Quay trở lại câu chuyện nhà luyện kim Nga P. P. Anosov đã khám phá ra phương pháp luyện kim cổ đại của người Trung Đông. Được biết đến như huyền thoại lưỡi kiếm Damask.
“Дамасская сталь”, hay thép Damask đã quá nổi tiếng hàng thế kỷ bởi những lưỡi kiếm có độ sắc và cứng rắn dẻo dai, lại có thể uốn cong của nó. Không những thế, xung quanh lưỡi kiếm này là cả những đồn đại mang màu sắc tâm linh huyền bí cho đến tận ngày nay, ngay cả khi bí mật của nó đã được khám phá.
Những lưỡi dao, lưỡi kiếm Damask được làm bằng thứ thép trắng, không bị gỉ và trên đó có những vân hoa sáng óng ánh dưới ánh sáng mặt trời rất đẹp. Vào thời của những đạo quân
“thập tự chinh châu Âu” người ta chỉ biết có đến thế. Lúc đó, kiếm của đạo quân thập tự chinh, mệnh danh đi khai hóa văn minh cho dân phương Đông lạc hậu man di mọi rợ được làm bằng thứ thép mềm và yếu kém, ở một trình độ kỹ thuật lạc hậu hơn hẳn của người phương Đông. Đạo quân thập tự chinh đã quá kinh hoàng bởi những lưỡi kiếm cong Damask chặt đứt phăng cả thép mà không hề bị sứt mẻ. Huyền thoại thép Damask hay lưỡi kiếm Damask mang màu sắc tâm linh tà thuật từ đó theo chân đạo quân thập tự trinh quay trở lại châu Âu.

Thanh kiếm Damask được khoác sắc màu huyền bí tâm linh, tà thuật lại là một cách dễ dàng để che giấu sự lạc hậu, không thể tin nổi người phương Đông lúc đó lại có kỹ thuật hơn hẳn châu Âu. Cho đến tận thể kỷ 20, ngay cả khi nhân loại đã có khoa học hiện đại, thì các nhà sử học, khảo cổ học phương Tây vẫn không mấy khi nhắc đến huyền thoại Damask. Cũng như bao nhiêu văn minh tiến bộ, phát minh sáng chế khác mà châu Âu đã thu thập từ phương Đông trong quá trình “thập tự chinh”, ngày nay đều bị cố tình lờ đi.
Nhưng không chỉ riêng người Damask, kỹ thuật luyện thép tốt đã lan ra khắp phương Đông, Trung Á, đến tận Ấn Độ, chúng chỉ là bí mật đối với đạo quân xâm lược. Ngày nay, người ta biết
cây cột thép Delhi huyền thoại đã 1600 năm tuổi vẫn đứng sừng sững không hề hoen gỉ.
Chúng ta học, thấy lịch sử được chia thành các giai đoạn, đó là một cách để dễ nhớ về các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, đồ sắt… Vào lúc châu Âu vẫn đang cổ lỗ lạc hậu, người Trung Đông đã dùng đồ sắt chất lượng cực tốt từ rất lâu rồi. Mặt khác, thép (hợp kim của sắt) chứ không phải sắt mới là cơ sở để bùng nổ khoa học kỹ thuật ở châu Âu thế kỷ 18, 19. Phương Tây hay lấy máy hơi nước của James Watt làm tượng đài Công nghiệp, ít ai biết rằng thứ đồ chơi bằng hơi nước của trẻ con còn có trước máy của James Watt rất lâu. Cũng ít ai biết được, không có thép sẽ chẳng có nền công nghiệp nào cả, không có thép tốt, sẽ chẳng có công nghệ cao nào cả. Không hiểu đối với họ, thép là tượng đài gì?
Những công xưởng cho ra đời những mẻ thép tốt chẳng bao giờ tính đếm sản lượng bằng ngàn tấn, vạn tấn.
Vậy ông Anosov đã khám phá ra những gì?
Ông phát hiện ra phương pháp làm ra loại thép đó của người Đa-mát vào khoảng cuối thập kỷ 1820, rất đơn giản nhưng người châu Âu mất hàng thế kỷ không hiểu nổi. Khám phá của ông xua tan nhưng hoang đường đồn đại về lưỡi kiếm Damask, đưa ra cách nhìn nhận nó theo quan điểm khoa học hiện đại và làm cho các công xưởng Nga có được loại thép tốt để sản xuất vũ khí.
Người Đa-mát đã nấu gang, thép trong các lò thủ công, cũng như người châu Âu khi đó, nhưng công đoạn sau thì hoàn toàn khác, dĩ nhiên, thiên nhiên ưu đãi giúp họ có những nguồn quặng tốt, ít tạp chất có hại, họ cũng biết cách đốn gỗ, ủ lấy thứ than củi tinh khiết chứ không dùng than đá để nấu thép. Những mẻ sắt non nấu ra được họ mang ra rèn mỏng, gập lại, rồi lại đưa vào lò nung ủ đỏ. Cứ như thế lặp lại hàng trăm lần. Dấu vết của những lần gập để lại thành hoa văn trên thân kiếm. Bản chất của quá trình đó, là quá trình thấm các-bon vào bề mặt thép, việc dát mỏng và gập lại rồi nung nhiều lần, làm cho lớp thấm cuộn vào trong. Quá trình tôi sau cùng, các lớp thép giàu hợp kim các-bon hình thành cấu trúc Cementite cứng rắn hòa lẫn trên nền thép Austenite mềm hơn khiến lưỡi kiếm vừa sắc vừa uốn được mà không bị dòn, dễ gãy vỡ.
Rất đơn giản nhưng là bí mật hàng thế kỷ ở châu Âu.