Những vấn đề của Khu đầm diện tích 19,3ha
Như đã rõ đối với khu đất 21ha
được giao hợp pháp nhưng vượt mức hạn điền trước ngày 15/10/1993 đã có những điều khoản của Luật Đất đai từ 1993 đến 2003
dành riêng để xử lý nó mà không cần phải “lăn tăn” nhiều, thì khu đầm diện tích 19,3ha lại có nhiều vi phạm ngay từ đầu ở cả 2 phía chính quyền và người dân.
Trước hết đây là diện tích mà hộ gia đình Đ.V.V tự ý khai phá bên ngoài khu 21ha đã được cho phép từ tháng 10/1993.
Tại Tờ trình ngày 2/3/1997 ông Vươn đã thừa nhận việc khai phá diện tích 800x550m=44ha, vượt 23ha so với diện tích được giao hợp pháp theo QĐ 447/QĐ-UB năm 1993 và xin cấp thẩm quyền giao bổ sung phần diện tích này. Sau đó căn cứ vào điều 24,
48 và 79 Luật 1993 chính quyền TL đã ban hành QĐ 220/QĐ-UB đồng ý giao bổ sung 19,3ha cho ông Đ.V.V với thời hạn 14 năm tính từ
04/10/1993 với mục đích nuôi trồng thủy sản.
Việc căn cứ vào
điều 48 Luật ĐĐ1993 để giao đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp chứng tỏ rằng chính quyền TL công nhận đây là “
đất có mặt nước ven biển” chứ không phải là “
bãi bồi” theo
điều 50 của Luật ĐĐ1993.
Trích:
Điều 48
Việc sử dụng đất có mặt nước ven biển để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp theo các quy định sau đây:
1- Đúng quy hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
2- Bảo vệ đất, làm tăng sự bồi tụ đất ven biển;
3- Bảo vệ hệ sinh thái và môi trường;
4- Không gây trở ngại cho việc bảo vệ an ninh quốc gia và giao thông trên biển.
Điều 50
Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định.
|
Người nào biết về luật và biết về ngành quản lý đất đai, TNMT đều hiểu rõ “
đất có mặt nước ven biển” khác xa với “
đất mới bồi ven biển” như thế nào, qui định sử dụng ra sao… Mà việc xác định loại đất nào thì phải căn cứ vào thực tế sử dụng, qui hoạch, kế hoạch SDĐ được lập và phê duyệt đúng theo các qui định chứ không thể tùy tiện được.
Theo điều 88 Luật ĐĐ1993:
Trích:
Điều 88
Luật này thay thế Luật đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Luật này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993.
|
Đến đây thì bắt đầu xuất hiện những “
xung đột” pháp lý khi xét độc lập phần diện tích 19,3ha này hay xét kết hợp với phần 21ha được giao năm 1993 cả về thời hạn tính, hạn mức và hình thức giao/thuê hay hợp tác đầu tư theo dự án… Tại sao:
1./ Nếu căn cứ vào
điều 48 thì lại phải căn cứ vào
mức hạn điền đã được qui định tại Luật này và tại
NĐ64/1993. Về thời hạn thì phải tính từ ngày giao 04/1997. Phần ngoài hạn mức thì áp dụng khoản 1 điều 13 là chuyển sang cho thuê, hoặc khoản 2 điều 13 để thu hồi giao cho người khác… Trong trường hợp nghiêm trọng còn có thể căn cứ vào điều 85, 86,87 của Luật 1993 để xử lý:
Trích:
Điều 85
Người nào lấn chiếm đất, huỷ hoại đất, chuyển quyền sử dụng đất trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 86
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, quyết định xử lý trái pháp luật hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 87
Người nào có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc bị xử lý theo quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Luật này, còn phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
|
2./ Nếu căn cứ vào
điều 50 thì lại phải áp dụng “
Quyết định 773/1994-Ttg về Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hóa, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng” được cụ thể hóa bằng các Dự án như “
Dự án đầu tư khai thác vùng bãi bồi ven biển huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng”,
Dự án Vinh Quang 2,… Rất tiếc là Kóc chưa rõ nội dung cụ thể của các dự án này về hình thức giao/thuê, hạn mức, thời gian, giá trị đầu tư góp vốn… nên xin phép chưa nói sâu hơn theo hướng này được..
Điều thú vị là
điểm sai "gốc" này chưa được bất kỳ bloggers, còm sĩ, TS, GS, Nhà văn/báo, luật gia nào chỉ ra ngoại trừ tiềm ẩn ý trong kết luận ngày 10/2/2012 của ông Ngàn Cân:
Trích:
|
Quyết định số 220/QĐ-UB ngày 9 tháng 4 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Lãng giao bổ sung 19,3 ha đất cho ông Đoàn Văn Vươn vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản với thời hạn 14 năm, tính từ ngày 4 tháng 10 năm 1993 là đúng thẩm quyền và phù hợp với thực tế sử dụng đất. Tuy nhiên quyết định này không đúng với quy định của pháp luật đất đai về giao đất, cho thuê đất; về thời hạn giao đất và thời điểm tính thời hạn giao đất.
|