Có lẽ nhân vật gây tranh cãi nhất trong nhóm những người đầu tiên đoạt Giải thưởng Stalin là Mikhail Sholokhov, người sau này trở thành người Nga thứ ba đoạt Giải Nobel Văn chương. Biên độ các ý kiến về Sholokhov thật đáng ngạc nhiên thậm chí với thế kỷ hai mươi hay gây gổ – từ nhìn nhận ông là một nhà văn vĩ đại, một trong những nhà cổ điển thế giới của thời đại chúng ta, cho tới bình luận đầy khinh thị của Solzhenitsyn: “Với Sholokhov, thậm chí ta không thể nói ông ta có học hay không, mà phải nói ông ta có biết chữ hay không”. * Đấy là về con người năm 1939 đã trở thành thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.
Stalin trao Sholokhov giải thưởng vì bộ tiểu thuyết sử thi Sông Đông êm đềm, mô tả cuộc đời thăng trầm bi thảm của chàng Cô-dắc sông Đông Grigory Melekhov trong những năm Thế Chiến thứ I và Nội chiến, dựa trên bối cảnh các biến đổi kiến tạo xã hội thời kỳ này. Thậm chí Solzhenitsyn cũng đánh giá cao bộ tiểu thuyết; vậy nguyên nhân gì khiến ông có thái độ thô bạo tùy tiện đối với Sholokhov?
Ngay khi Solokhov hai mươi ba tuổi xuất bản tiểu thuyết này năm 1928, rộ lên tin đồn rằng ông không phải là tác giả thật, mà đã đạo văn bản thảo (hay nhật ký) của một nhà văn khác, Fedor Kryukov, mất năm 1920; các nguồn khác cũng được nêu ra. Qua thời gian câu chuyện đi tìm con người đằng sau Sông Đông êm đềm đã biến thành một ngành kinh doanh nho nhỏ, với ba tập sách dày có nội dung cả tán thành cả chống đối.
Vấn đề này, có tính tới việc tài liệu lưu trữ của Sholokhov thập niên 1920 và 1930 đã bị mất (bị cho là đã cháy rụi trong Thế Chiến thứ II), không chắc sẽ được giải quyết trong tương lai gần. Bởi vậy trong trường hợp này, theo sau Mikhail Bakhtin và Roland Barthes, chúng ta có thể xem câu hỏi về “nguồn tác giả” là một câu hỏi có điều kiện. Sholokhov, trái ngược với ý kiến của vô số kẻ thù của ông, là một nhân vật lớn và là người có mâu thuẫn trong tư tưởng, và ta vẫn không thể tách rời được ông khỏi số phận kịch tính của Sông Đông êm đềm.
* Aleksandr Solzhenitsyn, Publitsistika [Những bài viết], ba tập, tập 2 (Yaroslavl, 1996), tr. 186
|