View Single Post
  #92  
Cũ 19-02-2012, 10:44
nqbinhdi nqbinhdi is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2009
Đến từ: Hanoi
Bài viết: 1,469
Cảm ơn: 1,185
Được cảm ơn 4,002 lần trong 1,122 bài đăng
Default

Trích:
Old Tiger viết Xem bài viết
Bẩm cụ quái: Theo nhà cháu biết thì Cốc San chứ không phải Cốc Sam. Và, quân Tàu hồi đó tiến đúng đến cầu Phố Lu (dưới Ga phố Lu) thì bị chặn lại ạ.

Có gì không phải mong cụ nhẹ tay ạ.
Hô hô,

Có đứa bị nhà mình đá đểu (chả biết đá trúng vào cái chi mà xem ra từ hổm rồi vẫn thấy anh ách anh ách), không biết phản pháo bằng chuyện chi mới cố mõi mấy cái chiện lãng xẹt này. Chỉ là y biết một mà không biết hai thoai. Thì nghe nhé.

Các địa danh ở VN thì hay có nhiều cách gọi na ná nhau, là do dân người gọi thế này, kẻ nói thế khác. Lính tráng thì thường không phải dân bản xứ lại gọi theo tên trên bản đồ tác chiến, có khác cũng là chuyện rất thường tình. Cũng cần nói thêm là, bản đồ thì ngày trước chủ yếu là in lại theo bản đồ có từ thời Pháp thôi (mấy năm chiến tranh, người người ra trận, mọi của cải đều đổ ra tiền tuyến cả, còn đâu người và phương tiện mà đi đo/vẽ bản đồ chi tiết tất cả miền Bắc chứ), có sai khác với tên gọi dân dã cũng là thường. Thế nên mới có các tên gọi như Hồng/Hòn Gai, Lao/Lào Cai, Yên Bái/Báy, Hòn Dấu/Dáu, vân vân và vân vân.

Cái ngã ba Cốc Sam/San kia cũng vậy. Dân Kinh đi khai hoang thì gọi là Cốc Sam, trên bản đồ tác chiến cũng ghi là Cốc Sam, còn dân địa phương gọi nó thế nào lão đâu có hay bởi ngày ở trên đường từ ngã ba ấy sang Phố Lu (lão cũng mới chỉ lên đến đó chiều 20 thì tối 22-2 gì đó đã có lệnh rút, sáng sớm tờ mờ hôm sau pháo TQ đã nã dày đặc vào đó, tốp lính cuối cùng thu dọn dây và tổng đài dã chiến của quân khu bộ do anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy chạy về được đến trung đoàn bộ thì thành xe đã chi chít vết mảnh pháo, may mà không ai thương vong, 10 giờ sáng thì lính TQ đã tràn vào) lão chỉ đóng trong nhà dân Kinh lên đó từ thời Quốc Hương hát "anh đi khai phá miền Tây/rừng núi bao la bừng giấc say" thôi, họ gọi là Cốc Sam, chứ có ở với người dân tộc đâu nghe dân bản địa gọi thế nào. Sau đó lùi xuống trên Phố Ràng 10 km mới đóng trong nhà người Mán.

PS: Bây giờ tìm kiếm trên mạng và Google Earth thì thấy cái ngã ba ấy gọi là ngã ba Bắc Ngầm trên đường 70, từ đó theo đường 4E sang Phố Lu. Thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai (ngày xưa là tỉnh Hoàng Liên Sơn). Ngày tôi lên đó, đóng quân mấy ngày đầu tại phía Nam đường 4E trên đất xã Xuân Quang, cách ngã ba Bắc ngầm chừng 4-5 km. Sau khi chúng tôi rút, địch đã tràn vào, sau đó một tiểu đoàn đặc công của ta rút từ phía bắc về ngang qua chỗ đó bất ngờ gặp một tiểu đoàn lính Trung Quốc đang hành quân trên đường ra phía ga Phố Lu, mặc dù đạn dược cũng đã gần cạn quân ta vẫn bất ngờ từ trên vách ta-luy đường đánh xuống. Trận tao ngộ chiến bất đắc dĩ ấy tiểu đoàn đặc công của ta đã đánh giáp lá cà và diệt sạch tiểu đoàn ấy của địch. Họ rút về đứng chân trên chỗ chúng tôi chừng gần 3 km, phía bắc cái ngầm (ở đó có một cái ngầm to qua suối - có lẽ vì vậy mà cái ngã ba kia mới có tên Bắc Ngầm chăng?) mà từ đó có đường rẽ vào chỉ huy sở tiền phương dã chiến của QK2 nên thỉnh thoảng chúng tôi có mò sang. Nhìn trên Google Earth bây giờ tôi vẫn nhận ra cái nhánh đường (cụt) rẽ vào quân khu bộ xưa, nơi có cái chóp vô tuyến tiếp sức chúng tôi đã leo lên đó sửa máy P401 nối thông liên lạc giữa hai cánh trái và phải sông Hồng. Gần bảy năm sau, sát Tết năm 1986, tôi lại có dịp quay lại chiến trường xưa, lên đúng chỗ ngày đầu lên mặt trận đã tới - khi đó đã là nơi quân đoàn 26 đóng - để giao thiết bị, vẫn nhớ và nhận ra những nơi đã từng qua dạo chiến tranh.

@ chị SM,

Không chỉ có bộ đội, lính biên phòng hay cán bộ dân-chính-Đảng hy sinh trong chiến đấu để cản địch trên hướng Lao Cai ngày ấy đâu. Dân chết cũng là chuyện thường. Đến cả tù nhân trong các trại tù cũng hy sinh trong chiến đấu cản địch nữa đấy. Có thể nói khi đó mỗi một trẻ em, mỗi một người dân vùng biên ải đều là mỗi anh hùng.

Trong những ngày đóng trong nhà người Mán, có lần thấy ông chủ nhà kéo dây dong về 2 gã trai bị trói thúc ké với nhau. Hỏi thì hóa ra là tù từ trại giam Hùng Thắng B của Bộ Công An (ở cách chỗ tôi lên lúc đầu chừng 1.5 km) được thả rông chạy về qua đó, đói quá vào ăn trộm gạo của dân trong cối gạo trên nương, bị bắt sống. Song cũng có hôm, có 2 anh chàng như thế với 1 khẩu K44 về qua chỗ chúng tôi xin ăn. Khổ, cũng chẳng có gì, chỉ là ngô xay thôi ăn với muối rắc vào (những bao ngô 80 kg mà tôi đã cùng anh em vác ngược từ xe quân nhu từ dưới đường Hữu Nghị 7 lên nhà trong mưa - ngày ấy tôi cao 1m7 cũng chỉ nặng chừng 46-47 kg gì đó thôi, gày nhóc, mãi ngày sang đến Hung cũng mới chỉ lên tới 49 kí lô), không có gạo đâu, có bận thấy bộ đội ăn trưa bên sườn đồi, ông chủ nhà đi ngang qua bảo "Ố, cái bộ đội ăn không bằng con lợn nhà tao đâu vớ" - lợn nhà ông ấy ăn cám nấu với gạo nương ạ. Những người ấy cũng là tù từ trại Hùng Thắng B. TQ đánh đến không kịp di tản, ban chỉ huy trại giam quyết định thả họ ra, dặn rút xuống Phố Ràng tập trung, dưới đó sẽ có bộ phận thu dung, phát giấy phép cho về quê, hẹn ngày ra trình diện chấp hành nốt án phạt. Hai người đó cùng nhiều người nữa đã không bỏ chạy mà cùng với tự vệ của trại tổ chức chiến đấu, súng không có đâu, chỉ khi tự vệ hy sinh mới có súng của người đã ngã xuống mà chiến đấu thôi. Súng của họ về đến chỗ chúng tôi đã chẳng còn viên đạn nào, hy sinh cũng gần hết rồi họ mới rút, hòa theo dòng người dân chạy giặc dài dằng dặc trên đường xuôi xuống.

---

Những ngày ấy chúng tôi được ông chủ nhà người Mán - chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, có 1 khẩu tiểu liên K50 băng tròn vũ khí của Hồng quân LX từ thời WWII đi đâu cũng đeo - bố trí cho ngủ trên sàn chìa ra dốc đồi, bên dưới là chuồng nhốt trâu, đêm đến trâu lịch kịch và hôi mù nên chỉ khi mệt lắm rồi mới ngủ thiếp đi được. Từ đó nhìn ra đường Hữu Nghị 7 (đường 70 từ Lao cai xuống Yên Bái nối vào QL2 theo cách gọi bây giờ, tiếng Mán gọi là "châu lồ", chắc là từ chữ "châu lộ" - đường liên châu - mà ra), đêm đêm bập bùng lửa đốt sưởi của dân chạy giặc trú lại trên mặt đường trong những cái lán lợp lá chuối, cứ 15-20 m lại có một cái như thế. Ban ngày thì bà con lại gồng gánh dắt díu nhau chạy giặc tiếp xuống phía dưới. Những đứa trẻ bẩn thỉu bùn đất bám vào quang gánh của cha mẹ lếch thếch theo sau, có đứa bé chỉ chừng 10 tuổi lại 1 chân dận giày Cô-xư-ghin, chân kia dận giày ba ta bộ đội - chắc là nhặt được do lính ta bỏ lại trên đường rút - lệt sà lệt sệt, trông thương lắm. Nhiều người đói vì đã nhiều ngày chỉ ăn vớ vẩn những lá cùng lẩu, chúng tôi lại phải sẻ khẩu phần thảm hại của mình cho họ, nhất là cho phụ nữ còn đang cho con bú. Nhiều người đã chạy từ tận thị trấn Mường Khương về. Họ kể, đang chạy từ Mường Khương về ngã ba Bản Phiệt thì họ thấy trên đường có xe tăng đang tiến từ ngã ba Bản Phiệt lên nên hò reo vui mừng. Nào ngờ chúng nổ súng máy vào họ, thì ra đó là xe tăng TQ đánh từ Lao Cai xuống ngã ba Bản Phiệt rồi vòng lên tập hậu thị trấn Mường Khương. Chết nhiều người lắm, những người còn sống chạy thốc vào rừng và cắt rừng núi chạy về chỗ chúng tôi, nỗi kinh hoàng vẫn còn đọng trên nét mặt. Thương nhất là bọn trẻ con, yếu ớt, đói khát và rét mướt.

Nhiều đêm nằm trên sàn nhìn ra những đống lửa dân đốt bên đường, tôi cứ tự ước và hẹn rằng nếu mình sống sót qua đận này và được đi học thì dù thế nào sẽ cố học cho thật tốt. Rất may là tôi đã giữ được lời hứa năm ấy.

---

Những ngày này trên các mặt báo tịnh không một chữ nhắc lại trận chiến năm ấy. Tôi thì vẫn chỉ hay vơ vẩn nhớ lại những ngày đó, không sao quên nối được. Cũng biết là ta không nhắc lại là vì nghĩa lớn chứ chẳng phải là ta sợ (@ Dương Danh Dy) song vẫn buồn.

Địch chủ động đánh rất dữ, quân đông gấp bội bên mình (hướng đường 70 ấy quân ta chỉ có mỗi một trung đoàn bộ đội địa phương 254, cộng với một ít quân của trung đoàn 196 mà ban chỉ huy trung đoàn đã bị tiêu diệt ngay đêm đầu do địch bất ngờ tập kích chỉ huy sở - không hiểu sao bây giờ lại thấy ghi eBB192, có lẽ là khi đó mới chia quân từ quân khu Việt Bắc ra thành QK1 và QK2 nên lính vẫn quen gọi tên trung đoàn theo tên cũ là eBB196 từ hồi còn QK Việt Bắc, chứ eBB196 chính thức ngày ấy đang đánh nhau ở mặt trận Lạng Sơn - và một trung đoàn e168 pháo binh chống cự lại 4-5 sư đoàn của địch có nhiều pháo và xe tăng yểm trợ; quanh mỏ Cam Đường bên kia sông Hồng thì có sư 345 quần nhau với cả gần chục sư của địch, xa nữa trên Sa Pa thì chỉ có 2 trung đoàn của sư đoàn 316 anh hùng chống lại địch giữ thị trấn - cả thày hướng Tây Bắc địch huy động 18 sư đoàn do tướng Dương Đắc Chí thuộc quân khu Vân nam chỉ huy đánh sang ta). Đạn không đủ mà bắn cho xuể. Có bao nhiêu đạn đều dồn ra chốt cả mà còn chẳng đủ. Từ dưới xuôi lên, lúc ra đi tôi có 17 viên AK cài trong hai lam tiếp đạn súng CKC - là đạn xin được kỳ tập bắn đạn thật cuối hè 1978, lên đến nơi thấy lính thông tin đi nối dây mà hộp đạn AK rỗng không mới đem ra chia, mỗi khẩu được 2-3 viên. Có hôm 9 giờ tối báo dây điện thoại đứt, thiếu người đi nối dây, tôi và một cô lính mới trẻ măng (khá xinh, mà không sao nhớ tên, da rất trắng mà lại mặc bộ quân phục vải do Triều Tiên viện trợ bạc màu rất nhanh trắng phớ nên tối mù tối mịt vẫn nhìn rõ - sau này về kể cho cha tôi chuyện quần áo vải Triều Tiên bạc phếch, cụ trầm ngâm bảo "Thế là rất nguy hiểm vì đánh nhau thì lộ, địch nó ngắm bắn dễ lắm do nổi rõ trên nền lá xanh của rừng") dắt nhau lần theo dây đi tìm chỗ đứt trong rừng. Tối mò mò, đen như mực bởi có ánh trăng cũng không xuống tới được vì cây rừng bít bùng. Thám báo địch có thể cắt dây rồi nằm phục chờ bắt lính thông tin ta đi nối, không thể biết trước được. Tôi dặn cô bé: "Đưa anh cây AK, em cứ cầm đèn pin soi tìm dây, thấy thì nối, anh sẽ ở ngay bên em yểm hộ, nếu địch bắn thì trong đêm sẽ rất khó trúng, em cứ tắt đèn mà chạy ngược về, anh sẽ cố cản chúng lại". Chỉ có 3 viên đạn trong băng khẩu AK của cô ấy và 18 viên đạn súng ngắn K54 của tôi thôi song nếu có địch thì một là đang đêm, hai là ta trên đất mình còn với địch là đất lạ, bố bảo chúng cũng chẳng dám ham đuổi khi đã có tiếng súng bắn trả dù chúng có liều lĩnh và thiện chiến đến mấy. Tôi tin là như vậy. Rất may là lần đó dây chỉ đứt khá gần bìa rừng, chắc là do dây cáp dã chiến rải trên đất (hạ dây từ trên các cành cây xuống đất từ ban ngày để nếu có rút thì thu dây cho nhanh được - thế tiến của địch mấy ngày đầu ấy còn đang mạnh) bị trâu bò đi qua đá đứt thôi. Sau này năm 2007, nhớ lại cái đận ấy, nhân thơ thẩn về Trăng, tôi mới có mấy dòng văn vần đã ghi ở đây
http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=928

Mãi cả hơn 1 tuần sau mới có xe đạn chở lên cấp cho trung đoàn, đổ 1 đống vàng chóe trên sàn ngủ của chúng tôi trong nhà ông chủ tịch xã người Mán, nơi trung đoàn bộ đóng: lựu đạn, đạn AK, đạn K54, tha hồ lấy, bao nhiêu cũng được, không ghi sổ. Lạ cái, đạn và ngô thì còn chưa tiếp tế, lại thấy chở lên trước cả một đống sách! Tôi cũng nhặt được 2 cuốn, trong đó bây giờ vẫn còn giữ cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do đại tá nhà văn Hữu Mai ghi. Kỷ niệm chiến trường giờ chỉ còn có cuốn này và một cuốn sổ bỏ túi ghi vắn tắt những ngày ngoài mặt trận (giờ lạc đâu trong nhà mà chưa có lúc nào rỗi rãi tìm lại).

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 20-02-2012 thời gian gửi bài 02:47 Lý do: Sửa tên -> Dương Danh Dy, cám ơn Mugic đã nhắc.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên:
Anh Thư (21-02-2012), binhminh (19-02-2012), chaika (19-02-2012), Мужик (19-02-2012), Hoa May (19-02-2012), hungmgmi (19-02-2012), Kóc Khơ Me (19-02-2012), LyMisaD88 (19-02-2012), Nhật Minh (19-02-2012), Old Tiger (20-02-2012), phuongnn (19-02-2012), SSX (19-02-2012)