Lúc này trên sân phía trước nhà ga, hai trăm công nhân đeo băng tay màu xanh da trời (“đội da trời”) đang lặng lẽ, nhanh nhẹn, khéo léo mở các túi bị và vali, cởi dây buộc bao gói. Đồ đạc mà nhóm người vừa bỏ lại được phân loại và đánh giá. Vương vãi trên mặt đất những bộ kim len đan được quấn buộc gọn gàng, các cuộn chỉ, đồ lót trẻ em, áo sơ-mi, khăn trải giường, áo thun chui đầu, dao ăn, bộ dao cạo râu, những gói thư từ, ảnh chụp, đê khâu, mấy chai nước hoa, gương soi, mũ trùm đi ngủ, giày păng-túp, ủng valenki may từ cái chăn độn bông dùng khi trời lạnh, dép lê phụ nữ, bít tất dài, dây đăng ten, quần áo ngủ, những gói bơ, cà phê, những lọ ca cao, khăn đội đầu khi hành lễ, giá nến, sách, bánh mì khô, đàn viôlông, đồ chơi xếp hình của trẻ con. Cần có những kỹ năng để chỉ trong vòng vài phút có thể phân loại hàng nghìn đồ vật ấy và định giá chúng – chọn ra những thứ để gửi về Đức, những thứ còn lại, đồ hạng hai, cũ hoặc đã bị sửa chữa – sẽ phải đốt đi. Vô phúc cho công nhân nào làm sai, bỏ một chiếc vali đã cũ làm bằng các-tông giả da vào đống đồ da được chọn để gửi đi Đức, hay ném vào đống bít tất cũ đã đan vá một đôi tất Paris còn nguyên tem của hãng sản xuất. Mỗi công nhân chỉ có thể mắc sai lầm được một lần. Đến lần thứ hai thì anh ta không còn cơ hội mắc thêm sai lầm nào nữa. Có bốn mươi tên SS và sáu mươi Wachmänner làm “công tác vận chuyển”, từ mà ở Treblinka dùng để gọi cái giai đoạn đầu tiên chúng ta vừa mô tả: tiếp nhận đoàn tàu, đưa đoàn người vào “nhà ga” và ra sân, giám sát các công nhân phân loại và định giá đồ đạc. (Phần lớn các báo cáo cho rằng công việc tại Treblinka được điều hành bởi khoảng 25 tên SS và 100 lính gác Wachmänner người Ukraina, tuy vậy có một số báo cáo khác giống như phóng sự của Grossman có lẽ đã tính luôn số lính gác trên tàu hỏa không thuộc biên chế trại Treblinka). Khi làm công việc này, các công nhân thường bí mật bỏ mồm những miếng bánh mì, đường hay kẹo tìm thấy trong các gói thức ăn. Điều đó là không được phép. Tuy nhiên được phép sau khi kết thúc công việc rửa tay và mặt bằng Eau de cologne và nước hoa vì nước ở Treblinka không đủ, chỉ có bọn Đức và Wachmänner được dùng nước để rửa ráy. Và khi những con người, lúc này vẫn đang còn sống, chuẩn bị bước vào “nhà tắm” thì đồ đạc của họ đã được xử lý xong – những đồ có giá trị được đưa vào kho, còn thư từ, ảnh chụp trẻ con mới sinh, anh em trai, cô dâu trước đám cưới, lễ kỷ niệm đám cưới vàng, tất tật hàng ngàn thứ quý báu, vô cùng quý giá với người sở hữu chúng nhưng chỉ là rác rưởi với những kẻ sở hữu Treblinka, sẽ được chất đống và chở đi đổ trong những cái hố khổng lồ, nơi đã có sẵn hàng trăm ngàn thư từ, bưu thiếp, danh thiếp, ảnh chụp, những mảnh giấy đầy nét vẽ trẻ con nguệch ngoạc tương tự. Bãi sân sau đó vội vã được quét dọn để lại sẵn sàng tiếp nhận một đoàn người mới đi đến cõi chết.
Nhưng mọi việc không phải bao giờ cũng diễn ra như vừa mô tả. Có những trường hợp khi tù nhân biết được mình sắp đi tới đâu, bạo loạn đã nổ ra. Bác nông dân Skrzeminski đã chứng kiến có hai chuyến tàu mọi người phá được cửa toa, thoát ra, quật ngã lính gác và chạy về phía rừng. Trong cả hai vụ tất cả bọn họ đều bị giết đến người cuối cùng bằng súng tiểu liên. Đám đàn ông cắp theo bốn đứa trẻ tuổi từ bốn đến sáu, và tất cả những đứa bé ấy đều bị bắn chết. Nữ nông dân Mariana Kobus cũng kể về nhiều vụ nổi loạn chống lính gác tương tự. Có lần, khi bà đang làm việc ngoài đồng, chính mắt bà đã thấy sáu mươi người bị giết chết sau khi đã chạy được từ tàu hỏa tới khu rừng.
Nhưng giờ đoàn người đã bước đến một cái sân khác, nằm bên trong vòng rào thứ hai của trại. Trên sân có một cái lán khổng lồ, phía tay phải có ba cái lán nữa, hai cái trong số đó để chứa quần áo, cái thứ ba chứa giày dép. Cạnh đó, ở khu vực phía tây là dãy lán của bọn SS, lán của đám Wachmänner, kho lương thực, một khu trại chăn nuôi, có đậu những ôtô con, xe tải và một xe bọc thép. Ấn tượng giống như một khu trại thường, như Trại Số 1 chẳng hạn.
|