Tôi viết thêm những dòng này, dường như tôi cảm thấy vơi đi ký ức những ngày gian khổ, ác liệt mà tôi đã chứng kiến. Nhưng trên hết là tri ân những người đã ngã xuống.
Ngày 2/5/1968 là ngày tôi nhập ngũ. Tất cả những người lên đường đợt ấy là quân của Bộ Văn hóa. Sáng hôm ấy tất cả tập trung tại 51-53 Ngô Quyền Hà Nội, rồi lên xe, các xe ca lượn quanh Hồ Hoàn Kiếm 2 vòng để các chiến sỹ mới tạm biệt Hà Nội. Rồi những ngày huấn luyện trên Hòa Bình và sau đó hơn 2 tháng ròng rã đi bộ dọc Trường Sơn. Mỗi người mỗi ngả, tôi được điều về đơn vị cối của một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 270 đặc khu Vĩnh Linh. Ngày ấy, Vĩnh Linh là đặc khu chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Trung ương, mà Trung đoàn 270 là chủ lực bảo vệ Vĩnh Linh và “chia lửa” trực tiếp với bờ Nam sông Bến Hải. Trung đoàn do đại tá Hoàng Đượm làm tư lệnh trưởng, thiếu tá Vũ Kỳ Lân (chồng của nghệ sĩ Mai Châu – đóng phim) làm chính ủy. Một thời gian ở bộ binh, tôi được điều về làm trinh sát pháo binh Ban pháo Trung đoàn, rồi lại về làm pháo thủ pháo mặt đất 85 ly. Quanh đi quẩn lại chỉ Vĩnh Linh và huyện Gio Linh (bờ Nam).
Ngày ấy (1968-1972) Vĩnh Linh chủ yếu đi dưới chiến hào và sống trong hầm chữ A.
Chưa ở đâu như trên đất Vĩnh Linh, hàng ngày giữa thanh thiên bạch nhật, mọi người được “ngắm” máy bay Mỹ B52 rõ mồn một và căm tức chúng, cũng như cứ chiều chưa tối hẳn nhìn lên miền tây (nơi con đường huyết mạch vào Nam), như một ông nhà đèn cần mẫn đến giờ bật điện, 365 đêm không sót đêm nào, pháo sáng Mỹ lại giăng sáng cả một vùng trời. Đúng là Mỹ cực giàu!
Có một điều đau xót mà tôi không thể nào nguôi được khi chứng kiến một trận hủy diệt theo đúng nghĩa của nó. Chỗ tôi đứng là một gò đồi cao, cách trận địa đại đội pháo cao xạ của Trung đoàn không xa. Đó là lúc trời đã quá trưa, máy bay Mỹ đến oanh tạc, pháo ta nổ giòn giã, nhưng chỉ được khoảng 10 phút. Ngay sau đó, pháo từ Hạm đội 7 ngoài biển bắn vào, pháo từ Dốc Miếu (bờ Nam Bến Hải) bắn sang, bom từ trên máy bay giội xuống. Trong nháy mắt tất cả là bình địa.
Khi tôi còn trên Ban pháo trung đoàn, vào một đêm tôi được lệnh cùng một chiến sỹ nữa xuống Cửa Tùng để cáng thương binh. Người mà chúng tôi cáng là một chiến sỹ đặc công nước vừa đánh trận ở cảng Cửa Việt. Anh bị cụt một chân, trong đêm tối không nhìn rõ mặt anh, chỉ cảm nhận anh có thân hình chắc nịch. Ngày ấy, tôi gầy yếu và “thanh mảnh” lắm, cân nặng 38kg, chứ không như Hongducanh chỉ mỗi 53 ký đâu. Hai thằng khiêng cáng đi dưới giao thông hào, vừa đi vừa hỏi người bị thương. Anh nói quê anh ở Thanh Hóa, có vợ và một con. Anh kể rõ trong ba lô có gì, linh tính mách bảo tôi nghĩ sẽ có chuyện chẳng lành. Hơn 10km từ Cửa Tùng đến bệnh viện dã chiến của Trung đoàn, chúng tôi chuyển anh cho bệnh viện và về đơn vị. Trời sáng rõ, chúng tôi nhận tin dữ từ bệnh viện người lính ấy đã ra đi mãi mãi.
Ngày ấy ở Vĩnh Linh không có bóng một trẻ thơ (toàn bộ các cháu được sơ tán, chủ yếu ra huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An), chỉ còn nam thanh nữ tú gia nhập du kích, nhiều ông bố, bà mẹ quyết xin ở lại chiến đấu không chịu đi sơ tán. Nhiều lính đánh trận trong Nam còn sống ra đến bờ sông Bến Hải vẫn còn hãi. Đây là lúc cái chết đến thường xuyên và bất chợt hơn lúc nào hết. Các bến vượt sông đều đã vào vòng ngắm của những người bên kia chiến tuyến. Chỉ một quả pháo từ Cồn Tiên hay Dốc Miếu bắn tới thì thôi rồi Lượm ơi.
Năm 1972, năm mà Mỹ ném bom bắn phá trở lại, tất cả những gì trước đây Mỹ chưa phá nổi, nay nhờ công nghệ lase Mỹ đã thực hiện phá được. Trước đây, duyên hải khu 4, nghe tiếng đạn pháo từ Hạm đội 7 bắn vào đã ghê. Nay, để tránh tầm bắn hiệu quả của pháo binh ta, Mỹ cải tiến công nghệ, gọi là pháo tăng tốc (dạng tên lửa đẩy – ý của MX), khi bắn, giờ đây ta còn nghe được tiếng nổ thứ hai, đó là lúc đạn pháo được đẩy xa hơn.
Năm 1972, Trung đoàn tôi bố trí một trận địa pháo ở sát địa đạo Vĩnh Mốc. Lúc đó nhìn qua kính viễn vọng của đài chỉ huy, tầu của Hạm đội đội 7 cứ như trêu ngươi, vì nhờ đạn tăng tốc, nên mình cũng khó mà vươn tới được bắn cho chính xác.
…
Bây giờ ngồi nghĩ lại cứ miên man nhớ và viết lại đôi dòng…
|