Human Rights Watch - HRW (Giám sát nhân quyền) — trên danh nghĩa là một tổ chức Phi chính phủ (NGO) có mục đích bảo vệ quyền con người trên 70 quốc gia và trụ sở chính đóng ở Mỹ. HRW về mặt hình thức không nhận đóng góp tài chính từ các cơ cấu của chính phủ Mỹ, mà chỉ từ các quyên tặng cá nhân. Cho dù là
tự giới thiệu hay
Wikipedia viết về HRW, thì tốt hơn hết cần hiểu vì cái gì mà các cá nhân gây quĩ cho HRW.
Lịch sử và Mục đích
Không gì khác hơn là công cụ chính trị của giới đầu sỏ tự do-toàn cầu Mỹ (thực chất là Do Thái Mỹ), đầu đề của nguồn tham khảo. Vậy mà hiện nay, chúng lại là mốt thời thượng, "phe đối lập" ở các quốc gia thường viện đến cái mốt này, giới đầu sỏ dùng cái mốt này gây áp lực lên chính quyền Mỹ, Quốc hội Mỹ để ra các chính sách ép buộc chính các công ty Mỹ và các quốc gia chúng không ưa. Nhẹ thì là "báo cáo nhân quyền", "nghị quyết", nặng thì là cấm vận, bao vây kinh tế... Nhưng không chỉ có thế. Có cả áp lực nặng nề đến "Liên hiệp quốc", tổ chức quốc tế lớn nhất được cho là cầm cân nảy mực, là công lý và dĩ nhiên không thể thiếu chiến tranh với cái cớ nhân quyền, can thiệp nhân đạo. Ngày nay "nhân quyền" là nguyên cớ của khá nhiều cuộc chiến tranh mà trong đó quyền sống của con người còn không được chúng bảo đảm, nói gì đến nhân quyền.
Thật đáng xấu hổ. Ấy thế mà các nhân sĩ nước
nhà sử học nọ, cũng bắt đầu lảm nhảm. Hiện tượng "tai vểnh lên, mõm nhọn ra..." đã nói ở bài #24; Dĩ nhiên tôi cũng có thể viết ra các pho sách đồ sộ, trong đó nói rằng, có mối liên kết chặt chẽ giữa đảm bảo sức khỏe và phát triển kinh tế... nên để phát triển phải đầu tư vào ý tế!!!... WB, IMF là thủ phạm của Liên Xô sụp đổ với liệu pháp sốc và tư nhân hóa mà chúng giới thiệu, của đói nghèo châu Phi, của gánh nặng khai thác tài nguyên trả nợ ở các nước thế giới thứ 3, của nợ công và khủng hoảng thế giới hiện nay, chúng nổi tiếng không phải vì những khoản đầu tư, khoản cho vay mà vì khoản gây áp lực chính trị và đặt điều kiên thưa nhà sử học đáng kính!
Lịch sử HRW có thể tính đến là bắt đầu từ tháng 7 năm 1973 khi một nhóm 11 nhà văn, sử học và nhà xuất bản Mỹ thành lập Ủy ban bảo vệ
Andrei Amalrik, một nhà nghiên cứu và xuất bản một số tác phẩm bất đồng chính kiến với CQ Xô viết bị xét xử. Trong ủy ban kia, có các nhà văn Mỹ có tiếng là Arthur Miller, John Updike, Robert Penn Uorren, nhà sử học Harrison của Salisbury và các nhà xuất bản sách lớn như William Jovanovich, JohnWiley and Sons,
Robert L. Bernstein (Random House), Vintrop Knoulton (Harper & Row).
Vị chủ tịch nhà xuất bản Random House Robert L.Bernstein (người truyền cảm hứng và tổ chức ra ủy ban này) là một thương gia có quan điểm tự do, trước đó đã từng gây quĩ cho tổ chức “Tự do ngôn luận”.
Ủy ban này tuyên bố Amalrik đã bị kết án vì “công khai bày tỏ suy nghĩ” và thúc giục CQ Xô viết “khôi phục các quyền hợp pháp, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận và quyền tự do ra nước ngoài nếu anh ta muốn”. Năm sau, ủy ban này phát động chiến dịch ủng hộ nhà hoạt động đang bị quản chế
Vladimir Bukovsky. Tuyên bố của ủy ban bao gồm phát ngôn về quyền tự do và quyền được bảo vệ của tù nhân cũng như quyền được thăm nom, thư từ, quyền có luật sư và quyền được chăm sóc y tế. Đặc biệt ủy ban này nhấn mạnh Bukovsky là nạn nhân bị đàn áp bởi chuyển công khai và hợp pháp cho phương Tây “tài liệu bằng chứng về xâm phạm quyền con người” trong chế độ Xô viết.
Năm 1976 Robert Bernstein đã đến Mat-xcơ-va thăm nhà vật lý hạt nhân bất đồng, hoạt động nhân quyền A.D.Saharov và một số các chuyên gia có tiếng khác. Buổi nói chuyện kéo dài nhiều giờ với họ đã làm cho Bernstein có ý tưởng tạo dựng ở Mỹ một tổ chức có thể hỗ trợ thường xuyên, có hệ thống cho các nhà hoạt động Xô viết. Hai năm sau thời điểm này, tại Mat-xcơ-va và nhiều thành phố Liên Xô khác xuất hiện các nhóm giám sát nhân quyền được CQ Xô viết cho phép hoạt động theo
Thỏa thuận Helsinki. Robert Bernstein cũng thành lập tại New York tổ chức giám sát nhân quyền mang tên Ủy ban giám sát Helsinki Mỹ (US Helsinki Watch). Nhiệm vụ của nó được tuyên bố là bảo vệ các nhóm nhân quyền và ở Liên Xô, Đông Âu và hỗ trợ hoạt động của họ bằng con đường công khai hợp pháp dựa trên thực tế xâm phạm nhân quyền ở các quốc gia này.
Khác biệt cơ bản của US Helsinki Watch với các nhóm nhân quyền Armenia, Ukrainia, Lithuania, Estonian và Liên Xô và các nước Xô viết khác là US Helsinki chỉ chú ý đến vấn đề nhân quyền của các nước Xô viết. Trong khi trách nhiệm giám sát nhân quyền theo Thỏa thuận Helsinki là ở tất cả các quốc gia đã ký kết. US Helsinki Watch công khai tuyên bố nhiệm vụ là ở Xô viết và Đông Âu. Chúng không có trách nhiệm ở Mỹ và phương Tây.
Tạo ra được Helsinki thực sự là cả một cuộc cách mạng. Cho đến lúc đó, vào cuối những năm 1970 chỉ có các tổ chức quốc tế như
Ân xá quốc tế (International Amnesty) hay
Liên đoàn quốc tế về nhân quyền (International Federation for Human rights - FIDH) hoạt động. FIDH lập năm 1922 có trụ sở ở Paris bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên. Một tổ chức khác của LHQ là Ủy ban nhân quyền LHQ đóng tại Geneva hoạt động trong khuân khổ hiến chương LHQ.
Cho dù đã tồn tại một số tổ chức qua một vài nhiệm kỳ, thì sau đó cái tổ chức núp dưới cái tên Giám sát nhân quyền - HRW vẫn được thành lập. Cho đến tận ngày nay, chỉ duy nhất Ban lãnh đạo HRW và Hội đồng cố vấn có quyền xác định các mối quan tâm và đưa ra chính sách. Người nước ngoài tham gia vào ban lãnh đạo và cố vấn HRW rất ít ỏi và chỉ đếm trên đầu ngón tay. Không có bất cứ tổ chức
có trách nhiệm và chính danh nào khác đụng vào được HRW, cho dù là LHQ hay các tổ chức quốc tế, cũng như cả QH Mỹ, CQ Mỹ hay Tòa án Tối cao Mỹ.
Ban đầu, tất cả các nhân viên của US Helsinki Watch chỉ gồm có vài người. Robert Bernstein tự mình làm chủ tịch, ông phó là vị luật sư của phố Wall Orville Hickok Schell, các thành viên thuộc các đoàn luật sư nổi tiếng Hughes, Hubbard & Reed, và Adrian DeWind, cũng như các đoàn Paul, Weiss, Rifkind, Wharton & Garrison. Trong đó cũng có cả vị luật sư nổi tiếng Aryeh Neier, từng là giám đốc quốc gia của
Liên đoàn tự do dân sự Mỹ (American Civil Liberties Union - ACLU), và
Jeri Laber, một người đấu tranh cho quyền tự do dân sự Mỹ. Sau đó một chút, có cả vị luật sư Mỹ hàng đầu về luật quốc tế Jerome J. Shestack, ông này là người sáng lập và chủ tịch của Ủy ban luật sư dân sự Mỹ năm 1963 cũng như lập và làm chủ tịch Ủy ban luật sư về nhân quyền năm 1977.
Nhắc lại Jeri Laber, cần phải nói là Robert Bernstein đã từng nói “Tiên đoán rằng nhóm nhỏ tập trung quanh bàn hội nghị của nhà xuất bản Random House, một ngày nào đó sẽ trải rộng khắp thế giới.” Dường như lúc đó, Bernstein đã thực sự có lý do quan trọng để phát biểu mạnh như vậy. Như tư liệu viết 20 năm sau, năm 1998, bởi vị chủ tịch HRW khi đó, cũng đồng chủ tịch quĩ Mac-Arthur là Dzhonatan Fanton, Robert L.Bernstein được Hội đồng ủy trị quĩ Ford, và Arthur Goldberg, một kẻ là chủ tịch Hội đồng Do Thái Mỹ, đại diện Mỹ tại LHQ dưới thời tổng thống L. B. Johnson đề nghị giữ cương vị chủ tịch US Helsinki Watch.
Cũng cần phải nói đôi điều về quĩ Ford, được lập vào năm 1936 bởi nhà quản trị dây chuyền sản xuất xe hơi nổi tiếng Henry Ford. Tuy nhiên, đến thập kỷ 50, quĩ Ford đã bị chuyển giao cho Hội đồng ủy trị quĩ, đằng sau nó là cả một câu chuyện dài mà sau này ta sẽ đề cập nếu có dịp. Những kẻ ủy trị này không có bất cứ liên hệ nào với gia đình ông Ford. Ngày nay, cái hội đồng ủy trị này gồm gần 20 vị, trong số đó gồm có những vị là giám đốc, chủ tịch các tổ hợp công nghiệp-tài chính lớn nhất Mỹ như XeroxCorp., АlcoaInc., Coca-ColaCo., Carlyle Asset Management Group. Cũng kể từ 1950 quĩ Ford tài trợ cho các dự án tài chính, “tập trung vào Liên Xô và các nước Đông Âu”. Giai đoạn 1950-1988, đã có khoảng 60 triệu USD được dùng để “hỗ trợ tự do ngôn luận, đa dạng văn hóa, và giám sát nhân quyền”. Năm 1989, Hội đồng ủy trị Ford “đã quyết định ủng hộ trực tiếp các "tổ chức tiến bộ" tại Liên Xô, Ba Lan, Hungaria và sau đó là CH Czech, để thúc đẩy tiến bộ quá trình dân chủ hóa và cải tổ kinh tế ở các nước này. Cùng mục đích như thế, giai đoạn 1989-1994 đã sử dụng khoảng 30 triệu USD.”
Không chỉ có những chính trị gia tên tuổi theo xu hướng tự do (Arthur Goldberg, Are Nejer, Dzherom Shestak) tham gia trực tiếp vào hình thành tổ chức nhân quyền mới HRW, mà còn có các tổ hợp công nghiệp-tài chính lớn nhất Mỹ, do đó mà nói rằng HRW là "tổ chức quần chúng" (grassroot) là không hề có bất cứ cơ sở nào. Vậy thì động cơ nào khuyến khích và thúc đẩy phe tự do Mỹ bảo vệ nhân quyền ở Liên Xô và Đông Âu? Chính sách đối nội đối ngoại trong bối cảnh US Helsinki Watch như thế nào?
Năm 1989, các tổ chức nhân quyền Mỹ đã thống nhất trên cơ sở nhóm US Helsinki Watch lập thành một tổ chức lấy tên Giám sát nhân quyền (Human Rights Watch - HRW), các lãnh đạo và các cố vấn hợp nhất của HRW sau đó đổi tên thành Ban giám đốc HRW. Robert L. Bernstein trở thành chủ tịch HRW, phó là luật gia Adrian DeWind. Cựu lãnh đạo Liên đoàn tự do dân sự Mỹ - ACLU Aryeh Neier làm giám đốc điều hành, phó điều hành là “ngôi sao đang lên” về lập quyền con người-luật sư Kenneth Roth. Hội đồng cố vấn HRW gồm 22 vị, một phần là các quản lý, cố vấn các chi nhánh HRW, một phần là quản trị các quĩ hùng mạnh cũng như các tỷ phú hay làm “từ thiện” như là Dorothy Cullman và Irene Diamond.
Robert Bernstein vẫn giữ chức chủ tịch US Helsinki Watch. Làm phó cho hắn ta là nhà sử học-chủ tịch New School University Jonathan Fanton và luật gia Alice H. Henkin, một trong những giám đốc của Viện, “bộ não” có ảnh hưởng nhất là Aspen. Trong cơ cấu của Hội đồng cố vấn US Helsinki Watch bao gồm cả các nhà khoa học tên tuổi Hans Bethe và Jerome Wiesner, nhà văn Ed Doctorow và Arthur Miller, mục sư Robert Drinan và giáo sĩ Do Thái Rolando Matalon, Farenthold và Stanley Sheinbaum là cựu hoạt động cho phong trào chống chiến tranh Pháp, luật gia quốc tế Marvin Frankel và Theodor Meron-vị chủ tịch tương lai của cái gọi là Tòa án quốc tế - international Tribunal trải rộng khắp cựu Nam Tư. Chưa hết, hiện còn có nhà băng tỷ phú Bernard Aidinoff, Ellen Futter, Felix Rohatyn, một số trong 3 kẻ này là giám đốc lâu năm của nhà băng Salomon Brothers, ông vua-tỷ phú phố Wall John Gutfreund. Giám đốc điều hành US Helsinki vẫn là Jeri Laber. Giám đốc “nghiên cứu” Catherine Fitzpatrick thì đã rời HRW vào cuối thập kỷ 80 do bất đồng chính sách chiến lược với ban lãnh đạo mới.
Vấn đề tài chính của tất cả các nhiệm kỳ HRW hầu hết đều dựa vào các quĩ Do Thái. Trong số đó có thể kể tên Aaron Diamond Foundation, J.M. Kaplan Foundation, Revson Foundation, Scherman Foundation. Cũng như cuối thập kỷ 70 HRW được tài trợ từ quĩ Ford. Trong số các nhà “tài trợ” mới là quĩ tỷ phú có tiếng nhân đức như MacArthur Foundation, John Merck Fund, J. Mertz-Gilmore Foundation. Tài chính và hoạt động do Bernstein gây dựng từ đầu thập kỷ 70 được dùng cho “tự do ngôn luận” chi tiêu của các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật có tiếng như Аrthur Miller, Kurt Vonnegut, EL Doctorow, John Updike, kể cả Dorothy Cullman, Irene Diamond, Mark Kaplan.
Bạn biết, hay đã đọc/xem bao nhiêu tác phẩm của những cái tên trên?
Nhưng những quyết định “trọng yếu” nhất ảnh hưởng không chỉ đến tính chất cũng như sự lựa chọn mục tiêu phê phán của HRW mà còn là nhiệm vụ của chính tổ chức này, khi HRW trở thành “đồng minh” của kẻ cơ hội kiếm chác từ các vụ đầu cơ khủng hoảng quốc tế (sát thủ kinh tế)-tỷ phú George Soros. Hắn ta đến với HRW không chỉ một mình, còn có vợ hắn là Susan, một nhà đầu tư của quĩ Quantum, các tỷ phú John Gutfreund và John Studzinski, vợ của nhà quản trị quĩ Stanleu Druckenmiller là Fiona Druckenmiller, và thậm chí các nhân viên các công ty và các quĩ mà Soros sở hữu, cùng các nhà phân tích chính trị nổi tiếng Barnett Rubin và William D. Zabel, cũng như nhân vật ngoại giao Warren Zimmermann.
Một số nhân viên trong cơ cấu và vẫn giữ các chức vụ HRW đã cùng lúc làm việc và trở thành tay chân của Soros như Thành viên quản trị và Chủ tịch HRW chi nhánh châu Âu và Trung Á, cựu US Helsinki Watch, phóng viên Peter Osnos thành giám đốc điều hành nhà xuất bản của Soros. Thành viên Hội đồng cố vấn chi nhánh quyền phụ nữ đấu tranh vì quyền đồng giới Gara LaMarche trở thành phó Văn phòng New York của
Viện Xã hội mở của Soros.