Khi tôi phỏng vấn các ông thị trưởng của các thị trấn nhỏ và làng mạc, họ nói lương thực đã bị "những người chiếm chỗ" lấy đi (người nước ngoài làm việc ở Đức), chúng chất lương thực lên xe tải và chở đi mất. Khi tôi báo cáo việc này, câu trả lời là 1 cái nhún vai. Tôi chưa bao giờ thấy bất kỳ nhân viên Hội chữ thập đỏ nào tại trại hay giúp đỡ cư dân địa phương, mặc dù cà phê và bánh ngọt của họ luôn sẵn có mọi nơi cho chúng tôi dùng. Lúc ấy, người Đức đã phải dựa vào sự phân phối từ các cửa hàng kín đáo cho đến vụ thu hoạch tiếp theo.
Cái đói đã bắt buộc phụ nữ Đức phải "kiếm thêm", nhưng bất chấp điều đó, hãm hiếp là thịnh hành và thường xuyên đi kèm với bạo lực. Tôi nhớ một cô gái 18 tuổi có một bên mặt hằn vết báng súng, bị 2 GI hãm hiếp. Thậm chí Pháp nói rằng hãm hiếp, cướp bóc và say rượu phá phách trong các bộ phận quân đội của họ là không thể chấp nhận được. Ở Le Havre, chúng tôi được cấp 1 cuốn sách nhỏ cảnh báo rằng binh lính Đức có kỷ luật cao trong việc đối xử với dân chúng Pháp và họ có thái độ ôn hoà, và do đó chúng tôi phải thực hiện điều tương tự. Về điều đó, thật khốn khổ, chúng tôi đã thất bại.
16 triệu binh lính Mỹ chiếm đóng trên đất châu Âu tiêu thụ 50000000 bao cao su mỗi tháng. Lo ngại tình trạng hãm hiếp ảnh hưởng xấu đến thanh danh, Bộ chỉ huy Mỹ gửi công văn nhắc nhở các chỉ huy trên đất châu Âu. Họ trả lời: Không thành vấn đề, các vụ việc thường được dàn xếp ổn thoả bằng ít bánh mỳ hay vài thanh kẹo Sô-cô-la. Thế nhưng ước lượng vẫn có 17080 vụ trong WWII. Đến mức tạp chí Time Magazine tháng 9/1945 phải viết rằng: "Quân đội của chúng ta cùng Anh quốc đã cùng nhau chia xẻ cướp bóc và hãm hiếp... chúng ta đáng được gọi là đội quân hãm hiếp."
"Vậy thì là gì?" Một số nói: "Hành động hung bạo của kẻ thù xấu xa hơn chúng ta." Điều đó đúng với cái mà tôi đã kinh qua khi kết thúc chiến tranh, khi chúng ta là người chiến thắng. Cơ hội của nước Đức hung bạo đã hết, vận mệnh do chúng ta nắm giữ. Nhưng 2 cái sai chẳng thể làm thành 1 cái đúng. Thay vì sao chép nguyên si tội ác của kẻ thù, chúng ta lẽ ra phải nhắm vào 1 mục tiêu làm tất cả để phá vỡ vòng xoáy thù hận và trả thù đã trở thành tai hoạ và làm méo mó lịch sử loài người. Đó là điều tôi muốn nói lúc này, 45 năm sau tội ác. Chúng ta không bao giờ có thể ngăn chặn tội ác chiến tranh cá nhân, nhưng chúng ta có thể, nếu đông đủ chúng ta cùng nói ra, gây ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ. Chúng ta có thể từ chối sự tuyên tuyên của chính phủ rằng kẻ thù của chúng ta không phải là con người và cổ vũ cho sự sỉ nhục mà tôi đã chứng kiến. Chúng ta có thể phản đối việc ném bom vào các mục tiêu dân sự, người ta vẫn ném cho đến tận ngày nay. Và chúng ta có thể mãi mãi khước từ tội ác giết người không vũ trang và tù binh đã bị đánh bại của chính phủ chúng ta.
Tôi hiểu rõ là những công dân bình thường có khó khăn để thừa nhận bằng chứng của tội ác qui mô lớn này, đặc biệt là khi mình cũng can dự vào. Thậm chí các GI đồng cảm với các nạn nhân lại sợ bị oán trách và sợ bị gặp rắc rối, họ nói với tôi vậy. Và sự đe doạ đã không hề dừng lại. Kể từ khi tôi nói ra điều này vài tuần trước đây, tôi đã nhận những cú điện thoại đe dọa và hộp thư của tôi đã bị đập tan. Tuy nhiên, việc này cũng có giá trị của nó. Viết về những sự tàn bạo là cảm súc đã phải giữ kín trong tôi quá lâu, nó như một sự giải phóng, mà có lẽ nó sẽ nhắc nhở các nhân chứng khác rằng: "Sự thật sẽ làm cho chúng ta tự do, chứ không phải sợ hãi." Chúng ta có lẽ còn học được một bài học quan trọng nhất đối với tất cả: chỉ có tình yêu thương mới chiến thắng tất cả.
Martin Brech sống tại Mahopac, New York. Khi ông viết những dòng ký ức này năm 1990, ông là giáo sư phụ tá môn học tôn giáo và triết học tại trường Cao đẳng Mercy ở Dobbs Ferry, New York. Ông Brech có bằng thạc sỹ thần học của Đại học Columbia.
http://www.thetruthseeker.co.uk/article.asp?ID=135
http://www.fpp.co.uk/History/General...Brech2002.html