nghiệp, cả nhà máy và thành phố chung một công ty làm ăn, một phiếu bầu chính trị. Những nhà máy-thành phố như thế là xương sống giúp Nga đững vững trong 199x và sự trỗi dậy của Putin sau đó. Izhevsk được chọn sau này vì WW2 Đức đã tiến đến cách Kovrov 200 km trong trận đánh Maxcơva. Sau WW2, nhà máy và các công ty con vẫn làm cả hàng quân sự lẫn dân sự, chế tạo máy cái cũng như gia công đạn tự hành chống tăng AT-14, máy kéo, mô tô, đồ điện tử.... cho đến pháo tăng và súng 30mm của máy bay, camera hồng ngoại chuyên dụng.... Cossack là nhãn hiệu xe máy khá nổi của nhà máy bán sang châu Âu.
Fedorov Avtomat vẫn tiếp tục được sản xuất, nhưng đạn hiếm dần, Hồng Quân nghèo đói nhất định không chịu tổ chức phát triển đạn. Fedorov Avtomat được dùng như súng máy xe tăng BT một lần, thấy còn được dùng trong Chiến Tranh Mùa Đông Phần Lan 1940. Có rất nhiều loại súng được gọi là Fedorov-Degtyaryov, từ súng cá nhân, súng máy bay, súng trên xe.... đến đủ loại. Tuy nhiên, phiên bản khóa nòng trích khí Degtyaryov được chấp nhận năm 1927, bắn đạn Mosin, trở thành DP, súng máy cá nhân Degtyaryov. DP không phải là súng trường mà là trung liên, nặng gần 10kg bắn trên giá 2 chân. Phải nói rằng, trừ cái băng dành cho đạn có gờ móc Mosin thì DP là trung liên tốt bậc nhất ngày đó, tốt hơn nhiều các loại lầm cẩm khác và chỉ có Nga và Đức đánh giá đúng con đường phát triển trung liên. Các trung liên khác ngày đó đều dùng khóa chèn nghiêng như SKS, gây rung ngang, không chụm loạt liên thanh. DP kém súng Đức là không bắn được ở tư thế khóa nòng đóng, nên chỉ bắn tốt ở loạt liên thanh, không kiêm chức súng bắn tỉa được.
Fyodorov trong thời giữa hai thế chiến đóng góp to lớn cho ngành vũ khí Liên Xô. Ngoài việc tham gia trực tiếp thiết kế súng, thiết kế máy móc và dây chuyền làm súng... ông tiếp tục cùng bạn bè phát triển khoa học lý thuyết, cũng như dạy ra các nhà chế súng tài ba, ngoài Vasily Degtyaryov có Georgi Shpagin (PPSh), Sergei Simonov (SKS xê ca xê). Ông không quên phổ cập toàn dân khoa học súng ống bằng cuốn sách viết rất ngắn gọn "lịch sử súng trường", ở Nga ngày nay trẻ con cũng biết phải làm đầu đạn nở trong nòng súng, điều mà Anh-Pháp-Mỹ đến nay vẫn chưa biết làm. Thế hệ tuổi ông cũng để lại nhiều học trò xuất sắc khác.
Một khẩu súng cũng thai nghén từ thời Nga Hoàng được hoàn thiện và chấp nhận như là một loại vũ khí chính, súng trường phát một lên đạn tự động SVT của Fedor Vasilievich Tokarev , Фёдор Васи́льевич То́карев. Sinh 2 tháng 6 1871 (14 lịch cũ) . Mất 6 tháng 3 1968. Súng bắn đạn Mosin, sử dụng trích khí rời (sau này là của AR-18), sau này FN FAL gần như giống SVT. G43 Đức ngay trong chiến tranh được chấp nhận với chìa khóa duy nhất khi cải tiến từ G41 không được chấp nhận, là trích khí SVT . Với súng phát một thì không vấn đề, Nga và Đức hầu như không chấp nhận chèn nghiêng trong liên thanh vì rung ngang, nhưng cũng có những súng đặc biệt như thế, là ZB-26(t) Đức, MP44 (Đức) và AS-44 (Liên Xô), chúng thế nào ta nói sau.
Tokarev cũng đóng góp nhiều cho ngành súng đạn Nga, cùng với Fyodorov ông thiết kế súng máy hai nòng dùng trên xe bắn đạn 6,5mm Fyodorov năm 1922, như là con đường VP-OVP, nhưng đạn không được chấp nhận sản xuất. Năm 1927 Tokarev thiết kế mẫu thử súng ngắn liên thanh, nặng 3,3kg; tốc độ 1200 (20 viên / giây), dùng đạn 7,62x38mm Nagant đang dùng cho súng ngắn Nga. Đạn này không được thiết kế cho liên thanh hay súng tự động vì có gờ móc, nó được thiết kế cho súng ngắn revolver đơn giản cổ lỗ, tức là loại súng ngắn ổ xoay có nhiều buồng đạn, không có chức năng nạp đạn tự động vào buồng. Đây không phải là khẩu súng ứng dụng thực tế, mà là một mẫu thử concept-nguyên lý chiến đấu. Tốc độ này bắn quá cao, cho phép chụm loạt liên thanh một số lượng đầu đạn lớn, khả năng tiêu diệt mục tiêu tốt. Sau này Suomi Phần lan WW2 và M16 Mỹ ngày nay giữ lại 900. Từ mẫu súng này, ông thiết kế đạn súng ngắn có thể dùng cho liên thanh và các súng nạp đạn tự động. Tokarev cải tiến đạn súng ngắn Mauer C96 thành 7,62×25mm Tokarev, áp dụng những tiến bộ về thuốc súng mới. Bản thân Mauser C96 cũng là súng có nòng cạc bin có báng (báng là cái hộp), nên từ mẫu cải tiến này thuận tiện cho súng ngắn liên thanh. Đạn này về sau tỏ ưu thế cho súng ngắn liên thanh Liên Xô vì nó khác hẳn những đạn đường kính nòng lớn chuyên dùng cho súng ngắn cầm một ay nòng rất ngắn, mà các nước Âu-Mỹ dùng cho súng ngắn liên thanh. Sau khi có đạn và áp dụng lên pistol K54 TT-33, Tokarev bận bịu với những súng quan trọng hơn và không tham gia vào các chương trình PP.
Con đường phát triển của súng ngắn liên thanh Liên Xô không đơn giản. Liên Xô không coi trọng súng ngắn liên thanh, điều này là đúng. Nhưng Liên Xô không phát triển súng trường xung phong thay thế, điều này dẫn đến sai lầm. Ban đầu Liên Xô chấp nhận bản súng ngắn liên thanh đơn giản PPD của Degtyaryov. Súng nặng 3,2kg rỗng, băng hộp lò xo thẳng, dùng đạn Tokarev nên tầm bắn hiệu quả khá hơn các súng Đức. Máy súng lùi thẳng tự do đơn giản, bắn từ khóa nòng mở. PPD-34 sau có một số cải tiến như dùng băng trống kiểu Suomi PPD-40.
Liên Xô ấn tượng về súng ngắn liên thanh tồi của mình trong Chiến Tranh Mùa Đông Phần Lan 1940. Súng ngắn liên thanh Phần Lan Suomi là súng rất tốt, nhưng không thích hợp với Liên Xô. Ví dụ, ống vỏ máy súng reciver của Suomi làm từ trụ hợp kim crôm khoan ra, rất cứng và không gỉ (inox cứng). Điều này tốn nguyên liệu quý hiếm và thời gian máy gia công, không cho phép một quân đội lớn như Liên Xô nhanh chóng có hàng triệu súng. Suomi có nhiều điểm cấu tạo đáng phải học. Một là cổ băng gài về sau là băng AK, hai là băng trống về sau cũng là của PPSh và RPK, ba là "điểm hỏa trên đường bay", tức là kim hỏa gắn liền với khối lùi. khi vai vỏ đạn chạm vai buồng đạn, đạn dừng lại, thì kim hỏa điểm hỏa trước khi khối lùi-bịt đáy nòng chạm nòng súng gây rung.
Liên Xô cấp tốc chế tạo PPSh. PPSh không có đệm khí chạy êm như súng Đức và Suomi, nhưng chắc chắn, tin cậy. Điểm vượt trội của PPSh là kết hợp rèn thủ công tiết kiệm thời gian máy gia công, nên sản xuất rất nhanh chóng. Điểm trội nữa là đường đạn của đạn Tokarev. Trong chiến tranh, PP Liên Xô có tầm bắn hiệu quả 200 mét, MP Đức trước khi dùng đạn quá áp 100 mét, cải dùng đạn quá áp giảm tuổi thọ nòng lên 150 mét. Các súng Mỹ Thompson SMG chỉ 30-50 mét.
Liên Xô có đường đạn tốt hơn là do các súng Đức-Anh-Mỹ dùng đạn đường kính lớn chuyên dùng cho nòng rất ngắn của súng ngắn cầm một tay như 9x19 mm Đức hay ".45 ACP" 11,43 × 23 mm. Đạn đường kính lớn có gia tốc trong nòng cao, thích hợp với nòng rất ngắn của súng ngắn cầm một tay, nhưng nhanh mất tốc độ trong không khí, không thích hợp với nòng dài của súng trên chiến trường cầm hai tay. Đức về sau phải cải tiến quá áp 9x19 mm Luger Parabellum và chỉ dẫn trên hộp đựng đạn "chỉ dùng cho MP", nhưng vẫn kém PP.
Trong chiến tranh, PPSh được sản xuất rất nhiều, cùng với các đời Mosin và SVT trở thành những súng chủ lực của chiến tranh. Tuy nhiên, PP xung phong được nhưng bắn gần, SVT bắn xa lại kém xung phong. Không một trận chiến nào không chứng topr phải cần cả hai thứ súng đó.
Vì thế, chương trình M43 sản xuất súng trường xung phong xuất hiện năm 1943. Việc ban đầu là lập hội đồng và đưa ra ước lượng cỡ vỏ đạn 7,62 mm x 41 mm. Cỡ vỏ ước lượng này tham chiếu nhiều kết quả thử nghiệm trước chiến tranh (thử vài viên đạn thì đâu cũng thử được), trong đó có đạn Đức. Đương nhiên, concept của Vladimir Grigoryevich Fyodorov là xương sống của chương trình, đó là:
rút tầm bắn hiệu quả từ Mosin 600 mét xuống còn 250 mét. Tầm bắn này là tầm ngắm tối đa của các binh nhất phổ thông (sau này cải tiến bia và các bài bắn là 300 mét, nhưng hai con số này như nhau, dưới tầm này thì thợ sửa AK thay nòng). Điều này sẽ làm giảm sức giật và khối lượng viên đạn thuận tiện cho bắn liên thanh.
Bắn được liên thanh trên tay
đó là hai tính, tính súng trường và tinh xung phong. Ngoài ra, còn có các yêu cầu khác như chiến đấu bằng lê.... và phát triển khả năng bền, tin cậy, dễ làm, ít hao nguyên liệu quý, sức sát thương, nhẹ.... vân vân.
Khẩu súng đầu tiên tham chiến là AS-44, Alexey Ivanovich Sudayev, Алексей Иванович Судаев, 23-8-1912 17-8-1946. Đích của chương trình là AK năm 1949.
Đại diện của Viện Hàn Lâm Liên bang trong chương trình là Vladimir Grigoryevich Fyodorov. Như thế, tổng công trình sư gần nửa thế kỷ thiết kế AK là Fyodorov, còn Kalashnikov chỉ là một thí sinh đỗ đầu, được Fyodorov chọn làm người tập hợp các thiết kế tốt nhất, và nhận thầu sản xuất phát triển súng.
Cả đạn Mosin, đạn súng ngắn Tokarev, đạn AK đều có đường kính 7,62mm. Như vậy chương trình thay súng không dẫn đến những xáo trộn lớn trong các nhà máy. Điều này cũng y như bên Đức. Là cỡ nòng 7,62mm nhưng thật ra đường kính rộng của nòng (tính từ các rãnh xoắn) là 7,92mm, đường kính hẹp của nòng (tính từ các gờ xoắn) là 7,62mm. Đạn gia công không chính xác lắm nhưng tiêu chuẩn 7,92mm.