View Single Post
  #10  
Cũ 10-05-2012, 03:42
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền

“Chúng ta là hy vọng cuối cùng của nhân loại…” , Abraham Lincoln;

Bên trên đã nói về vai trò phe tự do (đảng dân chủ) trong việc tạo ra và hoạt động HRW, đối với phe này, vấn đề nhân quyền Xô viết và Đông Âu là phù hợp với tự do lợi ích (được phe bảo thủ đảng cộng hòa chia sẻ). Khái niệm hợp tác hòa bình được chấp nhận đầu những năm 60 và lấy làm chiến lược quốc gia dưới thời TT John F. Kennedy. Khái niệm này khác với học thuyết kiềm chế CS mang tên Kennan và do cả 2 đảng cầm quyền Cộng hòa cùng Dân chủ nắm giữ từ 1947. Tuy vậy, phần chung trong vấn đề chính sách đối ngoại lớn hơn sự bất đồng, khi cả 2 học thuyết đều dựa vào khái niệm đặc trưng là tinh thần Mỹ.

Đặc điểm cơ bản của CH Mỹ được kế thừa một cách có ý thức bởi cả giới đầu sỏ cai trị và quần chúng, đó là tư tưởng "nước Mỹ duy nhất""được Chúa chọn". Điều mà các nhà xã hội học nói, hệ tư tưởng khởi nguồn của một dân tộc được Chúa chọn, được đưa đến “miền đất hứa” của những người Anh phản kháng, trở thành chất kết dính của hệ tư tưởng quốc gia Mỹ. Các bài viết, bài phát biểu của các tiền bối sáng lập Mỹ, kể cả TT Liên minh Bắc Mỹ đầu tiên Thomas Jefferson, hay John Monroe, Abraham Lincoln, Teddy Roosevelt âm vang không chỉ những thông điệp, mà còn cả những độc ngôn về sứ mệnh đặc biệt của nước Mỹ trong “thế giới này”. Abraham Lincoln có câu phát biểu trứ danh: "Chúng ta những người Mỹ - niềm hy vọng cuối cùng của cả nhân loại." Còn đây là một đoạn văn Mỹ cổ điển viết: "Chúng ta những người Mỹ - dân tộc đặc biệt được chọn, chúng ta - Israel của thời chúng ta, chúng ta chèo lái con thuyền tự do ra thế giới" http://www.fordfound.org/

Tuy nhiên, khi mà nước Mỹ vẫn chỉ là sức mạnh lãnh đạo mỗi “Tân thế giới”, sứ mệnh “cứu thế” và “được Chúa chọn” của người Mỹ chỉ thấy được ở mỗi chỗ thiết lập kiểm soát lãnh thổ bắc và nam Mỹ cũng như thanh lọc chủng tộc lục địa bắc Mỹ khỏi người bản xứ India.

Lần đầu tiên khái niệm rõ ràng, cắt nghĩa cho tuyên bố của các tiền bối Mỹ về vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ được TT Woodrow Wilson đưa ra đầu thế kỷ XX. Khái niệm này đề ra 3 giá trị Mỹ quan trọng mà nước Mỹ phải “chèo lái” ra phần còn lại của thế giới: địa cầu, thị trường và dân chủ. Nhưng cho đến tận WW-II, những ý tưởng “tự do” vẫn không có khả năng phổ biến rộng và được ủng hộ ở xã hội Mỹ. Sau chiến tranh, tư tưởng định mệnh cứu thế và độc nhất Mỹ, Tin lành tự nhiên đã được “gia cố” quan trọng từ những kẻ mang giáo điều “Chúa chọn” khác dựa trên tôn giáo Judaic. Số lượng ít (6-8 triệu) nhưng tầm ảnh hưởng cao độ, cộng đồng DT Mỹ trong thập kỷ 70 đã chiếm lĩnh hàng đầu Mỹ trong kinh doanh, tài chính, khoa học, luật gia, truyền thông, những năm gần đây chiếm nốt CP Mỹ, QH Mỹ, Tòa án Mỹ, CQ Liên bang. Do đó mà chẳng phải tình cờ, số lượng lớn các đức tin Mỹ lại quay lại - như TG viết: "Nhiều tinh thần không dung thứ cổ điển Cựu ước và đức tin vào dân tộc chúa chọn hơn là phổ quát Tân ước, đạo thiên hướng hơn với khiêm tốn và ăn năn Cơ đốc hơn - trên tinh thần thế tục và chọn lọc”.

Ngay khi Mỹ tiến ra “mức độ quốc tế”, thì cũng là lúc gia tăng, mở rộng tuyên bố của họ về vai trò lãnh đạo thế giới và vai trò “cứu tinh” nhân loại khỏi đủ mọi loại “thách thức”. Sau WW-II, khi Mỹ trở thành quốc gia đầy sức mạnh về chính trị, kinh tế, kỹ thuật, quân sự của thế giới phi xã hội CN. Mỹ bắt đầu cho rằng mình đúng là thượng đẳng trên tất cả các quốc gia, các dân tộc khác, không chỉ ý niệm tôn giáo mà còn là văn hóa và văn minh. Mỹ lúc này bắt đầu đóng vai trò kẻ bảo lãnh “tự do dân chủ” toàn cầu và phổ biến giá trị Mỹ ra khắp thế giới.

Bốn khái niệm cơ bản trong chính sách đối ngoại Mỹ

Liên Xô đối với tầng lớp thống trị Mỹ không đơn giản chỉ là quốc gia thù địch hay xa lạ với Mỹ, xét trên các nguyên lý xã hội, kinh tế, chính trị và tư tưởng. Người Mỹ hiểu đó như một nền văn minh khác, và khi mà Liên Xô tỏ ra không thừa nhận tuyên bố bá chủ Mỹ, kiểu mẫu Mỹ và vai trò lãnh đạo thế giới Mỹ. Giới tài phiệt thống trị Mỹ không thể chấp nhận Liên Xô cả như một thực thể lớn và cả như mối đe dọa đến nước Mỹ, do đó chúng bằng mọi cách phải phá hoại Liên Xô hay ít nhất cũng phải làm cho Liên Xô chỉ có thể đứng thứ 2. Tương tự như Nhật Bản, cuối thập kỷ 80 Nhật đang đà vươn lên là nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, thì chúng đánh sập đồng yên và gây khủng hoảng Nhật bằng các thủ đoạn tiền tệ năm 1987.

Tuy nhiên, các nhóm tài phiệt Mỹ khác nhau có các phương pháp ưa thích khác nhau để quét sạch “toàn trị CS” ra khỏi thế giới. Hai phái thống trị lớn nhất Mỹ sau WW-II: tự do (dân chủ) và bảo thủ (cộng hòa) có cách hiểu, tiếp cận và định đoạt khác nhau trong việc đối nội và vấn đề kinh tế. Nhưng đối ngoại, cho đến tận ngày nay thì 4 khái niệm cơ bản vẫn là “hiện thực” ở Mỹ, cho dù là phe nào cầm quyền: biệt lập, thực dụng, can thiệp và chủ nghĩa quốc tế XHCN.

Biệt lập: người cầm đầu khái niệm này ngày nay là Pat Buchanan bên CH. Khẩu hiệu của nó là “Mỹ đầu tiên và trên hết”. Khái niệm này rất phổ biến trước WW-II. Sau WW-II nó mất dần ảnh hưởng khi Mỹ can dự vào chiến tranh thế giới và Liên Xô nổi lên trên chính trường quốc tế. Sau khi Liên Xô tan rã nó lại hồi sinh và bây giờ gây tranh cãi trong một bộ phận CH-thủ cựu. Những người theo khuynh hướng biệt lập thường hay chỉ trích tuyên bố tham vọng thống trị thế giới của Mỹ và hối thúc Mỹ không can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia khác, giới hạn chính sách ngoại giao trực tiếp vào việc bảo vệ lợi ích Mỹ.

Thực dụng: khái niệm này có sự khác biệt giữa thực dụng CH và thực dụng DC, gắn với đường lối ngoại giao thịnh hành trong thập kỷ 60-70. CN thực dụng chia sẻ ý tưởng Mỹ là kẻ bảo lãnh và che chở chính yếu của “thế giới tự do”. Do vậy mối đe dọa lớn nhất đối với lợi ích Mỹ được nhìn nhận là Liên Xô và CS Trung Quốc, thì người ta nhận thấy được hậu quả của chiến tranh hạt nhân là một thảm họa đối với Mỹ và thế giới. Vì thế cho nên cả hai nhánh thực dụng đã có chung chính sách hợp tác hòa bình, chấp nhận đề xuất của lãnh đạo Liên Xô giữa những năm 50. Theo đó, chấp nhận giảm đối đầu trong quan hệ quốc tế, hợp tác kinh tế, chính trị và văn hóa với LX, Đông Âu và TQ.

Khác biệt của 2 phái thực dụng CH và thực dụng DC là, phái CH thực dụng hơn và định hướng dân tộc chủ nghĩa hơn phái DC, không tự đặt cho mình trách nhiệm thay đổi thể chế chính trị-xã hội ở các quốc gia khác. Mức độ thù địch với các quốc gia CS không xác định dựa trên mức độ toàn trị mà dựa trên khả năng cạnh tranh của đối thủ, về địa chính trị đối với LX và TQ, kinh tế đối với LX, Czech, Đông Đức. Bảo thủ CH phê phán chính sách đối nội các quốc gia CS không dựa trên mối quan tâm chính về vấn đề vi phạm nhân quyền mà dựa vào việc thực hiện mở mang dân chủ, tự do thương mại và kinh doanh, quan hệ tư bản, cũng như thái độ đối với tôn giáo.

Chủ nghĩa thực dụng (CNTD) trong chính sách đối ngoại của phe bảo thủ CH, đặc biệt thể hiện rõ ở sự ủng hộ của CQ Mỹ đối với các “chế độ áp bức”, nếu các chế độ này thực hiện chính sách đối ngoại theo Mỹ, hay tạo điều kiện thuận lợi để các công ty Mỹ đầu tư và làm ăn. Đối với các tổ chức quốc tế như UN hay OSCE (An ninh và hợp tác châu Âu), thực dụng CH cũng chỉ coi là công cụ sử dụng cho các lợi ích quốc gia Mỹ, vì thế phe mà CH dễ dàng vi phạm hay phá vỡ các thỏa thuận quốc tế, sẵn sàng can thiệp quốc tế hay gây chiến nếu như như điều đó được cho là mang lại lợi ích cho quốc gia Mỹ. Điển hình của CNTD chính là Do Thái Henry Kissinger thời chiến tranh Việt Nam.

Phe tự do dân chủ thì thực dụng trong chính sách đối ngoại được xây dựng để bảo vệ lợi ích quốc gia mà không va chạm với các giá trị chung theo hiểu biết của họ. Do vậy mà, ông TT dân chủ John Kennedy tuyên bố bảo vệ triết lý Mỹ về tự do và nhân quyền. Không giống như phe bảo thủ, phe tự do không phân biệt các chỉ trích vi phạm nhân quyền giữa “cánh tả theo LX” và “cánh hữu theo Mỹ”do và chỉ trích vi phạm nhân quyền, còn DC bảo thủ thì chẳng cần phân biệt các chế độ độc đoán toàn trị kiểu “cánh tả thân Nga” hay “cánh hữu thân Mỹ”. Điều đó tạo nguyên cớ để phe cực hữu tin rằng hầu hết dân chủ cấp tiến đều là gián điệp CS. Chỉ trích các chế độ CS, thực dụng DC ít tập trung vào hệ thống chính trị “phi-dân chủ” hay vấn đề thị trường tự do mà tập trung vào vi phạm nhân quyền: tự do ngôn luận, hội họp lập hội, cư trú…

Không như CH bảo thủ thẳng thắn tuyên bố lợi ích quốc gia Mỹ là ưu tiên vô điều kiện, xếp trên cả các tổ chức và thỏa thuận quốc tế. Phe DC lại nhấn mạnh ưu thế của luật lệ và thỏa ước quốc tế như Thỏa ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights), Tuyên bố chung về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights). Tương tự, phe DC ủng hộ luận điểm hạn chế độc lập của tất cả các quốc gia kể cả Mỹ, ưu tiên nhân quyền trên độc lập quốc gia. Hậu quả là luận điểm này đã phát triển thành “can thiệp nhân đạo” như ở Nam Tư, Đông Ti-mo, Sierra Leone. Phe dân chủ có John Kennedy, Jimmy Carter, Bill Clinton, Edward Kennedy, John Kerry…

Can thiệp: còn được gọi với cái tên khác là “diều hâu”. Khởi đầu vào giữa thập kỷ 70, một nhóm trong phe CH, chủ yếu là phe CH nhưng cũng có cả bên DC như nghị sĩ Henry Jackson hay Jacob Javits. Nhưng phải nói là chủ nghĩa can thiệp có từ trước mà lãnh đạo là nhóm CS Do Thái Trotskist những năm 30-40, là Do Thái toàn tòng Irwing Kristol, Norman Podhoretz, Sidneu Hook, Frank Mayer.

CN can thiệp phê phán kịch liệt CQ dân chủ thời TT Jimmy Carter vì “tư tưởng hão huyền” trong vấn đề “mối đe dọa CS” cũng như chính sách “giải trừ quân bị” khi phải đương đầu với cuộc tấn công của thế giới CS vào “thế giới tự do” mà đứng đầu là Liên Xô. Họ cũng chỉ trích phe CH trong lập trường “phòng thủ”, chính sách thương mại và hợp tác kinh tế với các quốc gia CS thuộc “chế độ quỉ dữ”.

Tư tưởng gây hấn chiến tranh của CN can thiệp thường mang các biểu hiện của tôn giáo truyền thống dựa trên Ki-tô, tiêu biểu như nói “CS” là hệ tư tương vô thần, còn LX là hiện thân rõ rệt của “chế độ quỉ dữ”. Do vậy mà Chiến tranh lạnh với LX mang đặc điểm của một cuộc thập tự chinh và là sự giao phó cho CNTB. Khát vọng thống trị của CNCT mang vỏ bọc đạo đức và tôn giáo.

Bước vào cuối thập kỷ 70, CN can thiệp từ Irwing Kristol bắt đầu có cái tên "tân-bảo thủ” hay tân diều hâu. Một số trong bọn chúng như Paul Wolfowitz, Jeane Kirkpatrick, Donald Rumsfeld, Douglas Feith, Elliot Abrams, Richard Perle, Abram Shulsky vào đầu những năm 80 đã tham gia vào CQ Ronald Reagan mặc dù không nắm giữ những vị trí quan trọng. Cho đến thời CQ Bush, chúng đã nắm giữ hầu hết các vị trí quyết định để phát động can thiệp toàn cầu đội lốt “chống khủng bố”. Dĩ nhiên, ông TT dân chủ Obama lên nắm quyền, thì khủng bố lại thành bạn bè, thành những nhà nhân quyền, nhà dân chủ. Bạn hãy thử tìm xem Obama hay bà Clinton nói gì về đám Al Qaeda, Taliban!

Quốc tế: dân chủ cánh tả và phái XHCN thuộc đ. DC, các thành phần phi đảng phái và đảng Xanh cũng gia nhập cái chủ nghĩa quốc tế này, tuy nhỏ nhưng hoạt động tích cực trong lĩnh vực thanh niên, sinh viên. Mặc dù hầu hết phủ nhận mình không phải là Mác-xít nhưng trong nhiều hoạt động chính trị lại có chung mục tiêu với phong trào CHXH và các đảng phái ở Mỹ Latinh, Cuba, Sandinistas, Nicaragua, El Salvador và nhóm cánh tả Colombia. Các nhà quốc tế chủ nghĩa lên án đế quốc Mỹ ủng hộ các chế độ độc tài, lên án bóc lột các nước thế giới thứ 3 và phản đối chạy đua vũ trang… tiêu biểu là Noam Chomsky và Alexander Cockburn.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
huyphuc1981_nb (19-01-2013), Nina (10-05-2012)