Cư dân cuối cùng của ốp Sài Gòn
[17.09.2012]
Bút ký của Châu Hồng Thuỷ
Lời tác giả: Bài này viết từ năm 2007. Nay tìm lại được, đưa lên để nhớ lại một thời
Nghe tên Ốp (Ký túc xá) Sài Gòn cách đây đã gần chục năm, nhưng mãi tới tận đầu năm 2005, lần đầu tiên tôi mới có dịp đặt chân đến. Người nhà tôi gửi quà từ Việt Nam sang. Dịch vụ phía đầu Matxcơva gọi điện nhắn tôi đến Ốp Sài Gòn để lấy. Lần thứ hai tôi đến ốp Sài Gòn, cuối tháng 5 năm 2006 vừa rồi, cũng là lần cuối cùng, do liên quan đến nhân vật của câu chuyện mà tôi sắp kể dưới đây.
Ốp Sài Gòn nằm trên đường Pervaia Mashinostroenhia, gần Metro Đubrovka, nơi có nhà hát, hồi Tháng Mười năm 2002, lúc đang diễn vở "Nord - Ost" thì bị bọn khủng bố gây ra vụ bắt con tin chấn động thế giới.
Tra bản đồ, tôi tìm đến ốp cũng không khó lắm. Ốp Sài Gòn gồm ba tòa nhà 5 tầng liền nhau trên cùng một dãy phố, gọi là Đôm 10, 12 và 14. Người ta hẹn tôi nhận quà ở quán Karaoke dưới tầng hầm Đôm 14. Nhận xong tôi về luôn, không buồn đi dạo các tầng và các Đôm bên cạnh xem mọi người sống ra sao, vì cũng chẳng quen ai ở đó mà thăm thú. Vả lại, các ốp người Việt ở Matxcơva, ốp nào chả giống nhau, chẳng có gì lạ cả. Có điều, tôi nghĩ, tay nào làm chủ Ốp Sài Gòn giàu phải biết. Ốp này to gấp ba lần những ốp bình thường khác.
Vì sao gọi là Ốp Sài Gòn, tôi chưa thấy ai giải thích rõ ngọn ngành. Người thì bảo, có tên ấy vì hình như chủ ốp là người Sài Gòn, người thì bảo đơn giản ốp cần một cái tên, người ta thường lấy tên Hà Nội, hoặc Sài Gòn đặt cho một ốp ở, hoặc một nhà hàng nào đó. Lại nghe nói, tên người chủ ốp là Cường Bún, bởi có một thời anh ta làm bún. Với cộng đồng đông đảo người Việt ở Matxcơva, nghề làm bún có một thị trường tiêu thụ lớn, nhanh hốt bạc. Sau, anh Cường đứng ra thuê Ốp, rồi cho bà con người Việt thuê lại làm chỗ ở. Phải nói chủ ốp có mối quan hệ khá vững chắc thế nào đó, nên ít khi ốp bị OMON đến khám xét, bắt bớ. Năm 2003, trong lúc nhiều ốp của người Việt như Đôm 38 trên đường Kraxnobagatưrxkaia, Ốp Xokol 5 và 6 ở ngõ Pervưi Baltikxki, Ốp An Đông 2 ở ngõ Miotđovưi, Ốp Aviamatornaia… lần lượt bị vỡ trong chiến dịch của thành phố tảo thanh các ốp cho người nước ngoài thuê, thì Ốp Sài Gòn vẫn bình yên.
Tất cả các ông chủ của các Chợ, các Ốp, các Trung tâm thương mại tôi đều biết, nhưng chủ Ốp Sài Gòn thì chưa gặp bao giờ, bởi anh ta hầu như không quan hệ với các đơn vị của cộng đồng, cũng chẳng bao giờ xuất hiện trong các sinh hoạt chung do Sứ quán, do các Trung tâm, các Hiệp Hội của người Việt Nam tổ chức. Mãi đến khi Ốp Sài Gòn “bị cướp” cuối năm ngoái, mới nghe nói chủ ốp chạy lên nhờ Sứ quán và Hội người Việt can thiệp giúp. “Bị cướp” là từ khẩu ngữ mà người Việt ở Nga hay dùng để chỉ một chợ, một ốp của ai đó đang quản lý, bị người khác tranh mất bằng cách trả giá thuê cao hơn. Nghe đồn, Ốp Sài Gòn bị một người Tây “cướp”, nhưng thực chất, mấy ông chủ “Cộng” đứng đằng sau. Không rõ thực hư thế nào. Nhưng chuyện Cường Bún bị mất ốp là có thật.
Lẽ ra, câu chuyện mà tôi kể có liên quan đến nhân vật dưới đây, chỉ cần nhắc tới Ốp Sài Gòn vài ba câu là đủ. Nhưng thưa độc giả, câu chuyện xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt, đúng vào lúc Ốp Sài Gòn “bị vỡ”. Vào thời điểm ấy, ngày Mồng 1 tháng Năm năm 2006, Ốp Xalut 2 của Bến Thành cũng cùng chung số phận. Bây giờ cả Bến Thành và Sài Gòn đã đi vào quá khứ. Tôi muốn nhân câu chuyện này, ghi nhận tên tuổi Bến Thành và Sài Gòn trong lịch sử của cộng đồng.
Cách đây hơn chục năm, Liên Xô trải qua cơn chính biến, rồi tan vỡ. Nước Nga khủng hoảng toàn diện, các nhà máy, trường học thiếu tiền, nên họ mới cho người Việt thuê các Ký túc xá, những nhà xưởng xây dựng cách đây dăm bảy chục năm, cũ nát xập xệ, sửa sang qua loa rồi để làm nhà ở. Giờ thì họ đã ổn định kinh tế, đã thừa tiền nên đòi nhà để xây dựng lại. Vả lại, nhà quá cũ nát, để làm chỗ ở nguy hiểm đến tính mạng người thuê. Nhỡ có chuyện gì xảy ra, thì chủ nhà máy, hiệu trưởng nhà trường ra toà như chơi, chả ai dại gì mà cho thuê nữa. Cánh Ban quản trị mới của Ốp Sài Gòn, thay Cường Bún quản lý được mấy tháng, cũng đành ngậm ngùi trước quyết định của chính quyền thành phố. Hàng mấy nghìn con người ở hai Ốp Sài Gòn và Bến Thành, không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng mấy ngày đã nhanh chóng tìm được chỗ trú thân trong cái thành phố có giá nhà thuê đắt đỏ nhất thế giới này?
***
Một ngày cuối tháng Năm, năm 2006, có một người đàn ông gọi điện đến Văn phòng Hội người Việt Nam tại LB Nga, đề nghị Hội cứu giúp một cô gái có đứa con nhỏ hơn một tháng tuổi ở Ốp Sài Gòn đang trong tình trạng “sống dở chết dở”. Chúng tôi ngạc nhiên, bởi bà con người Việt đã dọn đi hết theo lệnh của thành phố cách đây đã gần một tháng. Người ta đã cắt hết hệ thống điện nước, cho thợ tháo dỡ các cửa kính, chuẩn bị cho nổ sập cả ba tòa nhà. Làm sao có chuyện cho phép ai ở lại trong ốp được?
Bên kia đầu dây, người đàn ông tự xưng là Thanh đã kể cho chúng tôi đầu đuôi câu chuyện:
Cô gái đang ở Ốp Sài Gòn tên là Nguyễn Thị D. Không rõ quê cô ta ở đâu, vì anh cũng chỉ là khách đến chơi với người quen ở Ốp Sài Gòn tháng trước, nghe kể lại hoàn cảnh cơ nhỡ của cô ta. D. sang Nga mới được hơn một năm, làm thợ may cho một ông chủ người Việt ở ngoại ô Matxcơva. Xưởng may mở lậu, bị công an đập lên đập xuống mấy lần, phải chuyển hết chỗ này đến chỗ khác. Hơn một năm làm ở xưởng may, không được một đồng nào, lại mang cái bụng to tướng về Matxcơva. Về Mat, cô đi bán thuê hàng khô cho một chủ người Việt. Lúc sắp đẻ, cô được một anh lái tắc xi người Cămpuchia gốc Việt tên là Leng chở giúp đi bệnh viện. Sinh con xong, không biết về đâu, lại gọi điện nhờ đến anh ta lần nữa. Cô bảo Leng chở về ngoại ô, nơi có xưởng may. Theo lời kể của cô, anh K. làm cùng xưởng may với cô là cha của đứa bé. Gọi điện cho K ra đón. Anh ta trả lời: chắc gì đứa con trong bụng là của mình, rồi tắt máy. Cũng không thể vào xưởng, vì có mấy ông Tây canh gác rất ngặt. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Cũng may, Leng là người tốt bụng, anh ta chở D. về Ốp Sài Gòn. Vợ chồng Leng cho mẹ con cô tá túc trong căn hộ một buồng chật chội của gia đình họ. Mới được một hai tuần thì ốp vỡ. Mọi người bỏ ốp đi hết. Vợ chồng Leng cũng phải đi tìm nơi ở nhờ bạn bè, không thể mang theo mẹ con cô đi được. Đã một tháng nay, mẹ con cô không biết đi đâu, sống trong cảnh ốp hoang tàn, không có điện, không có nước, không tiền ăn. Cánh thợ người Tatdich đang làm nhiệm vụ tháo dỡ các cửa kính của tòa nhà, đã dỡ hết mấy trăm phòng, riêng chỗ mẹ con cô đang ở, họ thương cháu bé, sợ cháu bị lạnh sẽ dẫn đến viêm phổi nên chưa phá. Thỉnh thoảng, họ mang cho cô một cái bánh mỳ, một bình nước. Cô đi nhặt giấy báo, bìa carton trong ngôi nhà hoang để đun nước nóng rửa cho con. Những người trong Ban quản lý dự án xây dựng nhiều lần đến đuổi mẹ con cô, vì sắp đến ngày nổ mìn đánh sập ngôi nhà. Cô cứ đánh bài lỳ, vì chẳng biết đi đâu. Một vài người Việt sống ở Ốp Sài Gòn cũ, thỉnh thoảng đến cho cô một ít thực phẩm, nhưng chẳng ai dám đem mẹ con cô về để cưu mang. Có người bảo cô cho đứa con đi, họ sẽ cho cô một ít tiền để sống. D. nhất định không chịu, bảo cả hai mẹ con sẽ chết cùng nhau ở ốp này. Cô ta thì không nói làm gì, nhưng còn cháu bé mới hơn tháng tuổi, sống trong cảnh tăm tối không điện nước, ốp hôi thối, không chóng thì chày sẽ chết vì lạnh, vì nhiễm độc. Đề nghị các anh trong Hội hãy cứu lấy đứa bé.
Nghe kể, Nguyễn Anh Tú, Quyền chánh văn phòng Hội bảo anh Thanh, trước mắt hãy tạm thời giúp mẹ con cô bé chỗ ăn ở một vài ngày, văn phòng sẽ báo cáo với Lãnh đạo Hội và Ban Công tác cộng đồng Đại sứ quán giải quyết về mặt lâu dài. Anh ta giãy nảy từ chối, với lý do nhà cũng đang rất chật…
Nhận được tin, Ban Thường vụ Hội chỉ đạo cho Văn phòng Hội báo cáo với Ban Công tác Cộng đồng Đại sứ quán. Buổi tối hôm đó, anh Lê Minh Dần, thường trực Ban công tác Cộng đồng đã cùng cán bộ phòng Lãnh sự đánh xe đến ốp Sài Gòn xem rõ thực hư. Trở về, anh bảo ở đó không tìm thấy một người nào cả. Hôm sau, người đàn ông tên Thanh lại gọi điện giục văn phòng Hội đến cứu mẹ con cô gái. Anh khẳng định: “Chuyện tôi kể là có thật. Cả ba toà nhà 5 tầng rộng mênh mông, hàng mấy trăm phòng, không có điện đóm, làm sao các anh thấy được. Ngày mai, tôi sẽ đón các anh đến Ốp Sài Gòn, chỉ tận phòng cô D. đang ở để thấy cảnh thương tâm của mẹ con cô ấy…”
Ngay sáng hôm sau, tình cờ chúng tôi đọc báo điện tử của Đài phát thanh Maiak, thấy có đăng bài của Phóng viên Pavel Novikov: “Chiến dịch kiểm tra người nước ngoài sống bất hợp pháp”. Lần đầu tiên, cảnh sát Nga đưa vào sử dụng loại xe gazel được trang bị đầy đủ máy móc hiện đại và kết nối trực tiếp với trung tâm dữ liệu nhằm xác định nhanh chóng mức độ hợp pháp của các công dân nước ngoài đang sinh sống tại Nga. Những người sống bất hợp pháp sẽ được lọc ra nhờ “phòng thí nghiệm di động” này. Nó cho phép kiểm tra việc đăng ký tạm trú của người qua lại ngay trên đường phố, trong trường hợp cần thiết có thể tiến hành lấy vân tay, chụp hình và đưa vào cơ sở dữ liệu hồ sơ của những người vi phạm. Vào lúc nửa đêm ngày 21 tháng 5, cảnh sát phối hợp với Sở ngoại kiều Matxcơva cùng hơn 20 lính đặc nhiệm (OMON) đã bất ngờ xuất hiện tại các ký túc xá trên đường Mashinostroyenya số 1, trong đó có Ốp Sài Gòn, bởi trước đó đã có thông tin về việc có hơn 50 người nước ngoài sống bất hợp pháp tại địa chỉ trên. Hơn 10 người Việt đã bị bắt. Họ lần lượt bị đưa vào trong xe gazel, bị chụp hình, lấy vân tay. Thời gian dành cho việc này là 2 phút cho một trường hợp. Sau đó máy tính lập tức truyền tải hồ sơ của những người vi phạm đến trung tâm dữ liệu. Hoá ra, trong những ngôi nhà bỏ hoang đó vẫn còn những người sống lẩn lút. Chúng tôi tự hỏi, không biết mẹ con cô D. có bị bắt hay không. Gọi điện hỏi anh Thanh, được biết cảnh sát không ngờ đến trong khu Đôm 10 hôi thối ấy có người còn đang ở, nên họ bỏ sót mẹ con D. Vậy là cho đến lúc này, họ trở thành cư dân cuối cùng của ốp Sài Gòn còn sót lại.
Trước khi đến ốp Sài Gòn lần thứ hai, anh Lê Minh Dần gọi điện đến các chủ Ốp, kể về tình trạng của mẹ con cô gái, đề nghị giúp cho họ một chỗ ở tạm thời, thậm chí ở “hành lang” cũng được. Các chủ ốp đều từ chối với lý do không còn phòng trống và “đá” ngược “quả bóng” về Văn phòng Hội. Thuyết phục một hồi, Ốp Sông Hồng 1 nhận cho mẹ con cô tá túc với điều kiện chỉ cho ở một tuần. Anh Dần bảo chúng tôi, trước mắt cứ đưa mẹ con cô ấy thoát khỏi ngôi nhà ô nhiễm đó để bảo vệ sức khoẻ của cháu bé, chuyện lâu dài sẽ tính sau.
Việc của tôi ở Văn phòng Hội là làm tạp chí, chứ không phải giải quyết những vấn đề thường nhật. Với chức năng của người làm báo, tôi đi theo anh Dần và Tú để tìm hiểu sự tình. Chúng tôi đến Đôm 10 Ốp Sài Gòn vào lúc nhập nhoạng tối. Nếu không có anh Thanh chỉ dẫn, không thể tìm ra căn phòng mẹ con cô gái đang ở.
Đập vào mắt chúng tôi là cảnh tan hoang của những ngôi nhà trống. Mấy nghìn cư dân của Ốp Sài Gòn quẳng lại bao thứ không thể mang theo: Quần áo cũ, giường tủ, xoong nồi, bát đĩa, bếp điện, thậm chí cả tủ lạnh... Mùi hôi thối bốc lên thật khó tả. Căn phòng mẹ con cô D. nằm ở ngay tầng một. Qua ánh nến leo lét, chúng tôi có cảm giác như mình đang ở dưới âm phủ. Những con chuột to bằng bắp chân chạy đuổi nhau kêu chí choét như ở chỗ không người. Anh Thanh kể, có hôm chuột nhảy qua người cháu bé, còn để lại vết xước trên mặt. Nguyễn Cao Cường, sinh viên năm thứ tư Trường Y khoa Matxcơva nhanh chóng khám cho cháu bé. Nghe hơi thở của cháu có tiếng khò khè, chúng tôi quyết định gọi xe cấp cứu chở cháu đi bệnh viện. Lúc xe 03 đến, cũng là lúc người quản lý và bảo vệ xuất hiện. Họ mừng vì cuối cùng mẹ con cô D. đã rời khỏi ốp Sài Gòn, người mà họ bao ngày đuổi đi không được, gọi công an điệu đi thì không nỡ.
Hình như Trời bao giờ cũng có quy luật bù trừ. Trong hoàn cảnh khốn khổ ấy, đứa trẻ có khả năng đề kháng cao, tưởng bị bệnh phổi, nhưng hoá ra không việc gì. Sau khi nằm viện hai ngày, mẹ con D. được chở về Ốp Sông Hồng ở tạm. Nhưng đây là ốp hạch toán kinh doanh, nên chủ ốp đòi phải nộp tiền mới được tiếp tục ở. Hội người Việt Nam lại phải ứng ra ba tháng tiền nhà mang đến, đợi khi cháu bé cứng cáp rồi tính giúp cho mẹ con cháu về Việt Nam sau.
Thưa các bạn, lúc ban đầu, tôi chỉ ý định viết về mẹ con cô D., "cư dân cuối cùng của ốp Sài Gòn". Nhưng lại thêm một sự việc bất ngờ xảy ra, khiến câu chuyện liên quan đến Ốp Sài Gòn vẫn chưa đến hồi kết thúc. Và D. cũng chưa phải là nhân vật cuối cùng. Ngày 18 tháng 6, Nguyễn Anh Tú lại nhận được điện thoại kêu cứu của một cô gái tên là Hoàng Thị H. Cô bảo đã nằm ở Nhà Hộ sinh số 18 của Thành phố gần chục ngày chờ đẻ, vì không có tiền nộp cho bác sĩ, cô bị đuổi ra khỏi bệnh viện, lại phải quay trở ốp Sài Gòn. Ngày hôm sau, chị Xô, một người chuyên bán hoa quả rong ở Chợ Vòm, dẫn H., cô gái có cái bụng to tướng đến Văn phòng Hội với lá đơn kêu cứu. Xin kể lại theo lời khai của cô gái ấy:
Hoàng Thị H, người Nùng, sinh năm 1978 ở Hà Quảng, Cao Bằng. H. đã có một đời chồng và một đứa con 5 tuổi. Vợ chồng ly dị nhau từ khi đứa con mới lên ba. Cô sang Nga theo con đường dịch vụ, với lời hứa sang để bán hàng cho chủ. Sang đến nơi thì bị bắt làm nghề bán dâm tại Sauna (Nhà tắm hơi) ở khu chợ Công Xanh. Được hơn một tháng thì có người tên là Đ. chuộc ra, đưa về sống ở Kờva (căn hộ). Nghe anh ta nói quê ở Hải Phòng. Hỏi làm nghề gì, thì anh ta bảo cô không cần biết cho mệt, chỉ biết anh làm nghề tự do là đủ. Đ. bảo đã có vợ và hai con gái. Vợ chồng cũng đã ly dị. Khi biết H. có thai, anh ta bảo cứ để sinh cho anh ta một đứa con trai. Khi đi siêu âm, nghe báo sẽ sinh con gái, mặt anh ta có vẻ không vui. Đ. bảo đi thành phố xa vài hôm, rồi không thấy về nữa. Điện thoại cầm tay của anh ta từ bấy đến giờ cũng không liên lạc được. Không hiểu anh ta gặp chuyện gì bất trắc, hay bỏ rơi cô. Đ. đi rồi, trong túi H. còn 700 rup. Chủ nhà đến thu tiền thuê nhà hàng tháng, không có tiền, bị đuổi ra khỏi nhà. Ngồi co ro trong đêm lạnh ngoài bến xe, sáng ra gặp một người Việt Nam, mừng quá cô liền bám theo nhờ giúp đỡ. Anh ta bảo đang vội đi chợ, ghi cho cô địa chỉ Ốp Sài Gòn, dặn cứ chìa tờ giấy nhờ tắc xi chở đến đó.
Đến Ốp Sài Gòn trong lúc mọi người đang lục tục tìm nhà nơi khác, nhiều phòng bỏ trống, H. ở luôn trong đó. Chăn đệm thì không thiếu, vì người ta vất lại rất nhiều. Tuy vậy, vẫn phải ở lén lút, vì người Tây quản lý ốp vẫn cứ thu tiền những ai còn ở lại. Đêm ngủ trong phòng, sáng dậy cuộn chăn đệm giấu đi một chỗ. Điện, nước lúc này cũng đã bị cắt. Thế nhưng, không chỉ có mình cô ở lại. Cô thấy những đôi vợ chồng nghiện, có con nhỏ dặt dẹo, không biết đi đâu, cũng sống vạ vật trong ốp. H. nghe đồn có một cô gái đẻ đứa con mới mấy ngày, còn đang ở lại trong ốp, cô cũng không biết mặt, và cũng không biết cô ta sống ở phòng nào. Có người bảo H.: "Mấy hôm nữa, chắc mày cũng giống như cảnh con bé ấy "(Chính là cô D. mà tôi đã kể ở trên). Đêm 21 tháng Năm 2006, khi OMON vào khám ốp, có cả phóng viên truyền hình đi kèm. Họ quay cô rất kỹ, nhưng không bắt đi, vì bụng to vượt mặt. Một số người bị bắt, sáng hôm sau lại thấy được thả về. Sau vụ ấy, ông Tây quản lý ốp bảo “cánh vô gia cư” mỗi người nộp mấy trăm rúp, sẽ cho chuyển sang ở Đôm 6. Đôm 6 cách Ốp Sài Gòn mấy chục mét, cũng trong tình trạng nhà hoang, chuẩn bị phá đi xây lại. Ở đó chỉ còn cánh thợ người Tát dich ngủ buổi tối, hàng ngày sang Ốp Sài Gòn phá cửa kính và thu dọn. Không có tiền nộp, H. vẫn cứ liều sang Đôm 6, tìm một phòng trống ở tầng ba ngủ lại. Nghe người ta mách, cô lang thang đến Chợ Asean của người Việt tìm người giúp đỡ. Mọi người góp nhau lại cho cô được hơn 500 rup. Có người thương tình, mách cô nhờ dịch vụ đưa vào nhà hộ sinh, vừa có chỗ ăn ở tạm thời, vừa có chỗ yên tâm khi sinh nở. Cô đặt Hộ chiếu, vay một người tên là T. một nghìn rúp, lấy tiền đưa dịch vụ vào bệnh viện. Người ta đưa cô vào nhà hộ sinh số 18. Được khoảng một tuần, một bà bác sĩ gọi riêng cô ra. Biết cô không hiểu tiếng, bà ta ra dấu tay đếm tiền, rồi viết ra giấy con số 2000. Không có tiền nộp, bà ta sai người đến lột chăn đệm giường cô và đuổi ra khỏi Nhà Hộ sinh. Mấy hôm nay, cô lại về Đôm 6 cạnh Ốp Sài Gòn. Sắp đến ngày đẻ rồi mà trong túi chẳng có tiền.
Những lời kể của hai cô D. và H. về hoàn cảnh gia đình, về quá trình dẫn họ tới bước đường cùng, có thật sự hay không, cũng chưa thể tin ngay được. Nhưng điều hiển nhiên trước mắt, là một cô gái với đứa con nằm trong ốp hoang tàn hôi thối; một cô gái với cái bụng vượt mặt, đôi chân đang xuống máu như phù sắp đến ngày sinh nở, thì không phải nghi ngờ. Trong tay H còn có tờ giấy nhập viện ngày 08, ra ngày 18 tháng 6. Ai cũng biết Nhà Hộ sinh số 18 nổi tiếng về chuyện các bác sĩ vòi tiền dân Châu Á. Mặc dù H. đã mất một nghìn rup ban đầu để được nhận vào nằm chờ đẻ, nhưng sau không có tiền cho Bác sĩ trực tiếp theo dõi hàng ngày, bị bà ta đuổi khỏi Nhà Hộ sinh, là chuyện không có gì lạ cả. Chỉ buồn một điều, có những bác sĩ đã đánh mất lương tâm nghề nghiệp bởi đồng tiền. Thời Xô viết ngày xưa, đâu có vậy.
Hội chỉ là nơi tư vấn giúp đỡ, chứ không phải là cơ sở từ thiện có điều kiện giúp hết cho mọi trường hợp cơ nhỡ. Chúng tôi chỉ dẫn cho cô sang phòng Lãnh sự, rồi Ban Công tác Cộng đồng. Mấy tiếng sau, lại thấy cô trở lại. Cô chìa ra mảnh giấy có ghi Địa chỉ Văn phòng Hội người Việt, bảo có một người ở Phòng Lãnh sự giới thiệu cô sang đây nhờ giúp đỡ. Hoá ra họ đá ngược quả bóng về Văn phòng Hội. Đành phải tìm cách khác. Hội người Việt Nam tại LB Nga cấp cho cô một giấy giới thiệu đến các TTTM xin giúp tiền để đi viện. Chỉ đi một vòng ở chợ Vòm thuộc khu vực quản lý của TTKTTM Quốc tế, cô đã được bà con cho số tiền ngoài sức tưởng tượng: đủ để đi viện và có thể mua vé máy bay về nước khi con cứng cáp.
Nhờ có sự xoay sở của chị Xô, người bán hoa quả ở chợ Vòm, H. được một người đang sống ở căn hộ cho trú tạm trước khi đi bệnh viện. Nhưng được vài ngày, họ lại giục cô phải đi tìm nơi khác, với lý do vợ họ sắp sang, cô ở như thế không hay cho họ. Cũng có thể họ ngại cô sắp đến ngày sinh nở, rách việc cho mình. Thế là cô lại chạy đến Văn phòng Hội kêu cứu. Rồi cô ngồi lỳ ở đó, bảo không biết về đâu. Nhìn bộ dạng của người sắp đẻ, chúng tôi lo quá. Nhỡ cô ta đẻ rơi ở ngay đây thì bất tiện. Đành gọi cho Ông Lò Văn Xanh, Ủy viên BCH Hội người Việt, kiêm Chủ tịch Hội Y dược. Hội Y dược liền cử hội viên Phùng Duy Hoàng Sơn, sinh viên Trường Đại học y khoa đến. Sơn giúp chúng gọi xe cấp cứu 03, rồi anh cùng theo xe đưa cô đi bệnh viện.
Phải giải quyết những chuyện bất đắc dĩ như thế, chẳng ai muốn cả. Ngay một vài người trong BCH Hội thiếu thiện ý, đã bảo Văn phòng Hội là nơi đỡ đẻ. Nghe nói thế, thoạt đầu cũng thấy nóng mặt, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, chẳng trách làm gì. Hai vụ trên, chỉ là việc nhỏ trong hàng trăm trường hợp kêu cứu mà văn phòng Hội chúng tôi thường xuyên tiếp nhận: Nào là người chết ở bệnh viện cần lo hoả thiêu mà không có ai là thân nhân, nào là người bị lừa đưa sang làm mại dâm, nào là chuyện bùng tiền hàng của nhau, nào là xe từ thành phố xa lên lấy hàng bị bọn chỉ điểm cho kẻ xấu cướp tiền hàng... Chỉ ngồi nghe các cú điện thoại hoặc nhận những lá đơn như thế đã đủ nhức đầu. Chúng tôi thường bảo với nhau: Chỉ có hai kiểu người có thể "bình tâm" làm ở Văn phòng Hội. Một là người có trái tim với tình yêu thương bao la, có đủ quyền năng chỉ sau một vài lời nói, một vài động tác là giúp được mọi người giải quyết xong mọi Nan đề. Hai là phải có trái tim sắt đá lạnh lùng trước nỗi đau đồng loại. Khổ nỗi, chúng tôi không có được hai chất ấy. Sắt đá thì không phải. Mà bao la tình thương cũng chưa có được. Chúng tôi chỉ là người thường, biết thông cảm, thương xót cho những cảnh đời cơ nhỡ, nhưng không đủ lực, đủ tầm để lo giúp họ. Lực bất tòng tâm, chỉ thêm day dứt.
Dù sao, những "nan đề" mà Văn phòng Hội nhận được, đều báo cáo Ban Thường vụ Hội và Ban công tác cộng đồng Đại sứ quán một cách kịp thời. Không phải tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết. Nhưng hai trường hợp cư dân cuối cùng của Ốp Sài Gòn kể trên, đã được Hội giúp đỡ chu đáo. Dù hai cô gái đó là người thế nào đi chăng nữa, nhưng trước hai sinh linh bé nhỏ vô tội vừa ra đời và sắp ra đời kia ta không thể nhắm mắt làm ngơ. Hôm H. đưa con về nước, trước khi ra sân bay, cô gọi điện cảm ơn Hội người Việt Nam đã cưu mang mẹ con cô trong lúc khốn cùng. Chúng tôi chúc mẹ con cô đã tai qua nạn khỏi, và thầm mong cho những cảnh đời như thế đừng bao giờ có nữa. Ở đời, nói thương người thì dễ, có thể sẵn sàng bỏ tiền vào thùng quyên góp công đức giúp cho những người ở xa đâu đó chưa biết mặt biết tên, nhưng có mấy người dám ra tay cưu mang một số phận cụ thể như mẹ con cô H., cô D trước mặt mình?
Matxcơva tháng 6/2006 - 09/1/2007
CHT