Trích:
nqbinhdi viết
Hô hô,
Có đứa bị nhà mình đá đểu (chả biết đá trúng vào cái chi mà xem ra từ hổm rồi vẫn thấy anh ách anh ách), không biết phản pháo bằng chuyện chi mới cố mõi mấy cái chiện lãng xẹt này. Chỉ là y biết một mà không biết hai thoai. Thì nghe nhé.
Các địa danh ở VN thì hay có nhiều cách gọi na ná nhau, là do dân người gọi thế này, kẻ nói thế khác. Lính tráng thì thường không phải dân bản xứ lại gọi theo tên trên bản đồ tác chiến, có khác cũng là chuyện rất thường tình. Cũng cần nói thêm là, bản đồ thì ngày trước chủ yếu là in lại theo bản đồ có từ thời Pháp thôi (mấy năm chiến tranh, người người ra trận, mọi của cải đều đổ ra tiền tuyến cả, còn đâu người và phương tiện mà đi đo/vẽ bản đồ chi tiết tất cả miền Bắc chứ), có sai khác với tên gọi dân dã cũng là thường. Thế nên mới có các tên gọi như Hồng/Hòn Gai, Lao/Lào Cai, Yên Bái/Báy, Hòn Dấu/Dáu, vân vân và vân vân.
Cái ngã ba Cốc Sam/San kia cũng vậy. Dân Kinh đi khai hoang thì gọi là Cốc Sam, trên bản đồ tác chiến cũng ghi là Cốc Sam, còn dân địa phương gọi nó thế nào lão đâu có hay bởi ngày ở trên đường từ ngã ba ấy sang Phố Lu (lão cũng mới chỉ lên đến đó chiều 20 thì tối 22-2 gì đó đã có lệnh rút, sáng sớm tờ mờ hôm sau pháo TQ đã nã dày đặc vào đó, tốp lính cuối cùng thu dọn dây và tổng đài dã chiến của quân khu bộ do anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy chạy về được đến trung đoàn bộ thì thành xe đã chi chít vết mảnh pháo, may mà không ai thương vong, 10 giờ sáng thì lính TQ đã tràn vào) lão chỉ đóng trong nhà dân Kinh lên đó từ thời Quốc Hương hát " anh đi khai phá miền Tây/rừng núi bao la bừng giấc say" thôi, họ gọi là Cốc Sam, chứ có ở với người dân tộc đâu nghe dân bản địa gọi thế nào. Sau đó lùi xuống trên Phố Ràng 10 km mới đóng trong nhà người Mán.
PS: Bây giờ tìm kiếm trên mạng và Google Earth thì thấy cái ngã ba ấy gọi là ngã ba Bắc Ngầm trên đường 70, từ đó theo đường 4E sang Phố Lu. Thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai (ngày xưa là tỉnh Hoàng Liên Sơn). Ngày tôi lên đó, đóng quân mấy ngày đầu tại phía Nam đường 4E trên đất xã Xuân Quang, cách ngã ba Bắc ngầm chừng 4-5 km. Sau khi chúng tôi rút, địch đã tràn vào, sau đó một tiểu đoàn đặc công của ta rút từ phía bắc về ngang qua chỗ đó bất ngờ gặp một tiểu đoàn lính Trung Quốc đang hành quân trên đường ra phía ga Phố Lu, mặc dù đạn dược cũng đã gần cạn quân ta vẫn bất ngờ từ trên vách ta-luy đường đánh xuống. Trận tao ngộ chiến bất đắc dĩ ấy tiểu đoàn đặc công của ta đã đánh giáp lá cà và diệt sạch tiểu đoàn ấy của địch. Họ rút về đứng chân trên chỗ chúng tôi chừng gần 3 km, phía bắc cái ngầm (ở đó có một cái ngầm to qua suối - có lẽ vì vậy mà cái ngã ba kia mới có tên Bắc Ngầm chăng?) mà từ đó có đường rẽ vào chỉ huy sở tiền phương dã chiến của QK2 nên thỉnh thoảng chúng tôi có mò sang. Nhìn trên Google Earth bây giờ tôi vẫn nhận ra cái nhánh đường (cụt) rẽ vào quân khu bộ xưa, nơi có cái chóp vô tuyến tiếp sức chúng tôi đã leo lên đó sửa máy P401 nối thông liên lạc giữa hai cánh trái và phải sông Hồng. Gần bảy năm sau, sát Tết năm 1986, tôi lại có dịp quay lại chiến trường xưa, lên đúng chỗ ngày đầu lên mặt trận đã tới - khi đó đã là nơi quân đoàn 26 đóng - để giao thiết bị, vẫn nhớ và nhận ra những nơi đã từng qua dạo chiến tranh.
@ chị SM,
Không chỉ có bộ đội, lính biên phòng hay cán bộ dân-chính-Đảng hy sinh trong chiến đấu để cản địch trên hướng Lao Cai ngày ấy đâu. Dân chết cũng là chuyện thường. Đến cả tù nhân trong các trại tù cũng hy sinh trong chiến đấu cản địch nữa đấy. Có thể nói khi đó mỗi một trẻ em, mỗi một người dân vùng biên ải đều là mỗi anh hùng.
Trong những ngày đóng trong nhà người Mán, có lần thấy ông chủ nhà kéo dây dong về 2 gã trai bị trói thúc ké với nhau. Hỏi thì hóa ra là tù từ trại giam Hùng Thắng B của Bộ Công An (ở cách chỗ tôi lên lúc đầu chừng 1.5 km) được thả rông chạy về qua đó, đói quá vào ăn trộm gạo của dân trong cối gạo trên nương, bị bắt sống. Song cũng có hôm, có 2 anh chàng như thế với 1 khẩu K44 về qua chỗ chúng tôi xin ăn. Khổ, cũng chẳng có gì, chỉ là ngô xay thôi ăn với muối rắc vào (những bao ngô 80 kg mà tôi đã cùng anh em vác ngược từ xe quân nhu từ dưới đường Hữu Nghị 7 lên nhà trong mưa - ngày ấy tôi cao 1m7 cũng chỉ nặng chừng 46-47 kg gì đó thôi, gày nhóc, mãi ngày sang đến Hung cũng mới chỉ lên tới 49 kí lô), không có gạo đâu, có bận thấy bộ đội ăn trưa bên sườn đồi, ông chủ nhà đi ngang qua bảo " Ố, cái bộ đội ăn không bằng con lợn nhà tao đâu vớ" - lợn nhà ông ấy ăn cám nấu với gạo nương ạ. Những người ấy cũng là tù từ trại Hùng Thắng B. TQ đánh đến không kịp di tản, ban chỉ huy trại giam quyết định thả họ ra, dặn rút xuống Phố Ràng tập trung, dưới đó sẽ có bộ phận thu dung, phát giấy phép cho về quê, hẹn ngày ra trình diện chấp hành nốt án phạt. Hai người đó cùng nhiều người nữa đã không bỏ chạy mà cùng với tự vệ của trại tổ chức chiến đấu, súng không có đâu, chỉ khi tự vệ hy sinh mới có súng của người đã ngã xuống mà chiến đấu thôi. Súng của họ về đến chỗ chúng tôi đã chẳng còn viên đạn nào, hy sinh cũng gần hết rồi họ mới rút, hòa theo dòng người dân chạy giặc dài dằng dặc trên đường xuôi xuống.
---
Những ngày ấy chúng tôi được ông chủ nhà người Mán - chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, có 1 khẩu tiểu liên K50 băng tròn vũ khí của Hồng quân LX từ thời WWII đi đâu cũng đeo - bố trí cho ngủ trên sàn chìa ra dốc đồi, bên dưới là chuồng nhốt trâu, đêm đến trâu lịch kịch và hôi mù nên chỉ khi mệt lắm rồi mới ngủ thiếp đi được. Từ đó nhìn ra đường Hữu Nghị 7 (đường 70 từ Lao cai xuống Yên Bái nối vào QL2 theo cách gọi bây giờ, tiếng Mán gọi là " châu lồ", chắc là từ chữ " châu lộ" - đường liên châu - mà ra), đêm đêm bập bùng lửa đốt sưởi của dân chạy giặc trú lại trên mặt đường trong những cái lán lợp lá chuối, cứ 15-20 m lại có một cái như thế. Ban ngày thì bà con lại gồng gánh dắt díu nhau chạy giặc tiếp xuống phía dưới. Những đứa trẻ bẩn thỉu bùn đất bám vào quang gánh của cha mẹ lếch thếch theo sau, có đứa bé chỉ chừng 10 tuổi lại 1 chân dận giày Cô-xư-ghin, chân kia dận giày ba ta bộ đội - chắc là nhặt được do lính ta bỏ lại trên đường rút - lệt sà lệt sệt, trông thương lắm. Nhiều người đói vì đã nhiều ngày chỉ ăn vớ vẩn những lá cùng lẩu, chúng tôi lại phải sẻ khẩu phần thảm hại của mình cho họ, nhất là cho phụ nữ còn đang cho con bú. Nhiều người đã chạy từ tận thị trấn Mường Khương về. Họ kể, đang chạy từ Mường Khương về ngã ba Bản Phiệt thì họ thấy trên đường có xe tăng đang tiến từ ngã ba Bản Phiệt lên nên hò reo vui mừng. Nào ngờ chúng nổ súng máy vào họ, thì ra đó là xe tăng TQ đánh từ Lao Cai xuống ngã ba Bản Phiệt rồi vòng lên tập hậu thị trấn Mường Khương. Chết nhiều người lắm, những người còn sống chạy thốc vào rừng và cắt rừng núi chạy về chỗ chúng tôi, nỗi kinh hoàng vẫn còn đọng trên nét mặt. Thương nhất là bọn trẻ con, yếu ớt, đói khát và rét mướt.
Nhiều đêm nằm trên sàn nhìn ra những đống lửa dân đốt bên đường, tôi cứ tự ước và hẹn rằng nếu mình sống sót qua đận này và được đi học thì dù thế nào sẽ cố học cho thật tốt. Rất may là tôi đã giữ được lời hứa năm ấy.
---
Những ngày này trên các mặt báo tịnh không một chữ nhắc lại trận chiến năm ấy. Tôi thì vẫn chỉ hay vơ vẩn nhớ lại những ngày đó, không sao quên nối được. Cũng biết là ta không nhắc lại là vì nghĩa lớn chứ chẳng phải là ta sợ (@ Dương Danh Dy) song vẫn buồn.
Địch chủ động đánh rất dữ, quân đông gấp bội bên mình (hướng đường 70 ấy quân ta chỉ có mỗi một trung đoàn bộ đội địa phương 254, cộng với một ít quân của trung đoàn 196 mà ban chỉ huy trung đoàn đã bị tiêu diệt ngay đêm đầu do địch bất ngờ tập kích chỉ huy sở - không hiểu sao bây giờ lại thấy ghi eBB192, có lẽ là khi đó mới chia quân từ quân khu Việt Bắc ra thành QK1 và QK2 nên lính vẫn quen gọi tên trung đoàn theo tên cũ là eBB196 từ hồi còn QK Việt Bắc, chứ eBB196 chính thức ngày ấy đang đánh nhau ở mặt trận Lạng Sơn - và một trung đoàn e168 pháo binh chống cự lại 4-5 sư đoàn của địch có nhiều pháo và xe tăng yểm trợ; quanh mỏ Cam Đường bên kia sông Hồng thì có sư 345 quần nhau với cả gần chục sư của địch, xa nữa trên Sa Pa thì chỉ có 2 trung đoàn của sư đoàn 316 anh hùng chống lại địch giữ thị trấn - cả thày hướng Tây Bắc địch huy động 18 sư đoàn do tướng Dương Đắc Chí thuộc quân khu Vân nam chỉ huy đánh sang ta). Đạn không đủ mà bắn cho xuể. Có bao nhiêu đạn đều dồn ra chốt cả mà còn chẳng đủ. Từ dưới xuôi lên, lúc ra đi tôi có 17 viên AK cài trong hai lam tiếp đạn súng CKC - là đạn xin được kỳ tập bắn đạn thật cuối hè 1978, lên đến nơi thấy lính thông tin đi nối dây mà hộp đạn AK rỗng không mới đem ra chia, mỗi khẩu được 2-3 viên. Có hôm 9 giờ tối báo dây điện thoại đứt, thiếu người đi nối dây, tôi và một cô lính mới trẻ măng (khá xinh, mà không sao nhớ tên, da rất trắng mà lại mặc bộ quân phục vải do Triều Tiên viện trợ bạc màu rất nhanh trắng phớ nên tối mù tối mịt vẫn nhìn rõ - sau này về kể cho cha tôi chuyện quần áo vải Triều Tiên bạc phếch, cụ trầm ngâm bảo " Thế là rất nguy hiểm vì đánh nhau thì lộ, địch nó ngắm bắn dễ lắm do nổi rõ trên nền lá xanh của rừng") dắt nhau lần theo dây đi tìm chỗ đứt trong rừng. Tối mò mò, đen như mực bởi có ánh trăng cũng không xuống tới được vì cây rừng bít bùng. Thám báo địch có thể cắt dây rồi nằm phục chờ bắt lính thông tin ta đi nối, không thể biết trước được. Tôi dặn cô bé: " Đưa anh cây AK, em cứ cầm đèn pin soi tìm dây, thấy thì nối, anh sẽ ở ngay bên em yểm hộ, nếu địch bắn thì trong đêm sẽ rất khó trúng, em cứ tắt đèn mà chạy ngược về, anh sẽ cố cản chúng lại". Chỉ có 3 viên đạn trong băng khẩu AK của cô ấy và 18 viên đạn súng ngắn K54 của tôi thôi song nếu có địch thì một là đang đêm, hai là ta trên đất mình còn với địch là đất lạ, bố bảo chúng cũng chẳng dám ham đuổi khi đã có tiếng súng bắn trả dù chúng có liều lĩnh và thiện chiến đến mấy. Tôi tin là như vậy. Rất may là lần đó dây chỉ đứt khá gần bìa rừng, chắc là do dây cáp dã chiến rải trên đất (hạ dây từ trên các cành cây xuống đất từ ban ngày để nếu có rút thì thu dây cho nhanh được - thế tiến của địch mấy ngày đầu ấy còn đang mạnh) bị trâu bò đi qua đá đứt thôi. Sau này năm 2007, nhớ lại cái đận ấy, nhân thơ thẩn về Trăng, tôi mới có mấy dòng văn vần đã ghi ở đây
http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=928
Mãi cả hơn 1 tuần sau mới có xe đạn chở lên cấp cho trung đoàn, đổ 1 đống vàng chóe trên sàn ngủ của chúng tôi trong nhà ông chủ tịch xã người Mán, nơi trung đoàn bộ đóng: lựu đạn, đạn AK, đạn K54, tha hồ lấy, bao nhiêu cũng được, không ghi sổ. Lạ cái, đạn và ngô thì còn chưa tiếp tế, lại thấy chở lên trước cả một đống sách! Tôi cũng nhặt được 2 cuốn, trong đó bây giờ vẫn còn giữ cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do đại tá nhà văn Hữu Mai ghi. Kỷ niệm chiến trường giờ chỉ còn có cuốn này và một cuốn sổ bỏ túi ghi vắn tắt những ngày ngoài mặt trận (giờ lạc đâu trong nhà mà chưa có lúc nào rỗi rãi tìm lại).

|
Hoan hô,
Hôm nay tình cờ soạn lại các giấy tờ cũ, tìm thấy mấy trang sổ ghi chép những ngày đi mặt trận biên giới tháng 2 năm 1979, chỉ là bìa đã xé bỏ đi đâu mất, chỉ còn lại mấy trang ruột có ghi chép là vẫn giữ được - chắc là dạo cắt quân số từ trường chuyển về HN để đi học ngoại ngữ rồi đi NCS, tư trang nặng nên đã xé vứt bỏ tất những gì nặng không cần thiết. Cái trò này, đến năm từ Hung về nước, tài liệu/giấy tờ nhiều quá tôi cũng xé bỏ các bìa sổ/sách cứng nặng vứt đi cho nhẹ bớt (chỉ mặc mỗi một bộ quần áo trên người, bao nhiêu quần áo vứt tất để dành trọng lượng cho sách vở mang về nước, mà vẫn phải trả quá cước 10 kg - cả thảy 4 lần về nước tôi đã tha về được gần 1 tạ sách/tạp chí KH, lúc ấy quý lắm vì Internet còn chưa phổ biến lắm, kiếm đâu ra bản mềm sách/tạp chí như bây giờ).
Ghi tạm lại đây làm tư liệu, mong các bác thông cảm nhé (đã ghi thành file trong máy tính mà sợ nhỡ bị virus mất dữ liệu, đành gửi tạm 3N lưu hộ).
Chiều 02.02.1979
Họp đoàn đi biên giới Quân khu 2, trung tá Mai Sơn (trưởng khoa Quân sự của ĐHKTQS lúc bấy giờ, trưởng đoàn công tác) chủ trì.
Đoàn quản lý quân số (từ các đơn vị trong ĐHKTQS tham gia đoàn) trước khi lên đường vào các ngày 2, 9, và 10 tháng 2 năm 1979 (ngày 2-2: họp thành lập đoàn, phổ biến công tác, phân công chuẩn bị; ngày 9-2: chuẩn bị hậu cần, lĩnh quân tư trang bổ sung, lương thực và thực phẩm, đội xe nhận xăng và kiểm tra xe cộ; 10-2: họp đoàn trước lúc lên đường). Ngày 12 lên đường đi QK2.
Ngày 10-2: Họp đoàn, thủ trưởng nhà trường gặp mặt và giao nhiệm vụ (trung tướng Hoàng Phương, hiệu trưởng).
(Ghi thêm: lời dặn của trung tướng hiệu trưởng hôm 10-2: "Anh em tới các đơn vị cố gắng thâm nhập thực tế để nắm tình hình về nghiên cứu phục vụ đơn vị chiến đấu và phục vụ công tác giảng day. Tác phong phải sâu sát: cùng ăn, cùng làm với chiến sĩ, không được ngại khó, ngại khổ.")
Nhiệm vụ:
- Thâm nhập đơn vị để triển khai chiến đấu ở biên giới;
- Thâm nhập đơn vị để học tập thực tế, rút ra các yêu cầu để giảng dạy và nghiên cứu.
---
Phổ biến tình hình các đơn vị:
Tình hình đơn vị: Trang bị thô sơ,
mới thành lập (ghi chú: mới thành lập và chia quân từ quân khu Việt Bắc cũ thành QK1 và QK2), hiểu biết kỹ thuật còn yếu kém.
Hành trình: Đi 4 trung đoàn (E) chủ lực, 3 tỉnh đội (Hà Tuyên, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn, ghi chú: Hà Tuyến = Hà Giang + Tuyên Quang bây giờ; Hoàng Liên Sơn = Yên Bái + Lào Cai bây giờ)
Từ Vĩnh Yên đi Yên Bái:
- tới E cao xạ của quân khu;
- tới E pháo mặt đất của quân khu (ghi chú: trung đoàn pháo binh, e168).
Từ Yên Bái vượt qua Sông Hồng tới sư đoàn (F) 345 (ghi chú: trấn giữ bảo vệ khu mỏ a-pa-tít Cam Đường, chỉ huy F345 là Đại tá Mai Lan) và trung đoàn địa phương quân của Hoàng Liên Sơn (ghi chú: có lẽ là e196 cũ mới chia từ quân khu Việt Băc về), sau đó tới một trung đoàn F316 (ghi chú: F316 lúc đó quân số thiếu, chỉ gồm 2 trung đoàn, trấn giữ bảo vệ Sa-pa). Từ F316 đi sang Lai Châu, tới Phong Thổ, vòng về qua Hà Tuyến rồi về Vĩnh Phú (về trường tại Vĩnh Yên). Hành trình sẽ qua quân khu bộ đến trung đoàn thông tin (ghi chú: trung đoàn 604, mới chia quân ra lập trung đoàn từ trung đoàn thông tin 601 của quân khu Việt Bắc cũ), trung đoàn công binh.

(Mấy trang rời đặt liền nhau)
Ghi chép tóm tắt sau khi đã về tới trường:
Đợt đi QK2 (từ 12/2 đến 8/3/1979)
Sáng 12/2 (thứ hai) ba lô + súng + dao găm (ghi chú: lưỡi lê dẹt của khẩu AK của tôi, AK để lại trường vì phổ biến đi chỉ mang vũ khí ngắn gọn) + tăng võng lủng củng lên xe, 2 xe Zil130, mưa loang loáng. Nghỉ ăn sáng ở Việt Trì. 12:30 tới trạm 44 (trạm khách của QK2), ăn trưa. Chiều tối tới Thậm Thình, tách đoàn: Bình + Báu ở lại, cả đoàn đi tiếp.
Chiều 12/2: Thỏa thuận với Phòng nhà trường của QK, Bình + Báu quay lại về trường (vì theo kế hoạch thì e604 sắp từ Yên Bái quay về Thậm Thình, lên sớm quá nên chưa đơn vị nào tiếp nhận cả).
Sáng 13/2: Từ trường vẫy xe tải đi về HN. 15:30 lại vẫy xe tải về đến Hải Phòng (về tới nhà Ly).
Chiều 15/2: Ly + bố tiễn ra ga. Lên đến HN: 21:00.
Sáng 16/2: Lại lên QK2 (đi tàu 05:30), trưa 16/2 tới QK, nghỉ ở Phòng thông tin QK.
Sáng 17/2:
- TQ tấn công toàn tuyến biên giới;
- Được điều động ngay xuống đại đội 2 thông tin (ghi chú: C2 là đại đội hữu tuyến) của e604 phục vụ liên lạc cho quân khu bộ (đại đội anh Vĩnh). (Ghi chú: anh Báu được điều về C1 là đại đội vô tuyến điện).
Từ 17/2 đến 22/2: Nhận, sửa VBO3-2-T (ghi chú: máy do Hung sản xuất, đời mới, có thêm ngăn chứa máy tải báo - chữ T chắc là Telegraph - chưa được học trong trường song về cơ bản nguyên lý cũng giống như VBO3-2 đã được học, có cải tiến chút ít, máy mới tinh song cũng đã có trục trặc nhỏ), dựng trạm VBO3-2-T (ghi chú: liên lạc từ QK bộ ra trạm đường trục của Bộ tư lệnh Thông tin, khi đó đặt tại Phú Thọ duy trì liên lạc lên Yên Bái) và huấn luyện nhân viên trực máy trạm mới lắp (ghi chú: tôi chọn 4 cô nữ nhanh nhẹn nhất của đại đội có trình độ văn hóa từ lớp 9 trở lên - đã biết
sin cộng sin bằng hai sin cos..., đủ để hiểu nguyên lý tải ba nhiều kênh FDM: Frequency Division Multiplexing, tiếng Nga là Многоканальная Связь - để huấn luyện cấp tốc làm nhiệm vụ trực máy, 3 người mỗi người 1 ca trực 8 tiếng/ngày, 1 dự trữ nếu có người ốm thì còn có người thay). (Ghi chú:chính trong những ngày này xảy ra va chạm với chuẩn úy chuyên nghiệp, tư vụ trưởng của đại đội, vì anh này - già hơn mình cả hơn chục tuổi mà quân hàm thấp hơn - tỏ ra tị nạnh và cố ý đánh
pan máy nhằm thử trình độ của tôi, tôi phát hiện ra ngay và dọa đưa ra tòa án quân sự do hành động cố ý phá máy trong chiến đấu, anh này quỳ xuống lạy xin tôi tha - cũng dọa thế cho anh ta sợ thôi chứ 1 người bây giờ cũng quý, anh ta là người duy nhất trong đại đội có bằng trung cấp thông tin và có biết về máy VBO3-2 đời cũ, sau này sẽ là người chịu trách nhiệm kỹ thuật chính tại đại đội sau khi chúng tôi rời đi, bỏ tù thì ai làm việc chứ. Đây là một bài học để tôi sau này dặn lại các học viên sĩ quan của mình về những tình huống trớ trêu họ có thể gặp phải sau khi ra trường về đơn vị).
Sáng 23/2: Bình + Báu theo xe ca của QK lên tiền phương. Chiều tối thì tới xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, Hoàng Liên Sơn (nới đóng chỉ huy sở tiền phương của QK2), ngủ đêm 23/2/1979 ở Phòng Thông tin. Lo, hơi sợ.
24/2: Xuống e604. Đã bớt sợ vì đơn vị đông. Đêm 24/2 sợ, lo không ngủ được vì lo TQ tập kích lén (ghi chú: đây là lần đầu tiên nghe thấy Cachiusa bắn, chen lẫn cả pháo, cối ở rất gần, nghe thấy cả tiếng đại liên và lựu đạn nổ lục cục nữa, chắc là ở cách chỗ mình trú quân quãng 3-4 km, chuyện này đã kể trong thread về Cachiusa trên 3N). Bây giờ mới biết là lo hão.
25/2: Tham gia triển khai thông tin ở Xuân Quang (ghi chú: tổng đài П198 của Liên xô, đi nối dây ban đêm trong rừng lần đầu,
hai người một súng ba viên đạn - chuyện này đã kể ở trên 3N; có chuyện chết cười về quân trung cấp mới tốt nghiệp từ trường Trung cấp thông tin ra), trưa đi chữa P401. Đã cảm thấy quen, không sợ nữa. Địch đến thì đánh, gì phải sợ.
Tối 25/2: Rút về trên huyện lỵ Bảo Yên (Phố Ràng) 10 km, cách ngầm (nơi chỉ huy sở tiền phương QK2 lùi từ Xuân Quang về đóng quân) chừng 1-2 km. Từ 25/2 đến 1/3: chữa máy TCT (ghi chú: máy tải ba 2 kênh cấp chiến thuật của Hung sản xuất, bọn Hung thiết kế máy cực
phò, tụ lọc đầu ra âm tần chỉ chịu điện áp 80V, mà máy điện thoại từ thạch khi quay mạnh điện áp có thể lên tới ~100V thì làm gì mà chả thủng cả loat, báo hại mình gần như ngày nào cũng bị gọi đi chữa máy, ngày nào cũng lội bộ ~20 km đi/về sửa các máy hỏng. Sau này sang Hung, năm 1995 vào Telefongyár - Nhà máy điện thoại, khi đó đã bán cho hãng Siemens - để gặp TS. Kovács János, người phản biện LA của tôi, mình có hỏi thăm và than phiền về thiết kế máy TCT thì cả hội cười lăn ra và bảo ở đấy bây giờ chẳng ai biết cái loại máy ấy là loại gì nữa vì được sản xuất từ những năm 1960s,
những người chế tạo loại máy ấy giờ chết cả rồi còn đâu - họ bảo vậy), đi trạm Bảo Yên (ghi chú: tham gia dựng trạm VBO-3-2-T mới, liên lạc về Yên Bái - gặp Cao Tuấn Anh lớp cũ của mình ở đó).
1/3: Lên chóp tiếp sức (ghi chú: sửa máy P401, chuyện này đã kể trong thread
Ngày này 38 năm trước trên 3N), đói, ngã, rét, khát, ngủ lại một đêm ở trên núi, rất thương bọn lính mình vì họ quá vất vả và dũng cảm.
2/3: Xuống núi sau khi khai thông liên lạc sau 2 ngày mất liên lạc với F345 (bên mỏ Cam Đường).
5/3: Tiếp tục rút xuống dưới Phố Ràng 12 km.
7/3: Sáng đi chữa TCT (ghi chú: hô hô, bị toạc chỉ đũng quần trước mặt mấy em lính cơ công xinh như mộng ở đây đây lúc định ngồi xuống tháo vỏ máy ra đo/sửa chữa, ngượng ê cả mặt, cơ mà được các em cho ăn 1 bữa khá ngon và no, đói và ăn măng vầu thay cơm trừ bữa đã 2 ngày vì trung đoàn bộ đã hết lương thực), trưa về Yên Bái (ghi chú: theo xe anh Mạo/Mão(?), trung đoàn phó e134 đường trục đi kiểm tra tuyến, xe mất phanh, chỉ còn phanh tay, đổ dốc vù vù, hết cả hồn vía vì mấy lần tý nữa lao xuống vực, một lần lái xe đã phải lái húc xe vào đường phòng tránh đâm vào ta-luy, vì tránh xe khác đang ngược lên), từ Yên Bái vẫy xe tải (chở dân tản cư về xuôi) về tới Thậm Thình (về C2), 8/3 tắm giặt (ghi chú: từ ngày lên tiền phương đến hôm đó mới tắm, hôm trước về tới C2 lúc đã gần 12 giờ đêm, anh Vĩnh C trưởng kêu toáng lên là mình hôi quá, không cho ngủ chung giường, nên phải lên bàn họp của đại đội ngủ).
9/3: Báo cáo công tác và nhận xác nhận/nhận xét công tác từ anh Hồng, thiếu tá trung đoàn phó, tham mưu trưởng e604 (ghi chú: nhận xét công tác đại để ghi: Các đồng chí Bình và Báu trong thời gian tăng cường cho e604 đã góp phần giải quyết nhiều công việc kỹ thuật cho trung đoàn, phục vụ chiến đấu tại mặt trận rất dũng cảm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ - chắc là nhận xét này hiện nằm trong hồ sơ của anh Báu vì anh Báu khi đó là thượng úy, chỉ huy nhóm 2 người chúng tôi, sau khi về trường thì anh nộp báo cáo công tác và nhận xét của trung đoàn cho Ban cán bộ nhà trường). Về đến trường buổi sáng 10/3. (ghi chú: Khóa mình có anh Huy - lớp xe quân sự, em rể anh Trần Đình Son lớp trưởng lớp Xe quân sự khóa 7 - hy sinh tại mặt trận tiền phương QK2, tin về đến trường lại không rõ, chỉ nói là một sĩ quan khóa 7 mới ra trường đi mặt trận hy sinh làm mọi người lại tưởng là tôi đã bỏ mang vì đoàn công tác đi biên giới đận ấy chỉ có mỗi mình tôi là thiếu úy khóa 7, vừa mới ra trường chưa được 1 năm. Từ ga Vĩnh Yên về trường, gặp mấy anh em đang đi ra thị xã Vĩnh Yên, mọi người rú lên bảo:
Ô, sao nghe tin mày chết rồi cơ mà!).

Điện chuyển bằng máy 2W (máy P105Д của Liên xô) từng chặng từ chóp núi này qua chóp núi nọ, hôm 1/3/1979 - tôi bám theo dây điện thoại leo lên chóp vô tuyến tiếp sức P401 để sửa máy, lên gần tới đỉnh thì gặp tổ báo vụ 2W ở phía dưới, nghỉ chân lại đó vì đã mệt rã rời, nhân thể nhận điện từ Phòng Thông tin quân khu để cho báo vụ chuyển (tiện sổ thì ghi, may mà giờ vẫn còn bức điện này):
11:00 1/3/1979
Gửi E124,
Gửi anh Tú, cho người sửa đường dây lên QK gấp và chuẩn bị cho người lên QK nhận khí tài.
Ký điện: Thiện (44)
Ghi chú: Trung tá Thiện là Trưởng Phòng thông tin QK2 (số máy lẻ của Phòng Thông tin ngày ấy là 44). Ông Thiện là một người khá lỗ mãng. Lúc tôi lên đến chóp vô tuyến tiếp sức trên đỉnh núi, còn đang sửa máy P401 chưa được, chắc là bị tư lệnh quân khu đì cho vì đã mất liên lạc 2 ngày liền sang cánh phải Sông Hồng nên ông ấy liên tục gọi điện thoại lên núi thúc giục lính. Tôi nghe điện thoại, phân trần rằng vẫn còn đang đo kiểm tìm hỏng để sửa, mong ông đừng thúc, lính đã cố lắm rồi - ướt và đói đã gần 2 ngày chưa được ăn - ông văng tục chửi ngay: "Đ. mẹ mày, mày là thằng nào đấy mà nói lung tung thế", tôi xưng tên và báo cáo là sĩ quan kỹ thuật
của Bộ (anh em đơn vị quen gọi thế) tăng cường thì ông ấy cụp máy cái rụp.