View Single Post
  #49  
Cũ 28-12-2012, 14:08
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Trong trại tử thần Mỹ - 1945

Đôi khi, lính Mỹ đến bên hàng rào làm việc đổi chác, chúng đổi đồ hộp hay thuốc lá lấy đồng hồ và đồ trang sức - chỉ một vài người trong chúng tôi có những đồ vật như vậy – những lần như thế, các cuộc đối thoại diễn ra. Khi tù binh Đức hỏi tại sao lại thi hành sự ngược đãi tù binh Đức như vậy, câu trả lời luôn luôn là trại tập trung Nazi – đã không còn hoạt động vào lúc này. Những người chúng tôi cãi rằng tình trạng trong trại tập trung Nazi không thể so sánh được với trại tập trung Mỹ bởi vì một ngày ở Sinzig bằng 20 ngày trong trại Nazi. Trại tập trung Nazi có nhà ở, có giường nệm, phòng tắm, vệ sinh, lò sưởi, bệnh viện, thức ăn nóng,v.v và v.v Nếu chúng tôi muốn hành hạ người Do thái đến chết thì đã chẳng có bất kỳ những thứ này. Lính Mỹ khi đó nói với chúng tôi, bởi vì thế nên chúng xử lý chúng tôi như lũ bò hay súc vật. Cũng có rất nhiều cái chết là do sập cái lỗ trú ẩn, bệnh thương hàn, kiết lỵ, đói, vì tiến vào hàng rào, vì cố gắng bỏ trốn,v.v.

Công việc của chúng tôi trong ngày là xếp hàng chờ đợi mấy tiếng lấy nước uống buổi sáng, xếp hàng chờ đợi rất nhiều tiếng lấy khẩu phần ăn buổi chiều. Nhìn chung là chờ đợi cái chết. Những người chẳng hề thù ghét người Mỹ giờ đây đã thay đổi hoàn toàn thái độ của họ.

Sau 3 hay 4 tuần gì đó, chúng tôi được nhận bánh mì để ăn. Nhưng chỉ có 1 ổ bánh cho 40 người, một vài hôm sau chúng tôi mỗi người được 2 củ khoai tây sống. Bên ngoài trại, lính Mỹ đốt bỏ lương thực vì chúng không dùng đến.

Các nỗ lực để trốn thoát và tình trạng bị bắn khi đến gần hàng rào tăng cao hơn nữa khi chúng tôi đến đây, tình trạng tuyệt vọng là nguyên nhân của việc này. Khoảng giữa tháng 6/1945 lính Mỹ bắt đầu thả một số tù nhân. Những người sống trong vùng sông Rhine có thể được thả. Đến cuối tháng 6, chuồng số 17 chúng tôi và chuồng 16 đối diện là chuồng cuối cùng của cả trại, chuồng 19 thì đã trống hoàn toàn.

Chúng tôi đoán rằng người Mỹ phải thả tất cả mọi người sớm, không thì tất cả chúng tôi sẽ chết trong 1, 2 tháng tới, chẳng còn lựa chọn nào khác!

Những ngày đầu tiên tháng 7, sau khi bị giam giữ 80 ngày, tôi bị lên cơn sốt và ốm rất nặng. Tất cả những người khác trong chuồng giam cũng có triệu chứng tương tự và chết ngay sau đó. Cơn sốt của tôi lên đến 40 độ C. Tôi từ chối xuất ăn hàng ngày vì không thể ăn được thứ gì. Tôi biết cơ hội sống của tôi trong trại là con số 0 vì chẳng có trạm y tế. Tôi đã sống sót qua tất cả các trận đánh và các chiến dịch trong chiến tranh với 2 vết thương nhỏ, nhưng bây giờ số của tôi đã hết! Tôi quyết định chẳng thể chờ đợi cái chết chậm rãi đến trong một hai ngày tới, thay vào đó là cái chết nhanh chóng hơn bên hàng rào hay vượt qua nó. Cơ hội chỉ có 2/10. Tôi báo cho 2 đồng đội của tôi biết điều đó để họ có thể nhìn thấy xác tôi sáng mai nằm bên hàng rào hay tôi may mắn hơn. Tôi để lại địa chỉ cha mẹ tôi cho họ để họ có thể báo tin cho cha mẹ tôi trong trường hợp đầu tiên. Tôi đã sẵn sàng để trốn thoát hay đón nhận cái chết nhanh chóng tối nay. Sau 84 ngày trong tình cảnh này, cái chết có lẽ là một sự giải thoát.

Sau hoàng hôn, tôi đến gần hàng rào giáp chuồng số 19, tại chỗ này, hàng rào dây thép gai có vẻ trùng xuống hơn những chỗ khác. Dọc theo chiều dài của toàn bộ hàng rào có 4 chòi canh của lính Mỹ, mỗi cái cách nhau khoảng 70m. Bên cạnh 4 chòi canh là xe Jeep với đèn pha và súng máy chạy tới lui dọc chiều dài trại. Ở 2 đầu cuối của hàng rào là vọng gác cũng có súng máy. Lúc này, có vô số các viên đạn đang để dành cho tôi. Sau nửa đêm, khi những tên lính gác và xe Jeep đi đến phía khác của trại và không nhìn thấy, trong khoảnh khắc trước khi tên lính gác khác đi tới là lúc tôi hành động, hay đúng hơn là xé rách hàng rào đầu tiên, nhảy qua búi kẽm gai bùng nhùng và sau đó vượt qua hàng rào thứ 2 – tôi quên đi cơn sốt, máu chảy khắp người vì bị hàng rào xé rách. Bộ quần áo của tôi hầu như đã mắc lại trên hàng rào, nhưng lúc này tôi chẳng cảm thấy gì cả. Tất nhiên, tôi chờ đợi một viên đạn găm vào cơ thể, một tiếng súng vang lên.

Vượt qua hàng rào tôi trườn từng mét một, qua đường tuần tra của xe Jeep và vẫn chờ 1 phát súng. Bỗng nhiên tôi rơi vào 1 cái hố. Tôi đã vượt được chừng 20 đến 30m kể từ tuyến gác. Nhưng giờ tôi không thể di chuyển được và chỉ nằm trong cái hố ngọ nguậy. Tôi có thể nghe tiếng những tên lính gác và chiếc xe Jeep đi tới đi lui. Bộ quân phục chỉ còn là những miếng giẻ nhỏ, tay tôi, ngực, chân, lưng và cằm dính đầy máu. Có mấy tiếng súng nhưng là ở trại khác. Sau 1 giờ nằm nghỉ, tôi đã có thể bò lên miệng hố. Tôi bò đến cuối chuồng giam, vượt qua khoảng 300m. Việc đó tôi làm mất khoảng 2 tiếng để vượt qua những hàng rào khác và thoát khỏi trại tập trung.

Tôi phải vượt qua đường sắt và con đường chính để lên đến những ngọn đồi. Tôi trèo được khoảng 4 ngọn đồi và phải nghỉ lần nữa trong khoảng 4h cho đến khi trời sáng. Một phụ nữ tìm thấy tôi và cho biết có một nông trại biệt lập, ở đó các tù binh trốn trại có thể được giúp đỡ. Tôi cuối cùng cũng đến được trại và tìm được thày thuốc biết sử lý bệnh tật ở những người như tôi. Có 7 hay 8 đồng ngũ, những người như tôi ở đây, tất cả họ đều trốn thoát từ trại Sinzig hay Remagen. Chúng tôi được đặt vào chăn ấm trên bàn, lâu lắm rồi tôi được uống trà, rồi ăn cháo yến mạch, một vài ngày sau tôi ăn được bánh mỳ, uống sữa và 1 ít thịt. Sau khoảng 3 đến 4 tuần, tôi tạm biệt các ân nhân và ra đi với lòng biết ơn vô hạn.

Tôi biết rằng sau khi tôi trốn thoát vài ngày, lính Pháp đã tiếp quản các trại tù và chuyển tất cả tù nhân sang Pháp làm lao động khổ sai.

Sau sáu tuần tự do, tôi lại bị lính Pháp bắt trong 1 ngôi làng, chúng áp giải tôi sang Pháp đưa vào làm việc trong 1 mỏ than và những công việc bẩn thỉu nặng nhọc khác, số phận tôi lại bị thử thách 1 lần nữa. Năm 1948, tôi trốn thoát sang Tây Ban Nha, rồi lại bị bắt và bị đưa vào trại tập trung nổi tiếng "Nanclares del la Oca" rồi sau đó bị đưa trở lại Pháp.

Vào ngày January 7 tháng 1 năm 1950, tôi được phóng thích và trở về Đức. Ngay sau đó tôi di cư sang Canada và sống ở đó cho đến năm 1960.
Trả lời kèm theo trích dẫn