Cuộc sống trong trại là vậy đó, na ná như một Maidanek thu nhỏ, và ta có thể nghĩ rằng không thứ gì trên thế giới này đáng kinh sợ hơn thế. Nhưng những người sống ở Trại Số 1 biết rất rõ rằng có nơi còn khủng khiếp hơn nhiều, đáng sợ gấp hàng trăm lần, so với khu trại của họ. Tháng Năm năm 1942, cách trại lao động này ba cây số bọn Đức bắt tay vào xây dựng Trại Do Thái, khu trại hành hình. Việc xây dựng được thực hiện nhanh chóng, với hơn một ngàn người tham gia lao động. Trong trại này không có thứ gì phù hợp cho cuộc sống, tất cả đều phù hợp cho cái chết. Sự tồn tại của trại này cần phải, theo dự tính của Himmler, giữ được trạng thái bí mật tột cùng, không một kẻ nào lọt vào lại được phép sống sót thoát ra. Không một ai được phép đến gần trại, dù có là thống chế chăng nữa. Lính gác bắn chết bất cứ khách qua đường nào vô tình lọt vào bán kính một cây số quanh trại không cần cảnh cáo. Máy bay Đức cả dân dụng lẫn quân sự đều bị cấm bay qua khu vực ấy. Những nạn nhân, bị chở tới đây bằng tàu hỏa đi theo tuyến đường sắt đặc biệt, tới giây phút cuối cùng cũng không hề biết số phận nào đang chờ đợi mình. Lính canh đi theo trên tàu thậm chí không được phép đến gần hàng rào trại. Khi đoàn tàu đến nơi, lính gác bàn giao cho đơn vị SS của trại. Đoàn tàu, thường gồm có sáu mươi toa, ngay từ khi còn ở trong rừng chưa vào trại được chia ra thành ba phần, và đầu tàu lần lượt đẩy từng hai mươi toa một đến sân ga của trại. Đầu tàu chỉ đẩy từ phía sau toa và dừng lại ở chỗ hàng rào thép gai, sao cho cả thợ lái lẫn thợ đốt lò đều không lọt vào phạm vi trại. Khi các toa đã dỡ hàng xong, gã SS Unteroffizier (hạ sĩ quan SS) trực nhật sẽ thổi còi gọi hai mươi toa kế tiếp đang đợi cách đó hai trăm mét. Khi tất cả sáu mươi toa đã dỡ sạch hàng, tên Kommandantur (trưởng trại) sẽ điện thoại cho nhà ga để đưa đến đoàn tàu khác, còn đoàn tàu vừa dỡ hàng sẽ rẽ nhánh về bãi khai thác cát, tại đó các toa sẽ được chất đầy cát và trở về ga Treblinka rồi Malkinia để lấy đợt hàng mới.
Đến đây ta cần nhắc tới ưu thế vốn có của Treblinka: có thể chở nạn nhân bằng tàu hỏa tới từ bốn phương đông tây nam bắc khắp đất nước. Tàu đến từ các thành phố Ba Lan Varsava, Mendzyjetsa, Chenstokhova, Sedletsa, Radom (Warszawa, Międzyrzecze, Częstochowa, Siedlce, Radom), từ Lomza, Bielostok, Grodno và nhiều thành phố Belorussia khác, từ Đức, Tiệp Khắc, Áo, Bulgaria, từ Bessarabia. (Ngày nay Łomża và Białystok thuộc Ba Lan, còn Grodno thuộc về Belorussia. Bessarabia trước năm 1940 thuộc Rumania, sau Thế Chiến thứ II thuộc Cộng hòa Moldavia trong thành phần Liên bang Xô viết.)
Tàu đi tới Treblinka đều đặn suốt mười ba tháng trời, mỗi đoàn tàu có sáu mươi toa, trên mỗi toa có viết bằng phấn ghi con số 150-180-200. Đó là những con số cho biết số lượng người đi trong toa. Nhân viên đường sắt và các nông dân bí mật đếm những đoàn tàu ấy. Bác nông dân sáu mươi hai tuổi làng Vulka (làng Vulka - Ba Lan là Wólka - là điểm dân cư ở gần trại nhất) Kazimierz Skarzunski đã kể cho tôi rằng không ngày nào là không có tàu đến, rằng một số ngày chỉ tính riêng từ hướng Sedletsa thôi đã có đến sáu chuyến tàu đi ngang qua làng Vulka, và gần như không có ngày nào trong suốt mười ba tháng trời không có ít nhất một chuyến tàu đi ngang. Vậy mà tuyến từ Sedletsa chỉ là một trong bốn tuyến đường sắt đưa tới Treblinka. Nữ công nhân bảo trì đường sắt Lucjan Żukowa, được bọn Đức huy động để làm việc trên tuyến chính từ Treblinka tới Trại Số 2, đã kể rằng trong thời gian cô làm việc từ 15 tháng Sáu 1942 cho tới tháng Tám 1943, trên tuyến từ ga Treblinka tới trại mỗi ngày có từ một tới ba chuyến tàu. Mỗi chuyến tàu có sáu mươi toa, mỗi toa có không dưới một trăm năm mươi người. Chúng tôi đã tập hợp được hàng chục lời khai như vậy. Thậm chí nếu chúng ta giảm phân nửa con số do những nhân chứng này cung cấp, chúng ta vẫn nhận thấy có khoảng hai triệu rưỡi cho đến ba triệu người bị đưa tới Treblinka trong vòng mười ba tháng đó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ quay trở lại con số này. (Theo ước tính của Trung tâm Simon Wiesenthal có khoảng 876.000 người đã bị giết tại Treblinka. Con số này bao gồm 738.000 người Do Thái từ vùng lãnh thổ Ba Lan bị Đức chiếm đóng, trước hết là từ các khu người Do Thái ở Warszawa; 107.000 người từ Białystok; 29.000 người Do Thái từ các nơi khác của châu Âu; và 2.000 người Digan. Lý do con số ước lượng của Grossman quá lớn so với thực tế rất đơn giản: ông đã đúng về số lượng toa là 60 cho mỗi đoàn tàu nhưng có vẻ đã không tính đến chuyện chiều dài nhà ga trong trại quá ngắn cho chúng. Các đoàn tàu đã phải dừng ở vài chỗ để cắt lại một số toa và mỗi lần chỉ có một phần đoàn tàu đi vào ga, tức là không phải có 5 đoàn tàu với 60 toa đến trại mỗi ngày mà mỗi đoàn tàu được chia làm 5 phần.)
|