Trong suốt những năm tháng qua, những bài học rút ra từ cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, từ chiến thắng vĩ đại này cũng như ý nghĩa quan trọng của nó vẫn tươi mới và còn nguyên giá trị
Liên Xô trong cuộc chiến đấu này đă chịu đựng nhiều hi sinh với tổn thất 27 triệu người ngã xuống. Song vai tṛò lịch sử và quyết định của nhân dân và quân đội Liên Xô trong chiến thắng phát xít không phải lúc nào cũng được nh́ìn nhận 1 cách đúng đắn và công bằng. Thậm chí ngay tại nước Nga này nay cũng có nhiều quan điểm và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng mang tư tưởng phê phán, ví dụ như cho rằng những tổn thất to lớn đó là “không ǵì biện hộ được”, rằng những nhà quân sự dẫn dắt quân đội Xô Viết như Zhukov, Chuikov,… cần phải bị lên án v́ì đă tiến hành “những biện pháp chiến tranh khốc liệt, gây bao đổ máu và chết chóc”. Ngay cả việc dựng lại tượng Xtalin, cái tên mà trong những năm tháng chiến tranh luôn vang bên tại từng người lính Xô Viết cùng với từ Tổ Quốc nay cũng không được hưởng ứng tại Nga, ngoại trừ tại thành phố Vongagrad trước đây từng mang tên ông. Hay gần đây là việc di dời tượng đài chiến sĩ Hồng quân…
Thế hệ trẻ ngày nay tại nước Nga bị hoang mang trước những đánh giá khác nhau về một trong những sự kiện vĩ đại nhất của dân tộc. Một phần cũng v́ trong thời kỳ Xô Viết đề tài chiến tranh phần nhiều chỉ được mô tả và tuyên truyên ở khía cạnh anh dũng và chiến thắng mà ít đề cập đến những tổn thất và mất mát, thậm chí một số bước đi sai lầm hay một số sự kiện không tích cực c̣òn bị bưng bít. Cho đến khi Liên Xô tan rã th́ì tại Nga đă có một thời kỳ được các nhà phân tích Nga đánh giá là hỗn loạn và khủng hoảng cả về lĩnh vực tư tưởng và thông tin. Việc khai thác và công bố tràn lan các tài liêu mật hay chỉ đơn giản là những sự kiện ít được nhắc đến trong chiến tranh đă làm lệch hướng suy nghĩ của rất nhiều độc giả. Cùng với những biến đổi sâu sắc trên trường quốc tế và tì́nh trạng suy thái kinh tế và xã hội trong nước, giới trẻ Nga ngày nay không mấy quan tâm đến vấn đề “chúng ta đă chiến thắng như thế nào” , mà lại không hiểu “V́ sao những người chiến thắng là chúng ta giờ đây lại có cuộc sống khổ cực hơn phía bại trận nhiều lần” Đây thực sự là một câu hỏi khó, mà có lẽ để trả lời cần phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử của nước Nga từ trước đến giờ ( Nên nhớ rằng trong thời kỳ huy hoàng của mì́nh – thập niên 60,70 TK 20 – Liên Xô chiếm đến 1/3 số bằng phát minh của thế giới).
C̣n những cựu chiến binh Nga cho dù 60 năm đă qua hay lâu hơn thế nữa vẫn một ḷng kiên trung và đồng ḷòng khẳng định rằng chính sức mạnh hùng hậu toàn dân tộc, ḷòng yêu nước và niềm tin son sắc vào lẽ phải, vào chính nghĩa của cuộc chiến tranh Vệ quốc đă giúp nhân dân Xô Viết đứng vững và chiến thắng trong những năm tháng khốc liệt ấy.
Giờ đây tại một số nước từng thuộc Liên Bang Xô Viết trước đây đang công khai lên án chế độ Xô Viết, cho rằng chiến thắng phát xít đối với họ không phải là một sự giải phóng mà là thay thế ách thống trị này (phát xít) bằng 1 ách thống trị khác (Xô Viết). Họ quên rằng nếu không có chiến thắng phát xít th́ì tất cả các dân tộc châu Âu – kể cả họ đã bị tiêu diệt. Chỉ riêng tại trại tập trung Aushwits – Ba Lan thôi, số người bị chết đă lớn hơn toàn bộ dân số Albani hồi đó, mà nên nhớ rằng đó chỉ là 1 trong khoảng 30 trại tập trung của phát xít Đức. Trong thời gian tồn tại từ tháng 6-1940 đến tháng 1-1945, theo con số chính thức đã có hơn 1,2 triệu người chết (1 nguồn tin khác là 4 triệu người) bằng những h́ình thức man rợ của phát xít ( như là giết tập thể bằng hơi độc; khổ sai cách trại 6-7 km và phải đi bộ đến đó làm việc cật lực trong 12h, ăn uống thiếu thốn, đánh đập dă man,…; ghê tởn hơn là bọn phát xít nạy răng vàng của người đã chết, đem nấu rồi nộp lên Tổng bộ Đảng Quốc Xă, lấy thân nạn nhân làm xà phọ̀ng, da làm găng tay làm chụp đèn, lấy tóc làm nệm. Phần thi thể c̣òn lại chúng cho vào ḷ thiêu. Một số tù nhân bị đem ra làm vật thí nghiệm cho các nghiên cứu điên rồ của những tay bác sĩ “tử thần”,…). Trong số người chết tại trại này thì́ hơn một nửa là người Do Thái, c̣òn lại thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ngoài hàng chục trại tập trung lớn ra, phát xít Đức cọ̀n có gần một ngh́ìn phiên hiệu khác tại nhiều nước, hoạt động như những cỗ máy giết người: như trại Tơ-rô-sti-nép-xki gần Minks (200 ngh́n người chết), Ia-nốp-xki ở ngoại ô thành phố Lơ-vốp (200 ngh́n), trại Xa-la-xpin-xki gần Riga (100 ngh́n), trại Đau-hap-pin-xơ (160 ngh́n) và nhiều trại tập trung khác của Đức trên lănh thổ Áo và Đức, nơi có hơn 18 triệu người bị giam cầm và hành hạ, trong đó hơn 11 triệu người bị chết – chưa kể con số bị chết trên đường áp tải đến các trại này (cũng là một con số khổng lồ).
Như lời đại tướng Phi-lip Bốp–cốp, người đă trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc thì́ trong cuốn Đời Tôi, Hitler đă đưa ra học thuyết “chiếm giữ những vùng đất mới, tiêu diệt dân bản địa để đưa tới đó những người thuộc chủng tộc Đức thuần khiết”. Trong một cuộc họp, trùm phát xít – lănh đạo SS Himler đă nói thẳng rằng một trong những nhiệm vụ của cuộc hành quân sang phía Đông là tiêu diệt 30 triệu người Xlavơ.