View Single Post
  #273  
Cũ 04-04-2012, 20:17
Kóc Khơ Me's Avatar
Kóc Khơ Me Kóc Khơ Me is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Oct 2009
Bài viết: 1,209
Cảm ơn: 1,928
Được cảm ơn 4,011 lần trong 925 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Kóc Khơ Me
Default

Tối hôm qua 03.04.2012 chính quyền thành phố Hải Phòng đã công bố toàn bộ kết quả thực hiện kết luận của TTg ngày 10.02.2012 về vụ việc Tiên lãng. Chuyện đúng sai của các bên không là điều bất ngờ vì đã được các người quan tâm phân tích mổ xẻ từ lâu theo nhiều "kiểu nhìn" lúc thì lý trí, khi lại vận dụng tình cảm để "thay lời muốn nói" với chính quyền các cấp, vừa là đóng góp vừa là trách móc, phê phán các rối rắm của chính sách pháp luật nước nhà thời hội nhập.

Việc phân tích các văn bản pháp qui của Bộ Thủy sản, của UBND Thành phố HP và chính quyền huyện TL về vấn đề đất đai chắc không còn cần thiết nữa. Đọc đi đọc lại các văn bản đó chỉ cho thấy rằng nội dung mà các văn bản truyền tải rất chi tiết, rất cụ thể. Từ đặc điểm tình hình địa phương, hiện trạng sử dụng khai thác bãi bồi, sự lãng phí và chưa công bằng trong giao/thuê mặt nước ven biển, sự quyết tâm đầu tư của nhà nước cùng với biện pháp qui hoạch lại để đem lại hiệu quả nhiều hơn cho cả người dân lẫn nhà nước, các tính toán chi tiết về chi phí đầu tư, về hạn mức và thời hạn giao/thuê đất, miễn giảm tiền sử dụng đất, các loại thuế má… Các nội dung đều có căn cứ thực tế và phản ánh các tác động đến loại hình “đất bãi bồi” đặc trưng ven cửa sông, ven bờ biển. Tất cả là những trăn trở rất nghiêm túc của chính quyền từ cấp thành phố đến huyện Tiên Lãng… từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước cho đến ngày nay.

Nhưng không hiểu sao trong đầu Kóc lại cứ có điều gì đó không tự giải thích được. Đó là về nhận thức trách nhiệm, nhận thức công việc thì các cấp chính quyền rất tập trung vào cái "đất mới bồi ven biển" dọc theo đê biển, quyết tâm cải tạo nó bằng nhiều biện pháp để đem lại lợi ích nhiều nhất cho đất nước nói chung, cho địa phương nói riêng, trong đó có cả những người dân trong và ngoài xã Vinh Quang.

Thế nhưng khi đi vào xử lý những việc cụ thể như trường hợp hộ gia đình ông Vươn chẳng hạn thì lại "cố ý" xem đây là loại "đất có mặt nước ven biển" tức là loại đất nông nghiệp ổn định chỉ có thể giao lâu dài và theo hạn mức "nghiêm ngặt" rồi biến thái vi phạm tùm lum một cách có hệ thống ngay từ lần giao đầu tiên năm 1993, cả trong lần giao bổ sung năm 1997. Không thể lý giải được tại sao!

Đến sau ngày luật đất đai 2003 có hiệu lực, có lẽ chính quyền TL lúc ấy đã nhận ra cái chưa đúng nên bắt tay vào sửa sai (QĐ 127/2003; KH58..). Khi này thì không hiểu do nóng vội với nhiệt tình quá mức hay sao mà không tỉnh táo thấy rằng chỉ cần thu hồi đất đã giao vượt hạn mức đã hết hạn theo khoản 10 điều 38 để chuyển thành thuê với thời hạn tối thiểu (5 năm chẳng hạn) rồi sau đó hãy thu hồi luôn để giao sử dụng đúng theo qui hoạch, kế hoạch mới nếu đất đai khu vực này đã được thuần hóa thành loại đất nông nghiệp mang tính ổn định. Tạo nên những làng xóm mới, nông thôn mới phù hợp với cái mục đích ban đầu của cái quyết định 773/1994 của chính phủ, phù hợp với chính sách "tam nông" hiện nay. Phần đất nào chưa thể sản xuất ổn định thì lại tiếp tục tạm giao, tiếp tục cho thuê theo điều 80 luật 2003.

Xin tạm dừng tại đây với bài viết sau của tác giả Thanh Thư báo Đại Đoàn kết:
Sử dụng đất bãi bồi ven sông, ven biển: Cần thực giao - thực quản

Nước ta có trên 3.200 km bờ biển, hàng trăm ngàn km dọc các bờ sông, quanh hồ, đầm, từ Bắc chí Nam nên diện tích đất bãi bồi rất lớn.

Chỉ một khái niệm "đất bãi bồi” thôi mà mỗi năm có hàng trăm vụ khiếu kiện liên quan đến những tranh chấp trên loại đất này. Bộ TN&MT mới đây có Công văn số 371 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc kiểm tra, rà soát việc sử dụng đất bãi bồi ven sông, ven biển, yêu cầu báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý về Bộ TN&MT trước ngày 29-2-2012 để Bộ tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3-2012.

Đất bãi bồi có đến trên 80% là đất hoang hóa, đất mới do phù sa bồi lấp nên. Chiếm diện tích nhiều nhất vẫn là đất bãi bồi ven biển và ven sông.Trước đây, đất bãi bồi có cho cũng ít người lấy bởi chẳng mấy giá trị. Từ khi mở kinh tế thị trường, đất bãi bồi ngày càng có giá. Nhưng Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chưa có định nghĩa, hướng dẫn cụ thể về đặc điểm loại hình, chức năng quản lý đất bãi bồi một cách rõ ràng, nên đã gây nhiều tranh cãi và thực tế phát sinh nhiều hệ lụy, tranh chấp, khiếu kiện...

Đã luật hóa nhưng chưa rõ
Đất bãi bồi được đưa vào Luật Đất đai 2003, tại Chương 3, mục đất nông nghiệp. Theo điều 80 của Luật này, đất bãi bồi ven sông, ven biển bao gồm đất bãi bồi ven sông, đất cù lao trên sông, đất bãi bồi ven biển và đất cù lao trên biển. Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất này hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối.

Đất bãi bồi ven sông, ven biển chưa sử dụng được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối. Vẫn theo Luật, đặc trưng riêng của đất nông nghiệp bãi bồi là quyền được phép khai hoang, thuê đất, sử dụng đất theo hợp đồng không bị phụ thuộc nhiều vào hạn điền. "Hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất bãi bồi ven sông, ven biển thì được tiếp tục sử dụng theo thời hạn giao đất còn lại”.

Tuy nhiên có nơi coi khu dân cư đã ổn định cả gần một thế kỷ ven sông là đất bãi bồi để áp đặt quy định của Luật Đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP để giải quyết về các quyền đất đai, gây ra những bất công, bất đồng, bất bình, nảy sinh nhiều khiếu kiện. Có nơi như một số tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ và dọc vùng ven biển cực Nam Trung Bộ coi các bãi nghêu cũng thuộc đất bãi bồi, nhưng thực chất là nửa bồi, nửa ngập nước. Hầu như chưa có luật hoặc những quy định cho rõ và sát thực tế cho loại hình đất bãi này. Những cuộc tranh chấp bãi nghêu đã diễn ra liên tục nhưng rất khó giải quyết dứt điểm.

Còn tại Cà Mau, khu vực Đất Mũi (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển), nơi trước kia mỗi năm bồi lấn ra biển hàng trăm mét thì nay lại gây nhiều sự chú ý nhất do tình trạng sạt lở. Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, thành viên Ban Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước về phòng chống thiên tai, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường cho rằng, cần xây dựng bản đồ xói lở và bản đồ bồi lắng. Song quản lý và sử dụng diện tích đất bồi không bền vững này bằng cách nào?

Chưa hiện thực hoá giấc mơ "đất bồi nở hoa”?
Nhìn rộng toàn quốc, do tính chất đặc thù vốn có và những phát sinh mới theo thời gian, địa hạt, nên dù đã được đưa vào Luật Đất đai nhưng quyền quản lý, quyền sử dụng, quyền sở hữu đất bãi bồi vẫn bị vận dụng tuỳ tiện.
Chính do Luật quy định "Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do UBND xã, phường, thị trấn đó quản lý. Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý và bảo vệ theo quy định của Chính phủ”, nên chính quyền một số địa phương dựa vào đó để chuyển từ chức năng quản lý Nhà nước sang chức năng địa phương được toàn quyền sử dụng, chi phối, gây thiệt hại cho người dân.

Có không ít bãi bồi ven cửa biển, ven sông, ven hồ, đầm do dân khai thác đã mấy chục năm, người dân đã tự khai hoang, chắn sóng, bỏ nhiều công sức quai đê bao, hình thành khu dân cư ổn định, nhưng nay chính quyền địa phương lại vin vào đất bãi bồi mà không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ. Lại có hiện tượng đất bãi bồi trở thành nơi "phát canh thu tô” của chính quyền cấp huyện, xã, phường, thị trấn. Người dân canh tác trên đất bãi bồi luôn lo lắng bởi sợ địa phương lợi dụng hai chữ "quản lý” để coi như chính quyền được toàn quyền sử dụng!

Năm 2011, khi Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Mạnh Hiển làm việc tại Tiền Giang, Giám đốc Sở TN&MT Phan Thanh Hiền thay mặt UBND tỉnh báo cáo kết quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai cũng cho biết, việc giải quyết hồ sơ xin thuê đất bãi bồi của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Điều 80 Luật Đất đai quy định đất bãi bồi ven sông, ven biển chỉ được nhà nước cho thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối. Nhưng thực tế ở địa phương rất nhiều tổ chức, cá nhân lại có nhu cầu sử dụng đất bãi bồi ven sông để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp.

Lập đoàn kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất bãi bồi
Bộ TN&MT vừa cho biết, trong tháng 3-2012, Bộ sẽ thành lập một số đoàn kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất bãi bồi ven sông, ven biển trên địa bàn một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trước đó, đối với đất bãi bồi ven sông, ven biển, Bộ TN&MT đã đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất trên địa bàn và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý những vi phạm (nếu có) theo đúng quy định của pháp luật.

Với tiềm năng các địa phương có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, nếu đất cồn, đất bãi bồi được các ngành cùng chính quyền địa phương có kế hoạch phối hợp quản lý, khai thác sử dụng một cách chặt chẽ đúng pháp luật, sẽ tạo một nguồn lực không nhỏ góp phần ổn định và phát triển kinh tế của địa phương.


p/s: Kóc cám ơn trang GOOGLE.TIENLANG đã đăng tải một số văn bản có liên quan mà Kóc sử dụng trong các bài viết của mình. Hãy "sống và làm việc theo pháp luật!". Cám ơn tất cả những ai đã từng đọc qua các bài viết này!
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза...
Album Скучаю по России

Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 04-04-2012 thời gian gửi bài 21:27
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Nina (04-04-2012)