Rất nhiều gia đình Việt hiện nay gửi con em sang Mỹ, Anh với kỳ vọng con em họ thành nọ thành kia. Họ không hiểu gì cả! Sau quãng thời gian ăn chơi nhảy múa và ngập ngụa trong đống phế thải phương tây, chúng trở về mà chưa liệt não, chưa nghiện ngập đủ thứ đồi bại như sex, ma túy là còn may. Chủ đề này thực ra là rất dài và nhiều câu chuyện cười ra nước mắt.
Ở đây có câu chuyện liên quan đến Nga và lấy từ
nguồn Nga. Làm thế nào để dân Mỹ tưởng Liên Xô cùng phe vởi Hitle? Xem ra cũng đơn giản.
Tất cả đều biết người Mỹ chép sử theo kiểu của mình. Lịch sử WW-2 cũng không phải là ngoại lệ và còn là một minh chứng rõ ràng cho điều đó. Có rất nhiều các ví dụ lấy từ các sách của Mỹ, mà trong đó phần lớn công lao đóng góp của Liên Xô trong việc đánh bại phát xít Đức đã bị coi nhẹ, bị lờ đi. Còn binh lính Mỹ thì được thể hiện với tất cả vinh quang lịch sử.
Những bằng chứng như thế đã được đăng trên bài báo của ông Tigran Khalatyan, một Ph.D khoa học đang sống ở Mỹ.
Hầu hết người Mỹ đều cho rằng, họ có công lao chính trong việc đánh bại phát xít Đức, còn đóng góp của Liên Xô thì rất mơ hồ. Phần lớn nghĩ, Liên Xô tham gia vào chiến tranh bên phía Hitle…
Làm thế nào để xuyên tạc lịch sử mà không phải hạ mình dối trá một cách trắng trợn? Đơn giản là chỉ nói một nửa sự thật. Và điều đó còn giữ được thanh danh hơn là dối trá trắng trợn. Đó là cách viết lịch sử ở phương tây. Những vấn đề tư tưởng được giải quyết bằng cách bóp méo và giấu giếm.
Sách dùng cho lớp 7, của Prentice Hall nhan đề History of Our World, 2007. Trang 623 (quyển 4, chương 21) nói về chiến tranh giai đoạn 1943-1945 ở châu Âu, tất cả chỉ có một đoạn như thế này:
“Chiến thắng ở châu Âu. Sau khi tập trung ở Bắc Phi và Ý, Các đồng minh mở mặt trận phía tây chống quân Đức suy yếu. Ngày 6 tháng 6 năm 1944, tàu chiến của đồng minh với 156 ngàn quân đổ bộ lên Normandy, bờ biển phía bắc nước Pháp. Được biết đến như D-day cuộc tấn công Normandy là khởi đầu chiến dịch to lớn của đồng minh tiến về phía đông.
Sau 6 tháng quân đội đồng minh đã đến nước Đức. Sau một nỗ lực cuối cùng để giành thắng lợi tháng 12 năm 1944, được biết đến là Trận đánh Ardennes (Battle of the Bulge-ND), quân đội Đức đã bị đập tan. Đồng minh tuyên bố chiến thắng ở châu Âu ngày 8 tháng 5 năm 1945”.
Và thế là chiến tranh châu Âu kết thúc. Cần phải nói là, trận đánh Moscow và Stalingrad cũng được nhắc đến trong chương này. Nhưng khi người Mỹ đến châu Âu thì các tác giả lập tức quên ngay người Nga. Không nhắc đến những trận đánh dữ dội nhất của Hồng Quân trong những năm 1944-1945, không nhắc đến trận công phá thành Berlin. Còn quân Đức suy yếu, là suy yếu do các cuộc tấn công đường không chiến lược của đồng minh!
Nhìn vào các thư viện địa phương ở Mỹ, có rất nhiều sách về WW-2. Nhìn chung, chúng đề cập đến các trận đánh mà người Mỹ tham gia hay là về Holocaust. Rất nhiều sách đền cập đến cuộc tấn công Trân châu cảng của Nhật Bản và về D-Day. Đối với những người chưa biết đến sách sử Mỹ, thì cần nói rằng, việc mở
Mặt trận thứ 2 vào ngày 6-6-1944 ở Mỹ được gọi là D-Day, theo ý nghĩa quân sự là ngày mở màn các trận đánh.
Điều đó cũng không phải là tình cờ, rất là thích hợp khi mà thay vì nói về Mặt trận thứ 2, người Mỹ thích nhớ hơn đến “D-Day: bắt đầu của sự kết thúc đối với phát xít Đức” (D-day: the beginning of the end for Nazi Germany), là trận đánh quan trong nhất của WW-2 trong khái niệm của họ. Còn khi nói về Mặt trận thứ 2 thì sẽ làm dấy lên những câu hỏi, Mặt trận thứ 1 ở đâu? Mặt trận nào là quan trọng? Do vậy mà người Mỹ, rõ ràng và ngắn gọn: D-Day.
Trong thư viện Mỹ. đặt ở chỗ dễ thấy là 3 tập sách được in ấn đẹp của nhà sử học nổi tiếng Mỹ Stephen Ambrose, “Trận đánh tuyệt vời. WW-2 đã thắng lợi như thế nào, 2001” (Stephen E. Ambrose. The good fight. How World War II was won, 2001).
Lời chú dẫn trong phụ trương về tác giả đầy triển vọng:
"Steven E. Ambrose, một trong những nhà sử học ưu tú nhất trong thời đại của chúng ta đã viết ra niên đại lịch sử tuyệt vời WW-2 cho các đọc giả trẻ…”. Và khi mở ra đọc thì thấy sửng sốt cái niên đại liệt kê những sự kiện chính của WW-2 như thế này:
1939
1-9. Đức xâm lược Ba Lan, bắt đầu WW-2.
1940
27-9, Nhật ký Hiệp định sắt thép.
1941
5-11, CP Nhật quyết định phát động chiến tranh bí mật chống Mỹ.
7-12. Nhật tấn công bất ngờ vào căn cứ quân đội Mỹ tại Trân châu cảng, Hawaii.
8-12, Mỹ tuyên bố chiến tranh với Nhật.
1942
20-1. Hội nghị Wannsee.
18-4. 18. Tấn công bất ngờ Doolittle trên đất Nhật.
4-4. Trận đánh Midway, Nhật chiếm đảo Attu và Kiska của Alaska.
7-8. Lính thủy đánh bộ Mỹ tấn công quân Nhật bảo vệ Guadakanal.
8-8. Chiến dich Torch, đồng minh đổ bộ vào Bắc Phi.
…
Cứ như thế..
Vô hình chung, chẳng có Liên Xô chống phát xít.
Thế là, để trả lời câu hỏi,
WW-2 đã thắng lợi như thế nào, thì “một trong những nhà sử học ưu tú nhất trong thời đại của chúng ta” lại im lặng và chẳng thấy lương tâm bị cắn rứt khi chỉ nói đến những trận đánh và sự kiện người Mỹ tham dự. Và ở Mỹ người ta tiếp thu điều đó như là điều bình thường. Vào các website bán sách phổ biến, nhìn chung có những phản ánh rất tích cực từ đọc giả về cuốn sách (đã trừ ra các ý kiến của những tên tôi tớ ngoan ngoãn).
Stephen Ambrose, một trong những nhà sử học nổi tiếng nhất, viết sách lịch sử ở Mỹ, còn có đoạn văn “xuất chúng” sau trong cuốn sách không kém phần “xuất chúng” “Những người chiến thắng: Eisenhower và các cậu trẻ của ông ấy Người của WW-2” (The Victors: Eisenhower And His Boys The Men Of World War II). Trang 352, thật trứ danh:
“Mùa xuân năm 1945 trên các vùng khác nhau của thế giới nổi nên những đội quân từ một tá những người trẻ tuổi có vũ trang và trang phục, gây khiếp đảm con tim mọi người. Cho dù những nhóm này là Hồng Quân… hay là quân Đức… hay là quân Nhật… thì đội quân này nghĩa là cưỡng hiếp, tàn sát, cướp bóc, chiếm đoạt, tàn phá qui mô lớn, giết người như điên dại. Nhưng cũng có một ngoại lệ: nhóm những người Mỹ, mà dáng vẻ đem đến nụ cười tươi sáng nhất có thể nhìn thấy ở mọi người và đem đến thiện cảm trong trái tim họ…”
Rõ là, nhà sử học Ambrose không nhìn thấy sự khác nhau giữa Hồng Quân và quân phát xít đã thực hiện những cái gì. Nhưng còn những người bạn Anh? Để tự sướng nhà sử học cũng đã quên hết luôn cả họ. Ông ta là nhà sử học Mỹ hàng đầu cơ đấy! sách của ông ta bán khắp mọi nơi. Nhưng liệu không thể tìm thấy trong thư viện Mỹ một cuốn nào đề cập đến vai trò của Liên Xô trong WW-2?
Có thể tìm thấy, đây là 1 cuốn năm 2004: Margaret J. Holstein, “WW-2 ở châu Âu” (Margaret J. Goldstein. World War II in Europe). Ở trang 17 có in bản đồ châu Âu được đặt tên “Hitler's Blitzkrieg 1939 — 1941”. Chỉ có điều là Liên Xô được tô màu sao đó trên bản đồ. Nhìn cẩn thận thì thấy: “Liên Xô (đồng minh của Đức cho đến tháng 6 năm 1941)”. Thật là rõ ràng, không cần bổ xung thêm gì cả. Còn sau đó thì không cần phải ngạc nhiên nữa về vai trò không nhiều lắm của Liên Xô. Mặc dù như thừa nhận là sau tháng 6-1941 là đồng minh của Anh-Mỹ. Trên trang 86 là danh sách các trận đánh lớn.
Trận đánh lớn của WW-2 ở châu Âu:
Đức xâm lược Ba Lan - 1 tháng 9 năm 1939
Đức xâm lược Na Uy và Đan Mạch - 09 tháng 4 năm 1940
Đức xâm lược Bỉ, Hà Lan và Pháp - 10 tháng 5 1940
Trận đánh nước Anh - Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1940
Đức xâm lược Liên Xô - 22 tháng 6 năm 1941
Trận đánh ở Kiev, Kursk, Leningrad, Moscow, Sevastopol và Stalingrad - tháng 6 năm 1941 đến tháng 6 năm 1944
Nhật Bản ném bom Trân Châu Cảng, Hawaii - 07 tháng 12 năm 1941
Trận đánh El Alamein – tháng 10 đến tháng 11 năm 1942
Đồng minh tấn công ở Algeria và Morokko - 08 tháng 11năm 1942
Đồng minh tấn công ở Tunisia và Libya từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1943
Đồng minh tấn công Sicily - 10 Tháng 7, 1943
Trận chiến Monte Cassino, Ý - 04 tháng 1, 18 tháng 5, 1944
Đồng minh tấn công Ý, qua Anzio ngày 22 tháng 1, 1944
Đồng minh tấn công Pháp qua Normandy (D-Day) - ngày 6 tháng 6 năm 1944
Đồng minh tấn công miền Nam nước Pháp - tháng 8 năm 1944
Trận Ardennes ở Bỉ - Tháng 12 năm 1944.
Hầu hết những trận đánh quan trọng của người Mỹ được tập trung vào một đống. Trận chiến Budapest và Berlin, và vô số những trận đánh khác của Liên Xô không hề được kể đến. Do đó mà, người Mỹ chẳng bao giờ đoán được,
80% quân Đức đã bị đập tan ở Mặt trận phía đông. Họ chỉ nhớ “sau trận đánh ở Ardennes quân đội Đức đã bị đập tan”. Có cảm tưởng rằng, sau khi người Mỹ đến châu Âu, chủ yếu họ là chính trong chiến tranh với Đức.
Có thể ai đó cho rằng, tác giả bài viết này đã tìm những sách kém đứng đắn nhất và rằng thực ra thì các sách khác sẽ tốt hơn. Vậy thì vẫn cần tìm thêm chúng. Cần phải thu thập những hạt sự thật, chỉ có trẻ em Mỹ chắc là hiểu. Và một vài đoạn trích từ những xuất bản phổ thông nhất. Ví dụ, còn gì phổ thông hơn loạt sách “For Dummies” xuất bản với số lượng lớn phổ biến khắp quanh thế giới.
Lấy quyển của Keith D. Dikson “WW-2 cho ngốc” (Keith D. Dickson. World War II for Dummies). Trên bìa có dòng gây chú ý đến người đọc: “Học sử về Hitle, Trân châu cảng, D-Day và Hisroshima”. Câu phát biểu thật đáng chú ý, chính xác như nó cho thấy, đó là những gì mà người Mỹ tham gia vào chiến tranh. Sẽ chẳng còn ngạc nhiên thêm nữa khi mà trong số 10 sự kiện quan trọng trong niên đại không có trận đánh Mat-xcơ-va và Vòng cung Kursk. Nhưng đáng quan tâm là chương 23, trang 271 mang tên “Mười nhà lãnh đạo của WW-2”.
Tác giả tiếp cận đến vấn đề bằng lối nghiêm trọng: “Khi sắp xếp một danh sách như thế, luôn luôn cần phải không loại trừ ai đó đáng được chú ý… Tôi thực hiện chọn lựa của mình dựa trên phẩm chất của nhà lãnh đạo, trên sở hữu khoa học quân sự, khả năng lãnh đạo và truyền cảm hứng cho mọi người trong chiến đấu, dựa trên việc sử dụng vai trò cá nhân để giành lấy lợi ích dân tộc. Để tránh những tranh cãi lớn, tôi liệt kê tên theo thứ tự ABC”.
Và kết quả có 10 cái tên:
1. Winston S. Churchill: Nhà vĩ đại vĩnh cửu (England).
2. Dwight D. Eisenhower: Đừng lo lắng, hãy vui vẻ (USA).
3. Douglas MacArthur. Địa ngục hủy diệt! (USA).
4. George Marshall: Lòng tận tụy chân thật (USA).
5.. Chester W. Nimitz: Chúa tể biển cả (USA).
6. George S. Patton: Chiến binh mọi lúc của năm (U.S.).
7. Erwin Rommel: Cáo sa mạc (Germany).
8. Franklin D. Roosevelt: Kẻ mưu mẹo xảo quyệt (USA).
9. Isoruko Yamamoto: Chiến binh Sa-mu-rai (Japan).
10. Georgy Zhukov: Lãnh đạo của quần chúng (the USSR).
Không như các sách “cho thằng đần” khác, cuốn về WW-2 này không được dịch sang tiếng Nga. Người Mỹ dường như có 1 WW-2 tuyệt đối khác.
Nhưng, ai đã nói những câu này?
"Lịch sử không thấy ví dụ vĩ đại nào khác về lòng can đảm hơn là đã được chứng tỏ bới nhân dân Xô Viết Nga…” Henry L. Simpson, Bộ trưởng chiến tranh Mỹ.
“Chúng ta và đồng minh của chúng ta vô cùng và mãi mãi biết ơn công lao đóng góp của quân đội và nhân dân Liên Xô…” Frank Knox, Bộ trưởng hải quân Mỹ.
“Khả năng và tinh thần chiến đấu năng nổ của binh lính Nga làm quân đội Mỹ khâm phục…” George Marshall, Tổng tư lệnh QĐ Mỹ.
Qui mô và mức độ lớn lao của cống hiến người Nga có thể được coi như là thành tựu quân sự hùng tráng nhất trong lịch sử của chúng ta”. Douglas MacArthur, tướng tổng chỉ huy QĐ Mỹ ở Thái bình dương.
Trước năm 1943, khi mà Liên Xô một mình đương đầu với nước Đức và cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát xít, họ nói theo cách tuyệt đối khác...