View Single Post
  #12  
Cũ 21-12-2011, 17:06
BombopDianop BombopDianop is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Oct 2011
Bài viết: 40
Cảm ơn: 3
Được cảm ơn 20 lần trong 15 bài đăng
Default

Bên kinanet.livejournal.com họ thống kê được cả nghìn phim ăn khách nhất của điện ảnh Liên Xô và vài trăm phim nước ngoài ăn khách nhất chiếu tại LX, nhưng vì chỉ thống kê cho số khách theo phòng vé tại năm công chiếu hay năm tiếp theo, chứ không như bên Pháp họ thống kế được từ khi công chiếu đến nay, và số liệu do nhà nước công bố không kiểm chứng được, nhất là có phim hay lại không được công chiếu, or khoanh vùng chiếu rộng rãi hay chỉ chiếu hạn chế nên không phản ánh gì nhiều. Quy mô dân số, và các yếu tố khác như thời gian, vì thế ko đánh giá chất lượng đúng của nó. Ngoài ra đối tượng khán giả bình dân cũng hay lựa chọn khác phần nào với giới chuyên môn hoặc am hiểu nghệ thuật.


Bình chọn của cư dan mạng trên kinopoisk.ru thì căn cứ nhiều vào cả số khán giả và các giải thưởng, cũng như các nhà bình phim. còn của imdb - khán giả quốc tế - thì có cái
nhìn khác, chủ yếu chọn theo các giải thưởng phim - các phim cũ họ xem hay xem phim có giải thưởng cao -, và các bình chọn của các cơ quan có uy tín, nhưng cũng chỉ tương đối, nhất là các phim có 2 hay hơn số bản, thì họ hay tranh cãi. nói chung vẫn là hay hùa theo giải thưởng và ý kiến các nhà chuyên môn mà ít đưa ý kiến chủ quan bản thân. Dù sao thì bên imdb vẫn khách quan và nghiêm chỉnh hơn nhiều nơi khác. Bình cho các phim của Andrey Tarkovsky, Chiến hạm Potemkin, Người đàn ông với 1 máy quay phim,.. thể hiện nghiêng về các phim chiều sâu nghệ thuật.


Bình chọn của roskino thiên về phim nghệ thuật, có tính yếu tố khán giả, trong khi hội các nhà bình phim chỉ chú trọng nghệ thuật nên nhiều phim khá khó xem với khán giả bình thường.
Mình đưa nốt các phim đoạt giải quốc tế cao, để khách quan quan điểm, vì giải thưởng hay được xét là yếu tố hàng đầu để xét chất lượng phim, dù là không đủ. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh thì có thể hai phe không hẳn khách quan để đánh giá phim của nhau (một vài thời điểm còn tẩy chay như Đông đức tẩy chay LHP berlin), nhưng tiêu chí của các giải thưởng lớn, hay tại các liên hoan phim lớn dù tổ chức ở đâu thì cũng gần như nhau.
Cái này nhiều người biết rồi, tôi chỉ giới thiệu lại đối chiếu


Oscar

chiến thắng trong thể loại tài liệu xuất sắc nhất
"Sự thất bại của quân Đức tại Moscow" (1942) của đạo diễn Leonid Varlamov và Ilya Kopalin.
chiến thắng trong hạng mục "Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất
"Chiến tranh và Hòa bình" (1968) của Sergei Bondarchuk
"Dersu Uzala" (1975) Akira Kurosawa (Liên Xô và Nhật Bản)
"Moscow không tin vào nước mắt" (1981) Vladimir Menshov
"Cháy bỏng dưới ánh Mặt trời" (1994) Nikita Mikhalkov

Chiến thắng trong hạng mục phim hoạt hình ngắn hay nhất
Ông già và biển cả (1999) của Alexander Petrov

Đề cử cho giải thưởng trong hạng mục "Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất"
The Brothers Karamazov" (1969 dir Pyrev Ivan.)
Tchaikovsky" (1971 dir Talankin Igor.)
Và nơi đây bình minh yên tĩnh (1972 dir Stanislav Rostotsky.)
Bỉm trắng tai đen (1978 dir Stanislav Rostotsky.)
Private Life" (1982 dir Yuli Raizman.)
Wartime Romance" (1984 dir. Todorovski, Peter)
Urga" (Close to Eden) (1992 Nikita Mikhalkov dir.)
Các tù nhân da trắng" (1996 Sergei Bodrov dir.)
The Thief (1998 dir Chukhrai Paul.)
12 (2007 Nikita Mikhalkov dir.)
Đề cử cho giải thưởng trong hạng mục "Kịch bản gốc xuất sắc nhất
Bài ca người lính" (1962, Valentin Ezhov, Grigoriy Chukhrai)

Đề cử cho giải thưởng trong hạng mục "phim hoạt hình ngắn hay nhất
"Cow" (1990) của Alexander Petrov
"Gagarin" (1996) Alexis Kharitidi
"Mermaid" (1998) của Alexander Petrov
"My Love" (2008) của Alexander Petrov
"Lavatory Story - Love Story" (2009) Constantine Bronzit
Đề cử cho giải thưởng trong hạng mục "Phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất"
Hồi ức của Pavlovsk" (1985 Irina Kalinina)

Trong thời Xô viết giải Oscar không được coi trọng bằng giải Cành cọ vàng.

LHP Cannes
Bộ phim A Big Family -Большая семья (1955) của đạo diễn Joseph Heifits - đã giành 16 giải thưởng cao quý trong lịch sử Liên hoan phim Cannes. Bộ phim The Turning Point -Những điểm quay đạo diễn Friedrich Ermler giành giải chính - "Grand Prix" - Cành cọ vàng sau này của lễ hội trong năm 1946 (đồng giải với nhiều phim nước khác). Bộ phim duy nhất của Liên Xô (Nga) mà đã giành được giải thưởng lớn - Cành cọ vàng - Khi đàn sếu bay qua, của đạo diễn Mikhail Kalatozov, giải thưởng trong 1958 .

Giải Grand Prix đặc biệt của ban giám khảo: Solaris (1972), Sibiriada (1979), Repentance (1987)
Giải Grand Prix của ban giám khảo: Cháy bỏng dưới ánh Mặt trời (1994, với 1 phim của Trương Nghệ Mưu)
Giải thưởng của ban giám khảo: Sống độc lập -Самостоятельная жизнь (1992)
Giải thưởng Nam diễn viên xuất sắc nhất: toàn bộ diễn viên phim A Big Family (1955), Konstantin Lavronenko (phim The Banishment - 2007)
Giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất: toàn bộ diễn viên phim A Big Family (1955)
Giải thưởng cho đạo diễn xuất sắc nhất: Sergei Vasilyev (Heroes of Shipka- phim Liên Xô- Bungari, 1955 đồng giải với 1 đạo diễn Pháp), Sergei Yutkevich (Othello, 1956), Yuliya Solntseva (phim Chronicle of Flaming Years, 1961), Sergei Yutkevich (Lenin ở Ba Lan,1966), Andrei Tarkovsky (phim Nostalghia, 1986, đồng giải với 1 đạo diễn Pháp), Pavel Lungin (Taxi Blues, 1990)
Giải thưởng dành cho kịch bản tốt nhất: Alexander Sokurov( phim Молох / Moloch, 1999)

(ko kể vài giải ít quan trọng hơn)

Liên hoan phim Berlin:
1975 : Một trăm ngày sau trẻ thơ, Sergei Solovyov ( "Gấu Bạc" cho đạo diễn tốt nhất )
1977 Leo núi của Larisa Shepitko giành giải Gấu vàng
1981 , " Hai mươi sáu ngày trong cuộc đời của Dostoevsky" của Alexander Zarchi ( "Gấu bạc" cho diễn viên tốt nhất Anatoly Solonitsyn - đồng giải với Jack Lemmon, diễn viên
Mỹ)
1983 "Gấu Bạc" dành cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất Yevgenia Glushenko phim Sự lựa chọn trong tình yêu , của Sergei Mikaelian
1984 "Gấu Bạc" dành cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất Inna Churikova trong phim -Wartime Romance của Peter Todorovski
1985 Tolomush Okeyev với phim Потомок Белого Барса ( Gấu bạc cho những đóng góp xuất sắc của mình cho nghệ thuật )
1987 George Shengelaia giành "Gấu Bạc" cho đạo diễn tốt nhất , phim The Journey of a Young Composer
1987 , The Theme -Teма của Gleb Panfilov giải Gấu vàng
1988 , Commissar - Ủy Viên của Alexander Askold (Gấu bạc Special Jury Prize )
1990 , Hội chứng suy nhược " của Muratova Kira (Gấu bạc Special Jury Prize )
1991 Satan của Viktor Aristov ( " Gấu bạc Special Jury Prize , đồng giải 1 phim khác)
1994 The Year of the Dog của Semyon Aranovich, Gấu bạc giải đặc biệt của ban giám khảo
1999 phim ngắn Подвиги Геракла, Sergei Ovcharov nhận được Grand Prix Gấu vàng
2010 Grigoriy Dobrygin và Sergei Puskepalis giành giải Gấu bạc diễn viên xuất sắc nhất và Pavel Kostomarov Gấu bạc cho những đóng góp xuất sắc của mình cho nghệ thuật quay phim, phim How I Ended This Summer, của Alexei Popogrebski

(ngoài ra một số giải ít quan trọng hơn)

LHP Venice
Thành tích
«Фауст» Александра Сокурова (Золотой лев, главный приз) в 2011 году. Faust - Sư tử vàng
«Бумажный солдат» Алексея Германа-мл. (Серебряный лев и Golden Osella за работу операторов-постановщиков Максима Дроздова и Алишера Хамидходжаева) в 2008 году.
Никита Михалков (Специальный лев) в 2007 году.
«Первые на Луне» Алексея Федорченко (Приз за лучший документальный фильм в программе «Горизонты») в 2005 году.
«Возвращение» Андрея Звягинцева (Золотой лев, приз Луиджи Ди Лаурентиса) в 2003 году. The Return- Sư tử vàng
«Нефть» Рустама Ибрагимбекова (Серебряный лев за лучший короткометражный фильм) в 2003 году.
«Последний поезд» Алексея Германа-мл. (Special mention жюри приза Луиджи Ди Лаурентиса) в 2003 году.
«Дом дураков» Андрея Кончаловского (Специальный гран-при жюри) в 2002 году.
«Клоун» Ирины Евтеевой (Серебряный лев за лучший короткометражный фильм) в 2002 году.
«Урга - территория любви» Никиты Михалкова (Золотой лев) в 1991 году. Urga - Lãnh thổ của Tình yêu của Nikita Mikhalkov giành Sư tử vàng
Вадим Юсов (Golden Osella за работу оператора-постановщика в фильме «Чёрный монах» Ивана Дыховичного) в 1988 году.
«Чужая Белая и Рябой» Сергея Соловьёва (Специальный гран-при жюри) в 1986 году.
«Фавориты Луны» (Франция-Италия-СССР) Отара Иоселиани (Специальный гран-при жюри) в 1984 году.
Михаил Ульянов (Специальный приз жюри за исполнение главной роли в фильме Юлия Райзмана «Частная жизнь») в 1982 году.
Сергей Юткевич (Золотой лев за вклад в киноискусство) в 1982 году.Sergei Yutkevich (Golden Lion cho những đóng góp cho điện ảnh)
«Спасатель» Сергея Соловьёва (Специальный приз жюри) в 1980 году.
Анатолий Головня (за вклад в киноискусство) в 1972 году.
«Звонят, откройте дверь» Александра Митты (Гран-при «Лев Святого Марка» за лучший фильм для детей) в 1966 году.
«Мне двадцать лет» Марлена Хуциева (Специальный приз жюри) в 1965 году.
«Морозко» Александра Роу (Гран-при «Лев Святого Марка» за лучший фильм для детей) в 1965 году.
«Зачарованные острова» Александра Згуриди («Лев Святого Марка» за лучший документальный фильм для детей) в 1965 году.
«Гамлет» Григория Козинцева (Специальный приз жюри) в 1964 году.
«Вступление» Игоря Таланкина (Специальный приз жюри) в 1963 году.
«Иваново детство» Андрея Тарковского (Золотой лев) в 1962 году. Ivan thời thơ ấu của Andrei Tarkovsky (Golden Lion)
«Мир входящему» Александра Алова и Владимира Наумова (Специальный приз жюри) в 1961 году.
«Попрыгунья» Самсона Самсонова (Серебряный лев, приз кинокритиков) в 1955 году.
«Садко» Александра Птушко (Серебряный лев) в 1953 году.
«Весна» Григорий Александров, Александр Раскин, Морис Слободской (за лучший сценарий) в 1947 году.
«Путёвка в жизнь» Николая Экка (за лучшую режиссуру) в 1932 году.


Обладателями золотого кубка Вольпи как лучшие актёры становились:
Giải diễn viên xuất sắc nhất:


Ксения Раппопорт за роль Сони в фильме «Двойной час» (режиссер — Джузеппе Капотонди) в 2009 году. Kseniya Rappoport với vai diễn Sonia trong phim Двойной час

Олег Борисов за роль в фильме «Единственный свидетель» в 1990 году.
Oleg Borisov cho vai diễn trong bộ phim Единственный свидетель
Наталья Аринбасарова за роль Алтынай в кинофильме «Первый учитель» в 1966 году.
Natalia Arinbasarova cho vai diễn Altynai trong bộ phim Первый учитель
Дзидра Ритенберга за роль Мальвы в кинофильме «Мальва» в 1957 году.
Dzidra Ritenberga cho vai diễn Malwa trong bộ phim Мальва

Также в 1979 году Евгений Леонов получил приз за лучшую мужскую роль (кубок Вольпи с 1969 по 1979 не вручался) за созданный им образ Харитонова в фильме Осенний марафон. 1979, Yevgeny Leonov nhận được giải thưởng cho Nam diễn viên xuất sắc nhất (Volpi Cup ) cho vai hình ảnh của vận động viên Kharitonov trong bộ phim Autumn Marathon .

Các phim đoạt giải Quả cầu vàng phim ngoại ngữ hay nhất: Chiến tranh và hòa bình (1968),
Đề cử Quả cầu vàng phim ngoại ngữ hay nhất: Hamlet (1966), Tchaikovsky (1971), Dark Eyes (Ý-LX, 1987), Repentance (1987), Taxi Blues (1990), Lost in Siberia (1991), Urga mảnh đất của tình yêu (Close to Eden, 1982), Prisoner of the Mountains (Nga-Kazakhstan, 1996), The Thief (1997), Đông-Tây (East/West, Nga- Pháp, 1999)


Nhiều giải khác nữa.
Các phim ăn khách nhất tính theo năm, có các phim:
Kalina Krasnaya, xếp 14
Ivan Vasilyevich Thay đổi Nghề nghiệp, 17 với 60,6 triệu khán giả
Văn phòng lãng mạn xếp 19
Vera bé nhỏ, xếp 24,
Xổ số kiến thiết thể thao, xếp 25
Những kẻ báo thù ko bao giờ bị bắt, (p1) xếp 28, với 54.5 triệu
Sĩ quan, vị trí 31
Khinh kỵ binh Ballad, 48,6 triệu, vị trí 40
Đêm Carnival, vị trí 53
Ivan Brovkin trong các vùng đất trinh nữ, 58
Tham chiến chỉ toàn "những ông già, vị trí 61
Ngày tàn của Sao thổ , 42,7 triệu xếp 71
Mùa hè lạnh 53 xếp 77
Hoa hướng dương (Ý- Pháp - Liên Xô), 41,6 triệu xếp 78
Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc, xếp 88
Anna Karenina, bản 1968, xếp 89
12 ghế , xếp 96
Số phận một con người xếp 97
Chiến tranh và hòa bình tính riêng series 2, có 36,2 triệu, xếp 121
Anna Karenina, bản 1953 xếp 152
Ruslan và Ludmila, xếp 155, với 34,6 triệu
Những người lính của Tự do, nhiều nước Đông Âu hợp tác, xếp 164, với 34,3 triệu
Phục sinh , xếp 166
Truyền thuyết vùng đất Siberia, xếp 170
Mười nhỏ người Ấn Độ, xếp 178
Hai thuyền trưởng bản 1956, xếp 203
Năm không thể nào quên năm 1919 xếp 215
Thằng ngốc, xếp 233
Mùa xuân trên phố Zarechnaya, xếp 248
Bài ca người lính xếp 250 với 30,1 triệu
Hãy đến và xem, xếp 259
Anh em nhà Karamazov bản 1969, xếp 274
Moscow, tình yêu của tôi, xếp 276
Hãy coi chừng xe, xếp 281, với 29 triệu khán giả
Mũi tên của Robin Hood, xếp 289
Mặt trước của tiền tuyến, xếp 301
Nhà để xe, xếp 302
Khi đàn sếu bay qua, xếp 309 với 28,3 triệu
Kim cương cho chế độ độc tài của giai cấp vô sản, xếp 330
Tình yêu của tôi nỗi buồn của tôi (LX- Thổ), xếp 416
Bốn mươi mốt, xếp 427
Hoàng tử đen, xếp 446
Zhenya, Zhenya, và" Katyusha xếp 452 với 24.6 triệu
Shah Nữ hoàng kim cương, xếp 463
Mimino, xếp 464
Othello, xếp 475
Chín ngày trong 1 năm, xếp 484
Transsiberian, xếp 492
Cầu vồng, xếp 495
Tchaikovsky, xếp 501 với 23,7 triệu
Bim trắng tai đen, 527
Bánh mỳ- vàng - súng lục, 534
Autumn Marathon, xếp 565 với 22,3 triệu khán giả
Công chúa Mary, xếp 572
Mối tình thảm khốc, 581
Hamlet, xếp 618
Khi cây đã lớn, xếp 624
Dersu Uzala (LX-Nhật), xếp 661 với 20,4 triệu
Chủ nghĩa phát xít thông thường, xếp 676
Tôi đi bộ ở Moscow, xếp 681, với 20 triệu.


Một số phim được bình chọn trong top phim hay nhất ở trên hay đoạt giải lớn, điểm cao của imdb hay kinopoisk với số đông người vào đánh giá, không ở top trên 20 triệu khán giả chỉ tính năm công chiếu (1940-89), 1 vài phim bị hạn chế hay cấm.

Thay đổi nội dung bởi: BombopDianop, 21-12-2011 thời gian gửi bài 19:52
Trả lời kèm theo trích dẫn