Quân đội Xô Viết đă giải phóng Rumani, Bulgari, Hungari, Tiệp Khắc, phần lớn lănh thổ Nam Tư, một phần Hy Lạp, Ba Lan, Đức, Đan Mạch, đảo Bô-ri-hôm, Bắc Na Uy và gây áp lực để Phần Lan rút ra khỏi cuộc chiến mà không bị tàn phá. Trong khi thực hiện sứ mạng của ḿnh, Liên Xô đă mất gần 69 nghì́n quân ở Rumani, 600 nghì́n ở Ba Lan, 8 nghì́n ở Nam Tư, 140 ngh́ìn ở Tiệp Khắc, hơn 140 nghì́n ở Hungari, gần 26 nghì́n tại Áo, 102 ngh́ìn tại Đức,… không chỉ bảo vệ Tổ Quốc, Liên Xô c̣n cứu cả châu Âu khỏi thảm họa phát xít, khỏi nguy cơ bị tiêu diệt theo nghĩa đen.
Cọ̀n về những đồng minh trực tiếp tham gia cuộc chiến chống phát xít th́ì sao, cụ thể là Anh và Mỹ. Khi giáo sư Mai-cơn Đê-vít thuộc trường ĐH tổng hợp California ở Mỹ mới đây ra cho sinh viên một câu hỏi là: người Nga chiến đấu phe nào th́ì đa số cho rằng “có lẽ ở phe phát xít” Mọi cố gắng của vị giáo sư này để giải thích thoạt đầu chỉ làm cho sinh viên nghi hoặc và phản ứng. Theo lời giáo sư thì́ người Mỹ không khi nào muốn thừa nhận công lao của Liên Xô trong cuộc chiến này và khó hiểu cũng như tiếp thu một sự thật là Mỹ và Liên Xô từng là đồng minh chứ chưa nói đến việc Hồng Quân đă hy sinh như thế nào để cứu lấy bao nhiêu triệu sinh mạng ở riêng châu Âu. Minh chứng là trong chiến dịch giải phóng Măn Châu, lúc Hồng Quân chưa tấn công th́ì không quân Mỹ chỉ thả bom xuống các khu vực dân cư, hầu như không đụng chạm đến các cơ sở quân sự, c̣òn khi Hồng Quân bắt đầu nổ súng tấn công thì́ bom đạn Mỹ lại trút xuống các cơ sở công nghiệp nơi mà Hồng Quân sắp chiếm được.
Theo quan điểm tư tưởng thời chiến tranh lạnh kéo dài hàng chục năm thì́ hì́nh ảnh Liên Xô trong con mắt dân chúng phương Tây chỉ là “lănh tụ độc tài” Xtalin, các tướng lĩnh bất tài, dân chúng sẵn sàng chấp nhận ách nô lệ. Một đất nước như vậy không thể đóng vai trọ̀ quyết định trong việc đánh bại chủ nghĩa phát xít. Vọ̀ng nguyệt quế chiến thắng phải thuộc về các nước Phương Tây chỉ vì́ họ đă là “những nước dân chủ”, chứ không phải là “thành tŕ của chủ nghĩa độc tài” như Liên Xô. Trong cuốn sách lịch sử quân đội Mỹ viết về Liên Xô như sau “sự đóng góp của Liên Xô đă bị cường điệu hóa, bởi v́ ở phía Đông chiến tranh chỉ diễn ra trên một mặt trận trên bộ, trong khi ở phía Tây phe đồng minh đă chiến đấu cả trên không, trên biển, trên bộ.” Thật sự th́ì vào thời điểm năm 1944 chỉ một mặt trận Xô - Đức đă gấp bốn lần tất cả các mặt trận mà đồng minh Anh-Mỹ cộng lại. Tại mặt trân phía Đông có 201 sư đoàn quân Đức đồng thời tham chiến, trong khi chỉ có từ 2-21 sư đoàn chống cự lại liên quân Anh-Mỹ tại mặt trận phía Tây. Tại Tây Âu, quân đồng minh có 1,5 triệu người, quân Đức là 560 nghì́n. Trong khi đó tại Xô – Đức, quân số của Đức là 4,5 triệu và có 6,5 triệu quân Xô Viết chiến đấu. Quân Đức đă chịu tổn thất lớn nhất trong các trận chiến với Hồng Quân, tại đó Đức mất 70% quân số và 75% tổng số các phương tiện kỹ thuật như xe tăng, máy bay, pháo,…
Không chỉ chiến đấu chống lại phát xít Đức, vai trọ̀ của Liên Xô trong sự sụp đổ của nước Nhật quân phiệt cũng là rất quan trọng. Mùa hè 1945, lực lượng vũ trang của Nhật c̣n hơn 7 triệu ( lục quân 5,5 và hải quân là 1,7) Chúng c̣n có 10 ngh́ìn máy bay, hơn 500 tàu chiến. Việc sản xuất vũ khí vẫn tiếp tục và các trận địa của chúng ở Măn Châu và Nhật Bản vẫn cọ̀n nguyên vẹn. Tại Măn Châu, Nhật bổ trí lực lượng dự trữ mạnh nhất, tinh nhuệ nhất của cả quân đội – đội quân Quan Đông cùng với hệ thống pḥòng thủ kiên cố được dày công xây dựng trong nhiều năm trước. Tại Măn Châu, Triều Tiên, Nam Xakhalin và quần đảo Curin, Nhật có 7 tập đoàn quân dã chiến, hai tập đoàn không quân, 42 sư đoàn và 23 lữ đoàn xe tăng, tổng cộng là 1,2 triệu người. Lực lượng này được trang bị 1215 xe tăng, 6640 pháo và cối, 1907 máy bay, 26 chiến hạm với hệ thống căn cứ quân sự vô cùng kiên cố gồm hơn 20 căn cứ không quân, 133 sân bay, hơn 200 băi hạ máy bay, 17 khu pḥng ngự lớn, tổng cộng chiều dài các tuyến pḥòng ngự dọc biên giới Liên Xô là 800 km với hơn 4500 hầm ngầm kiên cố. Liên Xô tuyên chiến với Nhật từ ngày 9-8-1945 là để bảo vệ lănh thổ miền Đông Tổ Quốc, lập lại chủ quyền của Liên Xô với những vùng đất bị Nhật chiếm đóng trước đây, để giải phóng các dân tộc châu Á khỏi ách thống trị của giới quân phiệt Nhật, sớm kết thúc chiến tranh và lập lại ḥa b́nh thế giới. Cuộc chiến của Liên Xô chống Nhật là một bộ phận cấu thành của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết đồng thời cũng là một bộ phận không thể tách rời khỏi cuộc chiến tranh chống phát xít. Các nước Đồng Minh lộ rơ vui mừng khi được tin Liên Xô tuyên chiến với Nhật v́ gánh nặng chiến tranh sẽ được giảm đi rất nhiều. Chính phủ Mỹ một mặt hoan nghênh sự kiện trên một mặt sợ rằng sau khi tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật th́ì uy tín của Liên Xô sẽ được nâng cao tác động tới phong trào cách mạng thế giới cho nên nhằm hạ thấp vai tṛò của Liên Xô, Mỹ đă ném 2 quả bom nguyên tử xuống lănh thổ Nhật. Không ai phủ nhận vai tṛ của Mỹ nhưng xét một cách khách quan th́ì vai trọ̀ của Mỹ quan trọng từ năm 1943 – sau khi kết cục tất yếu tại chiến trường châu Âu đă hiện rơ sau chiến thắng Xtalingrad. Năm 1944 Mỹ chiếm đảo Xaipan với một tổn thất không nhỏ và đầu năm 1945 Mỹ đă nhận ra rằng phải chịu tổn thất như thế nào khi chiến đấu với quân Nhật trên đất Nhật dù lúc này 1/3 không quân và 1/2 lục quân Nhật vẫn đang ở lục địa châu Á đối diện Liên Xô. Mỹ - Anh phải dự định tiến hành đánh Nhật Bản bằng nhiều chiến dịch và riêng Mỹ phải huy động 7 triệu quân, trong đó hy sinh 1 triệu và chiến sự chưa thể kết thúc trước năm 1947. Đó là Mỹ - Anh chưa kể đến trường hợp đội quân Quan Đông được rút về lãnh thổ Nhật. Tổng thống Truman, người không mấy thiện cảm với Liên Xô cũng phải thừa nhận rằng : “việc nước Nga tham chiến là hết sức cần thiết. Điều đó có nghĩa là họ cứu hàng trăm ngh́ìn sinh mệnh của nước Mỹ”.
Vào thời điểm hè 1945, mọi cố gắng cuối cùng của quân phiệt Nhật trông cậy vào đội quân Quan Đông – cái xương sống của lục quân Nhật Bản. Như đất sự dưới chân, đội quân tinh nhuệ bậc nhất ấy đă bị Liên Xô giáng cho những đ̣n sấm sét, chỉ trong 10 ngay phải hạ vũ khí đầu hàng. Tuy nhiên sau này, ở phương Tây lại tuyên truyền Mỹ là nguyên nhân nhất định, thậm chí là nguyên nhân duy nhất đánh đổ nước Nhật quân phiệt. Đó là sự phủ nhận lịch sử. Giới tuyên truyền tư sản phương Tây thường liên kết các sự kiện như Mỹ cho thả 2 quả bom nguyên tử, việc tướng Mỹ Mác Áctơ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật , việc một ḿnh Mỹ chiếm đóng Nhật,… thành một chuỗi và kết luận là: việc đánh bại nước Nhật chủ yếu là do công lao của Mỹ. Cũng không phải không có dụng ư khi người ta ít nói “cuộc chiến tranh Châu Á Thái B́nh Dương” mà nói gọn là “chiến tranh Thái B́nh Dương”. Khi nói gọn thế người ta hay liên tưởng đến chiến sự diễn ra trên Thái B́nh Dương mà quên đi trận chiến quyết định số phận của nước Nhật trên đất Măn Châu.
__________________
:emoticon-0171-star:Có Những Phút Làm Nên Lịch Sử
:emoticon-0171-star:Có Cái Chết Hóa Thành Bất Tử
:emoticon-0171-star:Có Những Lời Hơn Mọi Lời Ca
:emoticon-0171-star:Có Con Người Như Chân Lý Sinh Ra
|