Chúng tôi tới Trại Treblinka vào đầu tháng Chín 1944, mười ba tháng sau ngày xảy ra cuộc khởi nghĩa. Đài hành quyết này cũng từng hoạt động trong mười ba tháng. Trong mười ba tháng trời bọn Đức mưu toan tìm cách che đậy giấu vết hoạt động của nó... Không gian yên tĩnh. Ngọn những rặng thông đứng dọc hai bên tuyến đường sắt khe khẽ rung rinh. Cũng những cây thông ấy, những đụn cát ấy, cũng cái gốc cổ thụ ấy từng lướt qua tầm mắt hàng triệu con người khi các toa tàu hàng chở họ chậm chạp chạy ngang. Tiếng tro và than vỡ vụn lạo xạo khe khẽ trên con đường đen, hai bên đường có viền những hòn đá sạch sẽ màu trắng với một sự gọn gàng ngăn nắp đúng kiểu Đức. Chúng tôi tiến vào khu trại, bước trên nền đất Treblinka. Những quả đậu lupine hé vỏ mở tung mỗi khi khẽ chạm vào hay mỗi khi có rung động nhẹ, và hàng triệu hạt đậu vung vãi ra khắp mặt đất. Tiếng rơi của những hạt đậu và tiếng vang lách tách của vỏ đậu vỡ hòa với nhau thành một giai điệu khe khẽ và buồn bã miên man. Dường như từ dưới đất sâu đang ngân lên tiếng vang tang tóc của những chiếc chuông nhỏ, rất khó nghe thấy, buồn thảm, mênh mang và yên bình. Còn mặt đất thì rung rinh dưới bước chân, béo núng nính như chứa đầy dầu luyn – mặt đất không chân của Treblinka đang rung lắc tựa như mặt biển sâu. Khoảng đất trống ấy, xung quanh rào hàng rào thép gai, đã nuốt vào bụng nhiều thân người hơn tất cả số lượng mà biển cả và đại dương đã nuốt kể từ thuở khai sinh của loài người.
Đất đang phun ra những mảnh xương gãy, răng, vật dụng, giấy tờ – đất không còn muốn giữ bí mật nữa.
Và những vật dụng trồi lên khỏi mặt đất nứt rạn, trồi lên từ các vết thương không tài nào lành được của đất. Chúng đây, những chiếc váy lót đã mục gần hết của người đã khuất, quần dài, giầy, hộp đựng thuốc lá đã gỉ xanh, bánh răng đồng hồ đeo tay, dao bỏ túi, chổi cạo râu, giá cắm nến, đôi giày trẻ con đính ngù lông đỏ, khăn mặt thêu lối Ukraina, đồ lót đăng ten, kéo, đê khâu, áo ngực phụ nữ, băng đai. Cách đó một chút trồi lên từ chỗ nứt trên mặt đất là hàng chồng dụng cụ nhà bếp: chảo rán, ca nhôm, tách sứ uống trà, nồi, xoong, chậu, bi-đông, hũ, cốc trẻ con bằng nhựa. Xa hơn một chút, ở chỗ nền đất không chân chương lên, tựa như có bàn tay ai đó đã lôi ra ánh sáng những thứ mà bọn Đức đã chôn vùi, trồi lên mặt đất là những cuốn hộ chiếu Xô-viết đã mủn, mấy cuốn vở có viết chữ Bulgaria, các tấm ảnh chụp những đứa trẻ ở Varsava và Vienna, những bức thư trẻ con nét chữ nguệch ngoạc, một quyển thơ, tờ giấy ngả vàng trên có chép một câu kinh thánh, những tấm phiếu phân phối thực phẩm ở Đức... Và khắp nơi ngổn ngang hàng trăm lọ chai thủy tinh hình bầu nhiều cạnh đựng nước hoa với đủ màu – xanh lục, hồng, xanh lơ... Bao trùm tất cả là cái mùi thối rữa khủng khiếp mà không gì có thể bạt phai được dù là lửa, mặt trời, mưa, tuyết hay gió. Hàng trăm con nhặng rừng nhỏ bò lổm ngổm trên những đồ đạc đã mục rữa phân nửa đó, trên mớ giấy tờ và các bức ảnh.
|