Theo tác giả:
Alexander Samsonov
Trong thế giới "văn minh tự do dân chủ" phương tây, tưởng như các đồng minh rất tự do dân chủ. Nhưng không phải vậy.
Nếu chú ý đến chính sách đối ngoại của Berlin thì có thể nhận ra một thực tế là nó ngả theo chiều hướng lợi ích Mỹ. Người Đức hầu như cam chịu thực hiện công cuộc New World Order của phương tây. Bất chấp một thực tế, kinh tế Đức là trụ cột của kinh tế châu Âu và là một trong những nền kinh tế mạnh nhất thế giới. Nước Đức có đủ tiền đề để đóng vai trò là một trong những trung tâm quyền lực của thế giới, nhưng họ lại chẳng có một vai trò chính trị nào để đạt được điều đó.
Đây là một ví dụ đặc trưng của việc theo đuôi Mỹ: Chancellor Angela Merkel tuyên bố Ukraine là đất nước “độc tài và đàn áp”. Merkel cũng theo Mỹ nói TT Belarus Alexander Lukashenko đã bị chán ngấy và chẳng còn làm “độc tài cuối cùng của châu Âu” được bao lâu nữa. Những tuyên bố như thế được cho là rất quan trọng, đóng vai trò dẫn dắt của Đức ở EU. Châu Âu muốn, quyền lực ở Kiev phải có nhiều những con buôn chính trị “tự do” hơn nữa, như Yulia Timoshenko.
Thậm chí những năm gần đây, người ta vẫn cho rằng nước Đức vẫn đang nằm dưới sự giày xéo của bè lũ xâm lược Anglo-Saxon. Nền độc lập Đức bị mất không chỉ ở dấu hiệu sự hiện diện quân sự của Anh và Mỹ trên đất Đức mà sau khi CCCP không còn thì nó cũng chẳng còn mang bất cứ ý nghĩa quân sự nào, mà còn ở chỗ Đức bị lệ thuộc chính trị và tài chính. Chính phủ Đức lẽ ra cần phải bảo vệ lợi ích quốc gia thì lại định hướng để hiện thực hóa lợi ích quốc tế của cái gọi là “chính phủ thế giới”. Đa số dân chúng Đức phản đối nước Đức phải đứng ra gánh vác trách nhiệm cứu trợ châu Âu. Họ ngờ vực chính sách dân chủ và di cư tự do của chính phủ Đức sẽ làm xói mòn các nhóm dân tộc Đức, làm tan vỡ và “Hồi giáo hóa” nước Đức. Những người lính Đức cầm súng cho cuộc chiến tranh vì lợi ích của NATO và Mỹ ở Nam Tư và Afghan. Berlin đứng vào vị trí ủng hộ Israel trong vấn đề Trung Đông và Iran.
Thậm chí, người đứng đầu nước Đức Angela Merkel còn ghi nhận nước Đức “có trách nhiệm trước sự an toàn của Israel”. Bốn chiếc tàu ngầm diesel-điện được Đức đóng cho Israel mà Do Thái không trả 1 xu nào. Chúng trả bằng tiền của người đóng thuế Đức dưới sự dọa dẫm tống tiền vụ Holocaust đểu giả. Về trung hạn và dài hạn, nước Đức bị buộc phải vũ trang cho Israel. Berlin cũng bị buộc phải ủng hộ các nước châu Âu khác dưới gánh nặng hạ thấp tiêu chuẩn sống của người dân Đức.
Do vậy mà, khi có những thông tin, chẳng hạn như cuốn sách “Quân bài Đức” (German card - Die deutsche Karte) của tác giả là cựu lãnh đạo phản gián Tây Đức Gerd-Helmut Komossa, theo đó cho rằng nền độc lập của nước Đức đã bị hạn chế từ năm 1949, là hoàn toàn lô-gic. Theo Komossa, ngày 21 tháng 5 năm 1949 Đức đã phải ký một bản Hiệp định bí mật (gọi là “Sắc lệnh chancellor”) trong đó kẻ thắng đã hạn chế sự độc lập của nước Đức, áp đặt những rào cản nhất định và hạn chế lĩnh vực truyền thông. Bản Hiệp định này có hiệu lực đến năm 2099. Khi mà kẻ thắng vẫn còn giữ cho mình vàng dự trữ của Đức như tài sản cầm cố.
Vẫn còn tài liệu khác nói về vấn đề này, đó là bản sao lá thư được công bố ở Đức của một quan chức tình báo hàng bộ trưởng. Người trong thư giấu tên và gọi là Tiến sĩ Rikerman. Lá thư xác nhận những hạn chế của đồng minh đối với Đức trong lĩnh vực truyền thông cho đến năm 2099. Thư xác nhận về sự tồn tại của cái gọi là “Sắc lệnh chancellor”, một tài liệu chính thức và bí mật, cũng như những kẻ thắng đã dùng dự trữ vàng của Đức làm tài sản cầm cố. Komossa trong một lần phỏng vấn đã xác nhận mình không lạ đối với tài liệu này và nó có từ năm 1949.
Bên cạnh đó, vấn đề hạn chế độc lập Đức cũng được đề cập đến trong bài viết đăng trên tập san tuần Die Zeit. Bài viết là của nhà văn, nhà chính trị và phóng viên Egon Bahr. Ông Bahr làm việc ở Bộ ngoại giao Đức từ 1969-1972 với vai trò thư ký nhà nước cho chancellor Villi Brandt, một trong những Ttg Đức khởi xướng chính sách hướng đông mới. Theo ông Bahr, “một trong số các quan chức cao cấp đã giao cho ông 3 bức thư đã ký để chuyển đi." Chúng có địa chỉ là 3 sứ quán của 3 nước quyền lực: Anh, Pháp, Mỹ như một Hội đồng tối cao. Chancellor Brandt ký các bức thư này như một sự xác nhận những điều kiện bắt buộc, mà chính quyền quân sự đã cam kết trong lá thư bí mật về tôn trọng Luật cơ bản từ ngày 12 tháng 5 năm 1949. Như những chủ nhân của kẻ thắng có quyền không tranh cãi để mở rộng trên toàn nước Đức và Berlin, ngưng hay thi hành các điều của Luật cơ bản, mà chúng coi như là một hạn chế đối với quyền lực của nước Đức. Việc mở rộng bao gồm cả điều 146 theo đó sau khi thống nhất, nước Đức sẽ chấp nhận hiến pháp thay cho Luật cơ bản. Egon Bahr xác nhận có những văn bản tương tự như thế đã được tất cả các chancellor ký kết, cũng như chancellor Brandt đã ký chúng. Theo quan điểm của ông, Đức được độc lập đầy đủ chỉ vào tháng 3 năm 1991 khi Hiệp định “2+4” có hiệu lực. Hiệp định này, là hiệp định giải quyết dứt điểm quan hệ nước Đức, thống nhất nước Đức và công nhận “toàn vẹn chủ quyền nước Đức về đối nội và đối ngoại” được ký bởi Đông Đức, Tây Đức, 4 nước chủ trì Anh, Pháp, Mỹ, và Liên Xô ở Mat-xcơ-va tháng 9 năm 1990.
Nhưng sự thực là ngay cả sau khi đã ký “hiệp ước hòa bình” và có hiệu lực từ năm 1991. Mỹ vẫn giữ quyền đưa quân đội Mỹ vào lãnh thổ Đức, Mỹ ngăn cấm Berlin chế tạo, sở hữu và sử dụng vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học. Berlin được kế thừa độc lập tài chính như một quốc gia có dự trữ vàng, một quyền lợi lớn đại diện cho “lịch sử đen tối” của dự trữ vàng nước Đức.
Năm 1945, Mỹ đã tước đoạt tất cả vàng dự trữ của Đức ở ngân hàng Reichsbank, năm 1948, đồng mark Đức được đưa vào lưu thông mà hầu như không có vàng dự trữ. Sau đó 2 thập kỷ, Ngân hàng trung tâm Đức trở thành ngân hàng lớn thứ 2 thế giới sở hữu vàng dự trữ. Nhưng sự thực trong 2 thập kỷ đó, một nửa thu nhập từ hàng hóa xuất sang các nước châu Âu được trả bằng vàng, vàng đó không được giữ tại Đức mà giữ tại các nhà băng ở London và New York. Năm 1973, vàng dự trữ của Đức tương đương 3625 tấn, năm 2007 xấp xỉ 3500 tấn. Năm 1979, một phần trong số vàng dự trữ của Đức đã được chuyển đổi sang kho sở hữu của hệ thống tiền tệ châu Âu, và năm 1999 là sang Ngân hàng trung tâm châu Âu. Đầu thập kỷ 90, ở Frankfurt chỉ giữ chưa đến 2% toàn bộ dự trữ vàng của Đức. Số còn lại nằm ở các nhà băng New York, London và Pháp, nói cách khác chúng nằm trong hệ thống nhà băng Do Thái. Thỏa thuận về vàng của Đức được ký kết bởi lãnh đạo ngân hàng Trung tâm Đức Karl Blessing (1958-1970). Theo những thông tin khác nhau về lưu thông vàng của Đức, có thể rút ra kết luận rằng Đức không được tự do quyết định khi nào và bao nhiêu vàng được cho vay mượn. Ngân hàng liên bang Đức có thể lấy vàng từ các kho dự trữ Mỹ chỉ trong những trường hợp quan trong và chỉ với số lượng nhỏ. Trong trường hợp chiến tranh thế giới, hay khủng hoảng toàn cầu, Mỹ dễ dàng giữ lại số vàng đó cho mình.
Đối với Mỹ, vàng của Đức có ý nghĩa gì? Đầu tiên, FED (nhà băng liên bang Mỹ) có khả năng thao túng vàng dự trữ của Đức, thứ 2 là vàng của Đức là tài sản cầm cố. Khi mà Đức vẫn còn trung thành với Washington và “chính phủ thế giới” – cái tên khác của tài phiệt quốc tế, thì vàng đó vẫn là của nước Đức.
Trường hợp Đức, cũng giống như Nhật, Hàn và một số các quốc gia lãnh thổ khác bị Mỹ chiếm đóng, những quốc gia chư hầu, những nước vệ tinh của đế quốc Mỹ. Mỹ kiểm soát những quốc gia đó bằng 4 công cụ cơ bản: kiểm soát tài chính, kiểm soát truyền thông, Mỹ hóa các đầu sỏ chính trị, hiện diện căn cứ quân sự (có thể kèm cả bom hạt nhân như Đức và Nhật). Thực tại này được khẳng định bởi tuyên bố của William Odom, một giảng viên, cựu tướng và là cố vấn của Zionist Zbigniew Brzezinski trong 1 cuộc phỏng vấn ngày 25 tháng 4 năm 1999. Odom còn là trợ lý tư lệnh Tình báo Mỹ giai đoạn 1981-1985, Giám đốc cơ quan an ninh quốc gia NSA 1985-1988. Odom cũng làm việc với nhiều “thùng ý tưởng” Mỹ khác, giám đốc Nghiên cứu an ninh tại Hudson, giáo sư cộng tác về khoa học chính trị ở Georgetown và Yale.
“Chúng ta ở Korea, Japan và Đức vĩnh viễn – và điều đó có giá trị của nó. Nếu ta nhìn lại và thấy rõ rằng những gì xảy ra trong những năm gần đây, ta sẽ hiểu rằng tất cả chúng ta ngày càng trở thành giàu có hơn giàu có hơn và giàu có hơn.”
Theo Odom, ngay cả việc lập ra NATO cũng là để hướng đến chống lại số đông dân chúng, chứ không phải để bảo vệ họ chống lại mối đe dọa quân sự Liên Xô. Phía Pháp thậm chí chẳng quan tâm mối đe dọa Xô Viết trong các cuộc tranh cãi. Người Pháp muốn NATO để kìm giữ Đức và người Anh thì muốn Mỹ hiện diện ở châu Âu. “NATO được lập ra như một công cụ hướng đến chống Đức”.
Hiểu thực tế này và các chính trị gia khác, nhà hoạt động chính trị, cựu tổng thư ký đảng DCXH Đức đã nói: “Khi Washington gây chiến ở vùng Vịnh, Đức thường xuyên tham gia vào đó, đóng vai trò như cái “tàu sân bay” của Mỹ ở châu Âu. Chúng ta không phải là quốc gia độc lập”.
Cũng có thể thấy rõ sự kiểm soát của “liên minh thế giới” đối với lĩnh vực truyền thông ở Đức. Mọi nỗ lực xem xét lại lịch sử chính thống về WW-II, với 2 kẻ “gây chiến” chính là Đức và Nhật (và bây giờ trong cái phe trục đó có cả Nga nữa) đều bị tuyên ngay lập tức là nazism và fascism. Trong khi đó cả London và Washington có không ít tội lỗi, thậm chí còn nhiều tội hơn cả Berlin và Tokyo. Mọi nỗ lực để moi ra “vấn đề Do Thái”, chủ đề Israel và kho vũ khí hạt nhân bất hợp pháp ngay lập tức dẫn đến cơn kích động và tội lỗi toàn Đức, hãy nhớ nhà văn, giải Nobel người Đức Günter Grass (ở các link dưới). Có một thực tế khác, một môi trường xã hội như thế, đang được cố tạo ra ở Nga và rằng người dân Nga, đang ăn năn hối hận về “những tội lỗi ghê tởm” của Stalinism và Tsarism, etc.
http://www.iraq-war.ru/article/271055
http://www.iraq-war.ru/article/269090
http://www.iraq-war.ru/article/269557