View Single Post
  #36  
Cũ 10-05-2012, 13:16
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền

Cải cách bên trong thay cho áp lực bên ngoài

Trong hệ thống "cộng sản", bảo thủ Mỹ theo hệ tư tưởng của mình không tìm thấy sức mạnh nội lực và tài nguyên của mình để có thể tạo ra điều kiện cho một chuyển đổi xã hội "kiểu phương Tây". Đó là lý do tại sao chủ nghĩa can thiệp-bảo thủ, những kẻ lập luận về vai trò thống trị thế giới của Mỹ thấy chỉ thực sự có một cách để gạt Liên Xô sang một bên như một đối thủ cạnh tranh – đó là phải hủy diệt. Để làm điều đó dần dần hoặc ngay lập tức là vấn đề hoàn cảnh, chứ không phải nguyên tắc, việc kết liễu LX có khả năng qua kết quả của thất bại quân sự hay kiệt quệ trong cuộc chạy đua vũ trang và phong tỏa kinh tế. Vì vậy, các khái niệm về kiềm chế và vứt bỏ Liên Xô là giống nhau cho cả hai loại bảo thủ - cả bảo thủ thực dụng và bảo thủ can thiệp.

Không có vấn đề mức sống cũng như vấn đề phát triển nhà nước pháp lý nào tại Liên Xô là nghị sự cho các bảo thủ Mỹ. Vấn đề nhân quyền ở Liên Xô (cũng như ở các nước khác) tự nó trở thành quan trọng cho các bảo thủ chỉ trong trường hợp sử dụng chúng cho lợi ích của Mỹ.

Phe tự do coi hệ thống Xô Viết là có thể biến đổi từ kết quả của cải cách và thay đổi dần dần bên trong. Họ đã không mô tả hình thái cấu trúc xã hội Liên Xô trong ngữ nghĩa tôn giáo. Họ cho rằng CNXH là một hình thái xã hội trong lịch sử, một trong những hình thái có thể thay đổi cho nhau, có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Ưu điểm là đảm bảo công ăn việc làm cho dân chúng, y tế và giáo dục miễn phí; nhược điểm là pháp luật nhà nước. Họ nghĩ rằng nhà nước của hệ thống này không phù hợp với trình độ văn hóa của dân chúng và trình độ phát triển của công nghệ, nền công nghiệp. Chính vì tất cả những điều đó, tư tưởng "chống cộng", hoặc "đối chọi" hay "hạn chế" không có cơ sở chính trị và đạo đức, "các quốc gia cộng sản" đã trở thành đối tượng phê phán, bao gồm cả lĩnh vực nhân quyền.

Theo đó, chính sách của Mỹ, trên quan điểm của phe tự do dân chủ, phải được định hướng để không đối kháng quân sự chống LX, không tổ chức các nhóm bí mật theo đuổi mục tiêu lật đổ chế độ "bolshevist", nhưng hình thành trong Liên Xô các điều kiện chủ quan và khách quan, cần thiết cho những thay đổi chính trị hơn nữa. Một trong những điều kiện "chủ quan" quan trọng nhất theo ý kiến của "chủ nghĩa tự do” là hướng việc thực thi luật pháp dần dần phù hợp với luật pháp LX, và sau khi L. I. Brezhnev ký kết Hiệp định Helsinki về nhân quyền, là hướng luật pháp LX dần dần phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Tuyên bố chung về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights).

Trong những tuyên bố ban đầu trước LHQ, OSCE (tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu), trước Quốc hội Mỹ, các lãnh đạo của đa số áp đảo các tổ chức nhân quyền đã không đưa ra tuyên bố thay đổi hệ thống chính trị Liên Xô (thay đổi chế độ), mà làm cho Liên Xô tôn trọng Thỏa thuận Helsinki. Ủy ban Mỹ, Helsinki Watch đã trở thành một và duy nhất trên thế giới, là tổ chức phi chính phủ (NGO) có sứ mệnh chỉ ra cho các quốc gia khác làm thế nào để thực hiện quyền con người ở đất nước của họ. Những hướng dẫn can thiệp vào công việc nội bộ của nước ngoài, hạn chế quyền của các quốc gia độc lập giải quyết các vấn đề riêng của họ, sẽ khó có thể được “chấp nhận rộng rãi” trong các tổ chức nhân quyền, và sau này là trong các phương tiện thông tin đại chúng, nếu như HRW không tìm thấy sự hỗ trợ và những kẻ cùng chí hướng trong các quốc gia này.

Một nhóm hoạt động "toàn cầu", mặc dù rất nhỏ, là những người Nga hoạt động nhân quyền đã sẵn sàng để từ bỏ tự do của họ - những kẻ tự xưng là "lương tâm của dân tộc". Chính xác thì là người Nga hoạt động nhân quyền trong các nước cộng hòa khác của Liên Xô - Lithuania, Georgia, Ukraine, Armenia, Estonia ... – trên thực tế đấu tranh, chỉ vì độc lập của nước cộng hòa của họ, hoạt động ly khai của họ được che đậy bằng cái mặt nạ ngôn từ bảo vệ nhân quyền.

Đồng mộng

Đến giữa thập niên 70, các dấu hiệu của sự sụp đổ trong tất cả các lĩnh vực của hệ thống Xô Viết và xã hội đã trở thành hiển nhiên. Bất đồng chính kiến và hoạt động nhân quyền chỉ là "đỉnh của tảng băng" không chính thống, trong đó có sự tham gia của một phần đáng kể các tầng lớp dân chúng có học thức của Liên Xô (bao gồm cả các đảng viên CS). Đối với phe tự do phương Tây, đo lường “tiến bộ xã hội” bằng mức độ phát triển của các quyền chính trị và dân sự, sự xuất hiện của các nhà hoạt động nhân quyền tại Liên Xô là một triệu chứng rõ ràng của một quá trình "thay đổi ý kiến", và họ tham gia vào tiến trình này.

Ở thời điểm đó phương Tây đã biết đến sự chia rẽ của những người bất đồng chính kiến Nga thành phe “tiến bộ tây học” và "bảo thủ-chủ nghĩa dân tộc". Trong cái chủ nghĩa “tây học” là những người như bác sĩ A.D. Sakharov, Yu.F. Orlov, V.M. Turchin, nhà triết học G.S. Pomeranz, L. M. Batkin và những nhà hoạt động nhân quyền, những kẻ cho rằng Nga phải chọn con đường "chung châu Âu" để có "pháp lý nhà nước" với nền kinh tế thị trường. Nhà văn A.I. Solzhenitsyn, nhà toán học I.R.Shafarevich, nhà sử học và triết gia L.N. Gumilyov và những người Nga bất đồng chính kiến khác, là những người nghĩ rằng Nga có cách riêng của mình để phát triển (không phải tây học, cũng không phải đông học), và họ được coi là gần với "chủ nghĩa dân tộc".

Động cơ của phe tự do dân chủ phương Tây tham gia vào các hoạt động bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền Nga có thể được giải thích bằng sự cảm thông cá nhân của họ đối với những người bất đồng chính kiến. Các nhà bảo vệ nhân quyền Phương Tây bảo vệ các đồng nghiệp Nga như những người đồng chính kiến và nỗi ám ảnh mang đặc điểm chung giống họ như ý thức công lý cao, lòng sùng kính lý tưởng nhân đạo thời đại của kỷ nguyên Khai sáng, thái độ phê phán (đôi khi không thích) các giá trị của xã hội tiêu thụ và lòng vị tha.

Không ít các yếu tố trong mắt phe tự do dân chủ phương Tây, là phe tự do dân chủ bất đồng chính kiến Nga đã bảo vệ các quyền văn hóa và tôn giáo của dân tộc thiểu số bị nhà nước Nga sô-vanh áp bức (như phe tự do mường tượng). Ở khía cạnh này của hoạt động nhân quyền, đặc biệt đụng chạm vào chỗ đau của người Do Thái Mỹ, những người đã bị phân biệt đối xử tôn giáo và sắc tộc ở một số bang miền Nam nước Mỹ thập kỷ 50. Trong thập kỷ 70 - 80, họ thành lập các tổ chức chính của Mỹ về hoạt động nhân quyền.

Và vấn đề chính là các nhà hoạt động nhân quyền Nga tuyên bố các quyền dân sự và chính trị, là các giá trị phổ biến và cơ bản của con người, và để bảo vệ chúng họ tuyên bố đó không chỉ là mối quan tâm của công dân Liên Xô, mà là mối quan tâm của cả nhân loại. Trong chính cái thực tại xuất hiện của "quyền phổ biến" trên nước Nga "phi dân chủ" và "không phương tây", người Mỹ ủng hộ cho "tự do hóa phổ quát" tìm thấy chứng cứ cho luận điểm "phổ biến" và "toàn cầu" của họ trong khái niệm về quyền con người. Là lẽ tự nhiên khi phe tự do dân chủ Mỹ bao gồm các thành viên của Quỹ Tự do biểu hiện của Nga tìm thấy các nhà hoạt động nhân quyền cùng chí hướng, hòa hợp tâm hồn chia sẻ cách suy nghĩ và nguyên tắc của họ. Ngoài ra sự gần gũi này đã phát triển hơn, bởi vì trong cả hai hoạt động nhân quyền Mỹ và Nga có một tỷ lệ đáng kể của người Do Thái. Đến nay ý kiến cho rằng phong trào nhân quyền Nga tồn tại giữa thập niên 60 đã được phát sinh trong môi trường trí thức tự do của người Do Thái, những nhân vật đã đưa nó vào sách vở là DT Ilya Ehrenburg, Ilya Ilf, và Isaac Babel…
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
huyphuc1981_nb (19-01-2013)