Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn học (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=33)
-   -   Truyện ngắn của Valentin Rasputin (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=906)

fresco 09-07-2008 16:59

Truyện ngắn của Valentin Rasputin
 
http://i270.photobucket.com/albums/j...rasputin_1.jpg
Lâu lắm nhà em mới lại có cơ hội post bài...Tình hình là rất ...tình hình do bận bịu quá!!!:emoticon-0111-blush. Lần này, em giới thiệu với cả nhà ông nhà văn Nga Valentin Rasputin.

Ông này vốn nổi tiếng ở Việt Nam ta với cuốn tiểu thuyết "Hãy sống mà nhớ lấy" xuất bản cùng lúc với một tập truyện ngắn thì phải. Nhà em không có bản in các cuốn đó, trên mạng cũng không tìm ra nguồn tiếng Việt những tác phẩm của ông.

Vậy nên mạn phép tác giả, em xin chọn dịch vài truyện ngắn của ông, gọi là lưu hành nội bộ trong NNN chúng ta để mọi người “thưởng thức”. Nguồn tiếng Nga ở đây: http://belolibrary.imwerden.de/wr_RasputinV.htm. Vẫn theo như “truyền thống”(!), các truyện của em giới thiệu đều theo dòng nhẹ nhàng, hơi sến sến (!).

Trước khi vào truyện, xin được giới thiệu sơ bộ thân thế và sự nghiệp của Valentin Rasputin.

Valentin Rasputin sinh năm 1937 tại làng Ust-Uda (Усть-Уда) vùng Irkutsk , Russia. Ông tốt nghiệp Đại học Irkutsk năm 1959 và vào làm việc cho báo Thanh niên Komsomol ở Irkutsk và Krasnoyarsk. Rasputin cho ra đời truyện ngắn đầu tiên năm 1961.

Vào năm 1967, sau khi xuất bản truyện “Tiền cho Maria”, Rasputin được nhận vào Hội nhà văn Liên Xô. Trong vòng 30 năm sáng tác tiếp sau đó, ông đã cho ra đời một số tác phẩm được giới phê bình văn học đánh giá cao và được những giải thưởng lớn của Liên Xô thời bấy giờ; đặc biệt là năm truyện vừa: “Tiền cho Maria - Деньги для Марии, 1967 ”; “Thời hạn cuối cùng - Последний срок, 1970 ”; “Hãy sống mà nhớ lấy - Живи и помни, 1974 ”; “Từ biệt Matyora - Прощание с Матёрой, 1976 ”; “Đám cháy - Пожар, 1985 ”.

Rapustin là một nhà văn có cá tính thời Xô viết. Ông đứng trong “đội hình” những nhà văn - nghệ sỹ mà quá trình sáng tạo của họ quyết định những hướng đi cho sự phát triển nền văn xuôi Xô viết hiện đại. Những tác phẩm của Rasputin đậm tính cách Nga đã thu hút được sự chú ý lớn lao của bạn đọc và các nhà phê bình văn học bởi vì ông hướng tới việc nghiên cứu đời sống hiện đại của nông thôn thời Xô viết, trước hết là đời sống tinh thần qua những tác phẩm thuộc dòng “truyện nông thôn - деревенская проза”. Những tác phẩm nói lên cuộc sống gồ ghề góc cạnh đầy khó khăn nhưng cũng đầy chất truyền thống của những vùng quê nước Nga, đặc biệt vùng Sibir quê hương Rasputin.

Rapustin suốt một đời trung thành với vùng Sibir, hiện nay ông đang sống tại Irkutsk. V. Rapustin từng được tặng giải thưởng văn học quốc gia Liên Xô cho cuốn tiểu thuyết “Hãy sống mà nhớ lấy” năm 1977 và đã được phong danh hiệu Anh hùng lao động Liên Xô năm 1984.

fresco 09-07-2008 17:04

Truyện thứ nhất: Rudolfiô
 
Lần gặp gỡ đầu tiên xảy ra trên tàu điện. Cô khẽ đẩy vai anh, khi anh choàng tỉnh, cô chỉ tay qua cửa sổ và bảo:
- Anh phải xuống rồi đấy.
Tàu dừng, anh chen ra cửa rồi nhảy xuống theo cô. Cô hoàn toàn còn là một cô bé con, tuổi chỉ chừng mười lăm, mười sáu, không hơn! Điều này anh nhận ra ngay lập tức khi nhìn thấy khuôn mặt tròn bầu bĩnh của cô đang hướng về phía anh chờ được cám ơn.
- Cám ơn nhé – anh nói, - tẹo nữa thì anh đi quá bến...
Cảm thấy nói như vậy là chưa đủ, anh liền thêm:
- Ngày hôm nay thật điên khùng, anh mệt quá. Mà đến 8 giờ lại còn có người hẹn gọi điện nữa chứ. Em cứu anh một bàn thua đấy.

Có lẽ là cô bé mừng rỡ, và hai người cùng chạy sang đường, cùng ngoái lại nhìn chiếc ô tô vừa chạy vút qua. Tuyết vẫn rơi và anh nhận thấy bộ gạt nước đang quét tuyết trên kính chắn gió. Mỗi khi tuyết rơi - những bông tuyết mềm mại, tựa như đâu đó ở trên cao rồi rắc xuống những con chim tuyết lạ thường - thì thật sự chả muốn về nhà ngay. “Mình nghe điện thoại rồi sẽ lại ra đường”, anh nghĩ thế rồi quay sang cô, phân vân không biết nói gì, bởi lẽ im lặng quá lâu thì thật là bất tiện. Nhưng anh chẳng hiểu với cô thì nên nói gì, không nên nói gì, vậy nên anh cứ băn khoăn suy tính để cuối cùng, cô bé nói trước:
- Em biết anh rồi!
- Ra vậy đấy? – Anh ngạc nhiên, - Làm sao em biết được?
- Anh ở nhà số 112, còn em ở số nhà 114. Trung bình cứ một tuần hai lần chúng ta cùng đi chung tàu điện. Có điều... anh không để ý đến em thôi.
- Hay đấy nhỉ.
- Có gì mà hay? Chẳng có gì hay cả. Người lớn các anh thì chỉ chú ý đến người lớn thôi, tất cả bọn anh đều ích kỷ kinh khủng. Hãy nói đi... có phải thế không nào?

Cô bé quay đầu sang bên phải để liêc chéo anh từ bên trái, phía dưới lên. Anh chỉ hắng giọng mà không nói câu gì bởi lẽ anh vẫn chưa biết nên đối xử như thế nào với cô, nói gì và không thể nói gì với cô bé.

Họ đi cùng nhau trong im lặng, cô thì mắt nhìn thẳng phía trước, thế rồi cứ vừa nhìn thẳng như thế, cô vừa nói một câu tỉnh khô.
- Anh chưa xưng tên đấy nhé.
- Em cần biết lắm à?
- Cần chứ. Mà có gì đặc biệt đâu? Không hiểu sao một số người cứ cho rằng nếu em muốn biết tên ai đó thì nhất định là em có ý gì đó với người ấy.
- Được thôi, - anh nói. – Anh hiểu rồi. Nếu em cần thì anh nói, tên anh là Rudolf,
- Cái gì?
- Rudolf
- Rudolf, - cô bé bật cười.
- Gì thế?
Cô cười to hơn khiến anh phải dừng bước nhìn sang.
- Ru - dolf, - cô tròn môi lại nói, rồi lại lăn ra cười. – Ru - dolf. Em nghe cứ như người ta gọi tên voi trong chuồng thú ấy.
- Cái gì?
- Anh đừng giận, - cô đập vào tay áo anh. – Nhưng mà buồn cười, thật đấy! Tên anh nghe buồn cười lắm. Sao mà em không cười được.
- Em trẻ con ghê! - anh bực bội nói.
- Tất nhiên là trẻ con rồi, còn anh thì rõ là người lớn.
- Em bao nhiêu tuổi?
- Mười sáu
- Còn anh 28
- Thì em đã nói rồi: anh là người lớn, tên anh là Rudolf.

Cô gái lại cười thành tiếng, vừa cười vừa thích chí ngước mắt từ phía trái sang nhìn anh.
- Còn tên em là gì? – Anh hỏi
- Tên em à? - Anh không đoán được đâu.
- Anh cũng chẳng đoán đâu
- Mà có đoán cũng chẳng trúng. Tên em là Iô.
- Cái gì?
- Iô
- Anh chẳng hiểu cái quái gì hết ?!
- Iô. Có gì đâu. I trong im lặng, ô là cái ô ấy mà, Iô!

Sự ngỡ ngàng đến thật đột ngột. Không kìm được, anh cười phá lên, người lắc lư từ phía trước ra phía sau như quả chuông. Chỉ cần nhìn vào mặt cô là anh lại cười vang to hơn nữa.
- I - ô, - anh lúng búng từ trong cuống họng, - I - ô.
Cô bé nhìn quanh chờ đợi, đến chừng anh thôi cười cô mới giận dỗi nói:
- Buồn cười hả anh? Có gì mà buồn cười, Iô, - một cái tên bình thường như những cái tên khác.
- Xin lỗi nhé, - anh cúi xuống với cô, mỉm cười, - Anh thấy buồn cười thật. Thôi, thế là hoà nhé.

Cô gật đầu.
Khu nhà cô gái hiện ra phía trước, còn nhà anh phía sau. Đến cổng vào, cô hỏi:
- Số điện thoại của anh thế nào?
- Em biết mà làm gì? – anh nói.
- Anh sợ à?
- Đâu phải thế.
- Người lớn sợ hết mọi thứ trên đời
- Đúng vậy, - anh đồng ý.
Cô tháo găng để lộ bàn tay thon thả và chìa ra cho anh, bàn tay nhẹ nhàng và lành lạnh... Anh nắm tay cô.
- Thôi chạy vào nhà đi, Iô.
Anh lại bật cười.
Chạy đến cửa cô dừng lại.
- Bây giờ trên tàu điện anh sẽ nhận ra em chứ?
- Còn phải nói, tất nhiên...!
- Hẹn chuyến tàu tới... – Cô giơ tay lên quá đầu,
- ...Chuyến tàu chúng ta cùng đi, - anh thêm.

fresco 09-07-2008 17:11

Rudolfiô (Tiếp)
 
Hai ngày sau anh đi công tác lên phương Bắc tới tận hai tuần mới về lại thành phố. Ở đây, anh đã cảm thấy ngay cái hương vị say nồng của mùa xuân đang đến, nó đang thổi bay - như tro bụi - những vẻ mơ hồ mờ mịt của mùa đông. Sau những ngày ở phương Bắc mù sương, anh về đây thấy cái gì cũng trong sáng hơn, âm vang hơn, thậm chí cả cái tàu điện.

Về đến nhà, vợ anh gần như mách luôn:
- Ở nhà ngày nào cũng có một cô bé gọi điện đến đấy.
- Cô bé nào nữa nhỉ? – anh thờ ơ và mệt mỏi hỏi.
- Biết đâu được, em tưởng anh biết chứ.
- Đâu có...
- Cô ấy làm em phát chán.
- Hay thật đấy nhỉ, - anh gượng cười.

Anh đang tắm thì chuông điện thoại réo gọi. Vọng qua cửa là tiếng vợ anh trả lời: “Về rồi, đang tắm, vâng, lát nữa nhé!”. Đến lúc anh sắp đi ngủ thì lại nghe tiếng chuông điện thoại réo.
- Tôi đây, - anh đáp.
- Rudik, chào anh, thế là anh về rồi đấy à! - một giọng mừng rỡ vang lên trong tai nghe.
- Xin chào, - anh thận trọng đáp, - Ai thế nhỉ?
- Anh không nhận ra à? Chán quá, Rudik...Em đây, Iô.
- Iô, - anh nhớ ra và bất giác cười to, - xin chào, Iô, em đặt cho anh cái tên hay quá.
- Hay chứ, anh thích không?
- Ngày xưa, hồi anh bằng em bây giờ, người ta cũng gọi anh như thế.
- Ấy, đừng lên mặt nhé.
- Đâu nào, cái cô bé này...

Hai người cùng im lặng, rồi thì không dừng được, anh hỏi:
- Có chuyện gì thế, Iô?
- Rudik, cái chị ấy là ai thế, vợ anh à?
- Ừ.
- Sao anh không bảo em rằng anh có vợ rồi?
- Xin lỗi em, - anh nói với giọng hài hước, - anh đâu biết rằng chuyện ấy lại quan trọng.
- Quan trọng chứ. Thế anh... có yêu chị ấy không?
- Yêu chứ, - anh đáp, - Iô, em nghe này: đừng gọi điện cho anh nữa nhé.
- Anh - sợ - rồi, - cô gái dài giọng, - Rudik, anh đừng nghĩ gì nhé. Tất nhiên anh cứ sống với chị ấy, nếu anh muốn, em sẽ không phản đối. Nhưng bảo em không gọi điện thì cũng không nên. Biết đâu em có việc cần thì sao.
- Việc gì? , - anh vừa cười vừa hỏi.
- Việc gì á? Uhm...Uhm...thí dụ, có một bài toán bơm nước từ bể này sang bể kia mà em không giải được chẳng hạn, - cô chống chế, - khi đó được chứ gì?
- Anh chả biết
- Tất nhiên là được. Còn chị ấy thì anh đừng sợ, Rudik, chúng mình hai người, còn chị ấy chỉ có một mình.
- Sợ ai? – anh không hiểu.
- Vợ anh ấy.
- Tạm biệt nhé, Iô
- Anh mệt à?
- Ừ
- Thôi vậy, tóm lấy tay em một cái rồi ngủ đi nhé.
- Ừ, tóm tay em một cái...
- Mà này... đừng có nói chuyện với chị ấy nữa nhé
- Được rồi, - anh cười, - sẽ không nói nữa.

Còn chưa thôi cười, anh quay sang chỗ vợ:
- Đấy là Iô, - anh nói, - tên cô bé ấy là thế đấy. Hay nhỉ?
- Hay thật, - vợ anh đáp với vẻ chờ đợi.
- Cô ấy không giải được bài toán có hai bể nước. Cô bé học lớp bảy lớp tám gì đó, anh cũng chẳng nhớ.
- Anh giải cho cô ấy à?
- Không, - anh đáp, - Anh quên hết rồi, mà hai bể nước - đấy thật sự là bài toán phức tạp.

fresco 09-07-2008 17:13

Rudolfiô (Tiếp)
 
Mới sáng chuông điện thoại đã réo. Mà đã sáng đâu cơ chứ... chưa có tý ánh sáng nào cả, thành phố vẫn còn đang say giấc mơ cuối cùng trước lúc rạng sáng. Rudolf ngồi dậy nhìn ngôi nhà đối diện – chưa một ô cửa nào có chút ánh sáng, chỉ có những chiếc cổng như chiếc kèn harmonica lấp lánh ánh sáng của kim loại thành bốn hàng thẳng tắp. Chuông vẫn réo không ngừng. Bước tới điện thoại, Rudolf nhìn đồng hồ: mới có năm rưỡi.

- Tôi nghe đây, - anh cáu kỉnh nói.
- Rudik, Rudik...
Anh rít lên:
- Iô, có quỷ mới biết được cái thứ này là cái gi?
- Rudik, - cô cắt lời anh, - anh nghe đây, đừng giận, anh chưa biết có chuyện gì xảy ra đâu.
- Chuyện gì?, - anh đứng lặng hỏi.
- Rudik, bây giờ anh không còn là Rudik nữa, anh là Rudolfiô rồi...- Cô trang trọng tuyên bố. – Rudol-fiô! Hay quá phải không? Em vừa mới nghĩ ra đấy. Rudolf và Iô hợp lại thành Rudolfiô, giống như người Ý ấy, anh nhắc lại đi xem nào.
- Rudolfiô, - Giọng nói của anh trộn lẫn sự tuyệt vọng và giận dữ.
- Đúng rồi. Bây giờ anh và em có chung một tên – chúng mình không tách khỏi nhau, như Romeo và Juliete ấy. Anh là Rudolfiô, em cũng là Rudolfiô.
- Nghe này, - anh nói khi đã bình tĩnh trở lại, - Chẳng lẽ em không thể gọi vào một giờ hợp lý hơn được hay sao?
- Sao anh không hiểu rằng em không thể chờ đợi được. Thế đấy. Lát nữa, đằng nào anh chả dậy. Rudolfiô, anh nhớ nhé, bảy rưỡi em chờ anh ở bến tàu điện.
- Hôm nay anh không đi tàu điện.
- Sao vậy?
- Anh được nghỉ bù
- Nghỉ bù là thế nào?
- Nghỉ bù ấy mà, một ngày nghỉ ngoài lịch, anh không phải đi làm.
- À ra thế, - cô bé nói, - Vậy em thì sao?
- Anh biết sao được. Em cứ đi học, thế thôi.
- Thế vợ anh cũng nghỉ à?
- Không.
- Thôi vậy, cũng chẳng sao. Nhưng anh đừng quên: bây giờ tên chúng ta là Rudolfiô.
- Rất hân hạnh!

Anh đặt máy, rủa thầm một tiếng rồi đi đặt ấm nước. Bây giờ có đi nằm cũng không ngủ lại được. Hơn nữa ngôi nhà đối diện đã có 3ô cửa sổ bật đèn.

fresco 09-07-2008 17:17

Rudolfiô (Tiếp)
 
Buổi trưa có một người gõ cửa. Anh đang lau nhà. Khi ra mở cửa, tay anh vẫn còn cầm khăn ướt mà trước đó không hiểu sao anh không nghĩ bỏ nó vào một chỗ.
Hoá ra là cô.

- Chào anh, Rudolfiô!
- Em đấy à? – anh ngạc nhiên, - Có chuyện gì thế?
- Em cũng nghỉ bù.
Gương mặt cô như gương mặt thiên thần – không một dấu vết lương tâm cắn rứt.
- Lại thế nữa! – Anh lấy vẻ dõng dạc đáp – Em trốn học hả! Thôi đã đến thì vào nhà đi. Anh lau xong ngay bây giờ.
Không bỏ áo khoác, cô gái ngồi xuống ghế bành bên cạnh cửa sổ nhìn anh đẩy khăn trên sàn nhà.
- Rudolfiô, em thấy anh thật bất hạnh trong cuộc sống gia đình, - cô tuyên bố sau một phút suy nghĩ.
Anh đứng thẳng lên:
- Em căn cứ vào đâu?
- Rất dễ thấy. Chẳng hạn, anh chẳng có vẻ gì hứng thú với việc lau nhà, những người hạnh phúc đâu có như vậy.
- Đừng bịa chuyện nhé, - anh cười đáp
- Thế anh bảo anh hạnh phúc à?
- Anh sẽ chẳng nói gì cả
- Thấy chưa.
- Em bỏ áo ra cho thoải mái.
- Em sợ anh, - cô nói khi quay mặt ra cửa sổ.
- Cái gì, em nói gì?
- Còn gì nữa, anh là đàn ông.
- À ra thế, - anh cười. - Vậy tại sao em còn dám đến đây?
- Tại anh và em đã là Rudolfiô rồi mà.
- Ừ nhỉ, - anh nói, - Anh cứ quên khuấy đi... Hẳn điều đó đặt ra cho anh một số trách nhiệm.
- Tất nhiên.

Cô yên lặng ngồi trong lúc anh khua xô loảng xoảng trong bếp. Nhưng khi anh bước ra thì áo măng tô của cô đã khoác lên lưng ghế, còn gương mặt Iô đượm vẻ suy tư rầu rĩ.
- Rudolfiô, hôm nay em khóc đấy, - cô bỗng thổ lộ.
- Vì sao, Iô?
- Không phải là Iô, mà là Rudolfiô
- Ừ, vì sao khóc, Rudolfiô?
- Tại chị gái em, chị ấy làm ầm lên, khi em quyết định trốn học.
- Theo anh, chị ấy đã đúng
- Không, Rudolfiô, không đúng, - cô đứng dậy đi ra cạnh cửa sổ, - Một lần trốn học thì có thể được, các vị không hiểu sao. Bây giờ em thấy thật hạnh phúc khi được nói chuyện với anh...

Cô bé lại im lặng và anh chăm chú ngắm nhìn cô. Qua lần vải áo, đôi bầu ngực cô như ngượng ngùng nhô lên, giống như hai tổ chim nho nhỏ mà không hiểu loài chim gì đan bện để nuôi con nhỏ. Anh nhận thấy rằng chỉ một năm nữa thôi, khuôn mặt cô sẽ dài ra và trở nên xinh xắn, và anh cảm thấy buồn rầu khi nghĩ rằng cùng với thời gian, đến lúc cô sẽ có chàng trai của mình. Anh bước đến gần, nắm lấy vai cô cười bảo:
- Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp
- Có thật không, Rudolfiô?
- Thật
- Em tin anh, - cô nói.
- Uhm....
Anh định bước đi, nhưng cô gọi lại:
- Rudolfiô!
- Gì em?
- Sao anh lấy vợ sớm thế? Chỉ cần hai năm nữa là em có thể đến với anh được.
- Đi đâu mà vội, - anh nói,- rồi em sẽ lấy được một chàng trai tuyệt vời.
- Em thích lấy anh cơ...
- Chàng trai ấy sẽ hơn anh nhiều.
- Thật á?..., - cô kéo dài giọng vẻ ngờ vực, - Anh nghĩ rằng có người hơn anh à?
- Hơn một ngàn lần ấy chứ.
- Nhưng người ấy lại không phải là anh, - cô bất giác thở dài
- Thôi, chúng ta đi uống trà đi còn hơn, - anh mời
- Vâng
Anh vào bếp đặt nước.
- Rudolfiô!

Cô đứng cạnh giá sách.
- Anh, chúng mình có một cái tên đẹp nhất. Anh thấy đấy, nhà văn cũng không có đuợc cái tên ấy, - cô ngừng lại một giây, - có lẽ chỉ có tên một nhà văn này là hay: Ex-zu-pe-ri, phải không anh?
- Đúng, - anh nói, - Em đã đọc ông ta chưa?
- Chưa
- Em cầm lấy mà đọc. Nhưng không được trốn học nữa, đồng ý chứ?
- Đồng ý.
Cô lấy áo măng tô ra mặc.
- Thế còn trà?, - anh nhớ ra
- Rudolfiô, có lẽ em về thì hơn ? - Nụ cười của cô trở nên rầu rĩ, - Nhưng anh đừng nói với chị ấy là em đến nhé. Được chứ, Rudolfiô?
- Được thôi, anh hứa.

Cô gái đi rồi, anh chợt cảm thấy man mác trong lòng; trong anh tràn ngập một nỗi buồn khó tả, chưa thể bộc bạch ra ngoài... Anh mặc áo rồi bước ra phố.

fresco 09-07-2008 17:21

Rudolfiô (Tiếp)
 
Mùa xuân ập đến ngay hầu như không báo trước. Chỉ vài ngày mọi người đã thấy thoải mái hơn, mấy ngày ấy như thời kỳ quá độ từ lúc chờ mong cho đến khi sự thành, bởi vì những giấc mơ xuân như nhà tiên tri đã báo truớc cho con người hạnh phúc, tình yêu.

Trong những ngày ấy, vào một chiều tối, khi Rudolf đang về nhà thì có một người đàn bà đứng tuổi giữ anh lại.
- Tôi là mẹ của Iô, - bà nói. – Xin lỗi, hình như anh tên là Rudolfiô.
- Vâng ạ, - anh mỉm cười nhận cái tên ấy.
- Tôi biết anh qua con gái tôi. Gần đây nó nói đến anh nhiều, nhưng tôi...

Bà chợt ngắc ngứ, và anh hiểu rằng bà khó lòng hỏi được cái điều cần hỏi của một bà mẹ.
- Bác đừng lo, - anh nói, - cháu với Iô có một tình bạn hết sức tốt đẹp và không thể có điều gì xấu xa được.
- Tất nhiên, tất nhiên, - bà tỏ ra luống cuống, vội vã, - nhưng Iô là một con bé ương bướng, nó chẳng chịu nghe chúng tôi. Nếu anh nói mà nó nghe...Xin anh hiểu cho tôi..., vào cái lứa tuổi này cũng thật đáng sợ, nó có thể làm những điều ngốc nghếch. Ngoài ra, tôi còn lo một điều là nó không có một bạn gái trong đám cùng lớp, và nói chung trong cả cái đám cùng tuổi.
- Thế thì đáng lo thật
- Tôi hiểu, tôi nghĩ rằng anh bảo được nó...
- Để cháu nói chuyện với Iô, - anh hứa, - nhưng theo cháu, Iô là một cô bé ngoan, bác đừng lo ngại như thế.
- Tôi cũng không biết nữa.
- Chào bác, cháu sẽ nói chuyện với cô ấy. Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp.

fresco 09-07-2008 19:58

Rudolfiô (Tiếp theo)
 
Anh quyết định gọi điện ngay cho cô, nhất là lúc ấy vợ anh đi vắng.
- Anh Rudolfiô! – Rõ ràng là cô rất vui. - Anh gọi điện cho em đấy à, tuyệt thật! Rudolfiô, mà này, em lại khóc đấy.
- Không được khóc nhiều như thế, - anh nói.
- Tại cái quyển “Hoàng tử nhỏ” đấy. Em thương quá. Liệu có một hoàng tử thật như thế không nhỉ?
- Theo anh thì có.
- Theo em thì cũng có. Nhưng chúng ta thì không biết. Điều ấy đáng sợ lắm. Nếu không có Ex-zu-pe-ri thì chúng ta chẳng bao giờ biết đến cậu bé hoàng tử này. Ông ấy có cái tên đẹp như chúng ta là phải.
- Đúng đấy.
- Em còn nghĩ một điều này: cậu ta cứ làm hoàng tử bé mà lại hay, Thật khủng khiếp nếu như bống nhiên cậu ta lớn thành một người bình thường. Mà người bình thường thì nhiều quá rồi còn gì nữa.
- Anh không biết
- Nhưng em thì biết, đúng thế.
- Thế còn cuốn “Quê xứ người”, em đọc chưa?
- Em đọc hết rồi, Rudolfiô ạ. Theo em, Ex-zu-pe-ri là một nhà văn rất minh mẫn, thậm chí phát kinh khủng lên được. Mà lại tốt bụng nữa. Anh có nhớ không: người ta chuộc ông Bark ra khỏi cuộc đời nô lệ, cho ông ta tiền, thế mà ông ta lấy số tiền ấy mua giầy cho trẻ con để rồi tay trắng lại hoàn tay trắng.
- Phải rồi, - anh nói, - em có nhớ Bonnafus khong? Cái người đã bòn rút và cướp của của người Ả rập, thế rồi họ vừa ghét vừa thương ấy.
- Bới vì không có hắn thì sa mạc cũng chỉ là một vùng đất hoang sơ rất mực tầm thường, mà có hắn thì hắn đã làm cho sa mạc trở nên hung hãn nhưng đầy thơ mộng.
- Em hiểu biết như thế thì cũng ghê đấy,- anh nói.
- Rudolfiô..., cô bống im bặt.
- Anh vẫn nghe đây, - anh nhắc.

Cô vẫn im
- Rudolfiô, - anh nói, không hiểu vì sao bỗng thấy lo âu, - em sang ngay anh nhé, anh đang ở nhà một mình.

fresco 09-07-2008 20:03

Rudolfiô (Tiếp theo)
 
Cô nhìn quanh rồi đến ngồi xuống ghế.
- Sao em im lặng thế? – anh hỏi
- Đi vắng hả anh?
- Vợ anh ấy à?
- Vâng
- Đi vắng rồi
- Chị ấy là một “bà chằn”!
- Cái gì?
- Bà chằn...
- Em kiếm đâu ra cái từ ấy?
- Kiếm trong tiếng Nga thôi. Đối với chị ấy không có từ nào hợp hơn cả.
- Iô, không được nói thế
- Không phải là Iô, mà là Rudolfiô
- Ừ nhỉ,
- Lúc nãy em gọi điện sang đây, có chị ấy nghe. Anh có biết chị ấy nói gì không? Chị ấy bảo là nếu là chuyện hai cái bể nước thì tốt nhất là đem hỏi cô giáo, chứ đừng quấy rầy anh. Em nghĩ là chị ấy ghen.
- Anh không nghĩ thế.
- Rudolfiô, em hơn đứt chị ấy, đúng không? Chỉ có điều là em chưa lớn hẳn thôi. Đối với em mọi điều còn ở phía trước.
Anh mỉm cười gật đầu.
- Anh thấy không? Theo em, đã đến lúc anh phải ly dị.
- Đừng nói nhảm nữa nào, - anh ngắt lời cô, - anh dễ tính với em quá rồi đấy.
- Vì tình yêu phải không?
- Không phải, vì tình bạn.
Cô nhíu mày lặng im, nhưng chỉ được trong chốc lát.
- Tên chị ấy là gì?
- Vợ anh ấy à?
- Vâng
- Tên là Klava
- “Klava – đẩy qua đẩy lại” (!)... hay thật! - Cô nhại...

Anh nổi giận
- Thôi đi
Cô đứng dậy, thoáng nhắm mắt lại rồi chợt nói:
- Rudolfiô, em không được bình thường, xin lỗi anh, em không muốn...
- Nhưng em đừng có gào lên, - anh chặn trước.
- Em không gào đâu.
Cô bước sang một bên, quay mặt ra cửa sổ.
- Rudolfiô, - cô nói, - chúng mình thỏa thuận thế này nhé: coi như hôm nay em không sang đây và không nói gì cả, được không?
- Được
- Anh hãy coi buổi gặp hôm nay chỉ là lời chào “tạm biệt” mà em nói với anh qua điện thoại.
- Đồng ý
Cô bước ra.
Năm phút sau, chuông điện thoại reo.
- Tạm biệt, Rudolfiô
- Tạm biệt.
Anh chờ nghe tiếp nhưng cô đã bỏ máy xuống.

fresco 09-07-2008 20:05

Rudolfiô (Tiếp theo)
 
Iô thôi không gọi điện nữa mà anh cũng lâu không gặp lại, vì anh lại ra đi để rồi tháng 5 mới trở về, khi mùa hè đã lấn lướt hẳn mùa xuân. Thời gian này, lúc nào anh cũng bận rộn, có nhớ đến cô, anh cũng đành gạt đi: ngày mai ta sẽ nói chuyện, rồi lại sang ngày kia, cứ thế rồi chẳng bao giờ nói cả.

Thế rồi họ gặp nhau thật là tình cờ, tất nhiên vẫn là trên tàu điện. Anh nhìn thấy cô và hối hả lách sang vì sợ cô xuống mất; do cô có thể xuống bên khác cũng được, còn anh thì hẳn là không dám nhảy xuống theo cô. Nhưng cô vẫn đứng trên tàu và anh thấy mình mừng rỡ quá mức so với những quan hệ bè bạn thông thường.
- Chào em, Iô, - anh đặt nhẹ tay lên vai cô và nói.
Cô sợ hãi quay lại, nhìn thấy anh, ngập ngừng rồi mừng rỡ gật đầu:
- Không phải Iô mà Rudolfiô, - cô chữa lại y như hồi trước, - Anh và em vẫn là bạn bè như xưa phải không?
- Rudolfiô, tất nhiên rồi.
- Anh vừa đi công tác à?
- Ừ
- Có một hôm em gọi điện, anh không có nhà
- Anh đã về được một tuần rồi.

Tàu đông chật người và hai người bị chen tới tới tấp. Họ phải đứng sát vào nhau, đầu cô chạm vào cằm anh, khi cô ngẩng mặt lên nói và anh cúi xuống nghe, họ phải đưa mắt nhìn đi chỗ khác vì khoảng cách gần quá.
- Rudolfiô. anh có muốn em nói một điều gì đó với anh không?
- Tất nhiên là muốn chứ
Cô lại ngẩng mặt lên sát với gần mặt anh, làm anh muốn nheo mắt lại.
- Vắng anh lúc nào em cũng thấy buồn, Rudolfiô ạ
- Đừng có dở hơi, - anh nói
- Em biết, - cô thở dài, - nhưng có điều chẳng bao giờ em buồn vì những người con trai khác, một thế kỷ nữa em cũng chả cần đến họ.
Tàu dừng lại và họ bước xuống.
- Anh về với Klava của mình chứ?, - cô hỏi.
- Không, mình đi dạo đi.

Họ vòng ra sông, nơi bắt đầu bãi cát, họ đi trên cái bãi trống chưa có đường mòn, phải nhảy qua các mô đất và các bãi rác, và anh phải nắm tay giúp cô vượt qua.

Cô im lặng. Điều ấy chẳng giống bản tính thường ngày của cô, nhưng cô vẫn im lặng và anh cảm thấy rằng cô cũng như anh, hai người đều khắc khoải một niềm xúc động - một niềm xúc động mạnh mẽ, dâng trào và không có gì kiềm chế được.

Họ ra đến bờ dốc và vẫn nắm tay nhau, họ nhìn xuống sông, nhìn tít xa sang bờ bên kia rồi lại nhìn xuống làn nước trên sông.
- Rudolfiô, - không kìm được nữa, cô nói, - em chưa bao giờ được hôn cả.
Anh cúi xuống hôn vào má cô.
- Vào môi cơ, - cô đòi.
- Chỉ có những người thân nhất mới hôn môi được, - anh bối rối.
- Thế còn em?

Cô rùng mình, còn anh hoảng sợ. Một giây sau anh chợt hiểu – không phải là cảm thấy mà là hiểu ra, - rằng cô đã tát anh, đúng là một cái tát, rồi cô bỏ chạy; cô chạy vẫn theo cái lối ấy qua bãi trống, qua những mô đất, vượt qua niềm xúc động và nỗi chờ mong.

Còn anh, anh đứng nhìn theo bước chân cô chạy, thậm chí không dám gọi cô, không dám chạy theo. Anh còn đứng đấy khá lâu, cảm thấy trống rỗng và tự căm giận chính mình.

fresco 09-07-2008 20:09

Rudolfiô (Tiếp theo và hết)
 
Chuyện ấy xảy ra hôm thứ Bảy thì đến sáng Chủ nhật, mẹ cô gọi điện cho anh vào lúc sáng sớm:
- Rudolfiô, xin lỗi vì tôi đã đánh thức anh dậy...., - giọng bà rời rạc, run rẩy.
- Cháu nghe đây, - anh nói
- Rudolfiô, con bé Iô nhà tôi hôm qua không về nhà ngủ
Đáng lẽ anh phải trả lời một câu, nhưng anh im lặng.
- Chúng tôi lo quá, không biết làm thế nào, đây là lần đầu tiên...
- Trước hết bác hãy bình tĩnh cái đã, - cuối cùng anh nói, - có thể cô ấy ngủ ở nhà bạn.
- Tôi cũng không biết
- Hợp lý nhất là như thế, nếu hai tiếng đông hồ nữa không thấy Iô về thì chúng ta đi tìm. Có điều là bác phải bình tĩnh, hai giờ nữa cháu sẽ gọi điện lại cho bác.

Anh đặt ống nghe xuống, suy nghĩ một lát rồi tự nhủ: chính mình cũng phải bình tĩnh, chắc là cô ấy ngủ nhà bạn đấy. Nhưng anh không bình tĩnh được, ngược lại, anh cảm thấy bắt đầu hốt hoảng. Để đỡ trấn tĩnh lại, anh bước sang phòng xép, huýt sáo và lục bới đống sách vở học trò xưa cũ. Cuốn bài tập đại số không biết lẫn vào đâu, anh mải đi tìm và nhờ vậy cũng lãng quên được chốc lát.

Điện thoại vẫn im tiếng. Rudolf đóng cửa bếp và lật cuốn sách toán. Cái bài toán ấy đây rồi: nếu tháo nước từ bể này sang bể khác trong hai giờ....

Điện thoại vang lên:
- Em nó về rồi anh ạ, - mẹ cô không kìm được xúc động, bật khóc thành tiếng.
Anh đứng yên nghe.
- Rudolfiô, anh sang với chúng tôi nhé.
Bà bật khóc rồi nói thêm:
- Em nó có chuyện gì ấy anh ạ.

********************

Không xin phép, anh bỏ áo khoác lông , và mẹ cô im lặng đưa tay chỉ vào buồng cô.

Iô ngồi trêngiường, hai chân gập lại, người đung đưa trong khi mắt nhìn thẳng ra cửa sổ trước mặt.
- Rudolfiô! – Anh gọi
Cô quay lại phía anh mà không nói năng gì.
- Rudolfiô!
- Thôi đi, - Cô nhăn mặt khinh bỉ, - Anh mà là Rudolfiô? Anh là một anh chàng Rudolf tầm thường, một Rudolf tầm thường bậc nhất, anh hiểu không?

Lời nói như một đòn đánh cực mạnh đến nỗi toàn thân anh đau giội lên, nhưng anh vẫn buộc mình phải ở lại. Anh bước ra bên cửa sổ, chống tay lên bệ.

Cô vẫn đung đưa người từ trước ra sau và vẫn nhìn thẳng qua vai anh, lò so giường cô khẽ kêu cót két.
- Thôi được, - anh đồng ý với cô, - Nhưng hãy nói em ở đâu hôm qua?
- Anh cút đi! – Cô không quay người lại, trả lời mệt mỏi.

Anh gật đầu. Rồi anh lấy áo khoác từ giá treo xuống, không trả lời ánh mắt thăm dò của bà mẹ, anh xuống cầu thang và đúng là cút đi thật. Ngày Chủ nhật mới bắt đầu, người qua đường còn vắng, chẳng có ai giữ chân anh lại. Anh bước qua bãi cát, xuống bên bờ sông và bống suy nghĩ: đi đâu nữa bây giờ?

1965

Hết

Cá Măng 10-07-2008 11:42

Cảm ơn nhiều bác fresco đã giới thiệu nhà văn này. " Hãy sống mà nhớ lấy" là cuốn tiểu thuyết mang lại cho em ấn tượng mạnh ngày còn nhỏ. Em từng có ý định viết review cuốn này trên NNN xong rồi lại thấy chưa đủ lực nên bỏ. Hôm nay bác fresco làm em nhớ ra, là em đã từng viết như thế này, em xin trích dẫn một đoạn truyện nhé:
" Sống mà nhớ lấy" là tác phẩm viết về chiến tranh nhưng trong câu chuyện này tuyệt nhiên không có bóng dáng của tiếng súng chiến trận hay bóng dáng của kẻ thù chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường của từ này. Nói đúng hơn , đây là câu chuyện bi kịch về quá trình hình thành tâm lý phức tạp của một kẻ phản bội và người vợ đáng thương của y tên là Naxchena. Mình muốn nói tới người phụ nữ đáng thương ấy.
Một câu chuyện buồn, rất buồn.
Buồn đến nỗi nhiều khi muốn đọc lại mà không dám mở nó ra nữa. Câu chuyện mở đầu bằng việc mất một chiếc rìu trong nhà tắm của gia đình Anđrây. Anđrây đã ra mặt trận, ở nhà chỉ còn bố mẹ hắn và vợ: Naxchena. Không ai nghi ngờ gì cả, chỉ có người vợ, người phụ nữ cảm thấy có linh cảm mách bảo một điều gì đó. Sự thật là Ảnđây đã trốn khỏi mặt trận, đào ngũ, sống chui lủi như một con chó trong rừng, không dám về làng. Ngay cả khi chiến tranh kết thúc. Người vợ - Nachena đã tình nguyện nhận lấy gánh nặng tội lỗi ấy, che giấu cho y, cũng chỉ vì muốn cùng chồng chuộc lại tội lỗi nặng nề của y nhưng hóa ra là vô ích. Chị có mang với một người chồng được xem là mất tích trong chiến tranh, khi mà ở làng chẳng còn ai là đàn ông, khi chị còn bao việc phải làm ở một hậu phương, và cuối cùng không chịu nổi gánh nặng tội lỗi của chồng, chị đã phải nhảy xuống sông tự vẫn.
Mình sẽ chép lên đây 3 đoạn trích từng làm mình xúc động. Một đoạn trích là hồi ức của Nachena ngày mới về nhà chồng, người con gái ấy đã trong sáng thế nào, (tất nhiên Nachena mãi mãi trong sáng). Hai đoạn trích còn lại là đoạn đối thoại với mẹ chồng và bố chồng về cái thai trong bụng chị. Buồn, rất buồn cho thân phận người phụ nữ.
" ....Khi anh đưa em về đây, em chẳng có ai là họ hàng thân thích, tất cả đều xa lạ, tất cả. Có thể nói em cứ nhắm mắt mà bước theo anh: mặc anh muốn dẫn em đi đâu thì đi. Mà ngay cả anh em cũng biết gì nhiều đâu - em chỉ gặp anh hai ba lần gì đó, gặp chơi chơi thôi, rồi cũng chơi chơi như thế, gần như đùa, chúng mình hứa hẹn với nhau. Cho đến phút cuối cùng em vẫn không tin là anh sẽ đến. Bảo thế có đáng sợ không? - cả cuộc sống cũng thay đổi, cuộc sống cũ không còn lại cái gì, chỉ còn lại mình em, mà chính em cũng không hiểu là có phải em không nữa....Về tới nhà, anh bảo: đây, vợ con đây. Bố hỏi em: tên cô là gì? - Naxchia, em nói. Ông sửa lại: Naxchena. Từ đó đi đâu mọi người cũng chỉ gọi em: Naxchena, Naxchena. Còn mẹ cứ nhìn em không nói gì. Em thấy bà có vẻ không thích em lắm, có lẽ bà mong đợi con dâu khác. Anh cũng nhận thấy thế, nên anh bảo: ở đây cô ấy có một mình - đấy là anh nói về em - không có ai che chở, nhà ta đừng làm cho cô ấy buồn. Anh nói giọng như nói đùa, hơi có vẻ giễu cợt, nhưng thực ra đâu phải anh đùa? lúc ấy em mới tin, không, em đã không nhầm khi bằng lòng lấy anh, và dù có nhắm mắt cho anh lôi đi tới đâu em cũng vẫn sung sướng.
Ngay tối hôm ấy, anh dẫn em đi chào mọi người. Anh còn nhớ không?Chúng mình đến nhà Vichia, nhà Macxim rồi còn nhiều nhà khác. Không phải để khoe em. mà để em nhận mặt ngay từng người, sau đó gặp khỏi bỡ ngỡ. Quả thực sáng hôm sau gặp Natca Vichia, em cứ tròn mắt: em cứ nghĩ không hiểu đâu ra em lại gặp ở đây cô bạn quen thế nhỉ? Vì trông mặt rất quen, nhưng chị ấy là ai, quê ở đâu, thì chị không nhớ ra. Về sau, giời ạ, mới vỡ nhẽ là em vừa quen chị ấy tối hôm qua, lúc anh dẫn em đến nhà chị ấy chơi, đầu óc em lú lẫn hết cả. Em mừng quá, em coi chị ấy như chị em.....Anh cứ cặm cụi đến tận bữa ăn, quên cả người vợ trẻ. Em đi xuống sông Angara xem vườn rau, cả hai vườn. Chưa có anh em chưa chịu ngồi vào bàn ăn, em đợi. Mẹ không nhịn được, mẹ quát anh đứng lên. Rồi cả nhà uống trà với bánh mỳ vòng, bố , mẹ và em. Uống trà xong anh bảo, chuẩn bị đi, đi đâu? đi lên núi. Rồi anh dẫn em lên núi thật, lên khu đất bằng trên đó, chỉ cho em cánh đồng, bãi cỏ - chúng mình cứ đi mãi đến tận chiều. Về đến nhà đã thấy mấy người bạn của anh đang ngồi ở đó: anh mới lấy vợ, phải mang vợ ra khoe đi - họ bảo thế. Hôm ấy có cả anh Vichia, cả anh Macxim. Anh Vichia chết rồi, chắc anh biết? Anh biết , vì em đã viết thư, Natca đẻ con gái, không biết anh đã biết chưa, vì em không nhớ em có viết thư kể cho anh nghe chuyện ấy không. Bây giờ chị ấy có ba đứa, vất vả lắm, ôi vất vả không tưởng tượng được. Nhưng biết làm sao?...."

fresco 13-07-2008 04:58

Bạn Măng thích " Hãy sống mà nhớ lấy" à?:D Công nhận là câu chuyện thật buồn. Cái ông bác Rasputin này viết văn cũng có cái chất Nga rất dân dã nhiều khi gai góc đến cực đoan..., cũng khá giống với chất của ông bác Astafiyev mà mình đã giới thiệu qua cái truyện ngắn "Ngỗng trời..." ấy. Chả thế mà đến cuối đời, hai nhà văn nổi tiếng này đều ngả theo xu hướng cực hữu, tất cả vì dân tộc Nga vĩ đại và có những hành động, bài viết bài Do-thái (antisemitism), bài ngoại...Dân Nga gộc thì khoái lắm nhưng các đồng chí gốc Do thái thì lại "cau mặt, nhíu mày" khó chịu! Âu cũng là thời thế nhỉ?

Ông bác Rapustin tuy có những cuốn tiểu thuyết rất hầm hố như " Hãy sống mà nhớ lấy" thế nhưng lại có những mẩu truyện ngắn viết về thiếu nhi rất dễ thương, ví dụ như cái truyện Rudolfiô ở trên, và một số mẩu truyện khác nữa. Hy vọng là có thời gian giới thiệu với mọi người. :D

Nina 14-07-2008 00:55

Hihi, ngày xưa Nina đọc truyện này thấy cực kỳ ghét cái anh chàng Rudolf. Bây giờ đọc qua bản dịch của bác fresco thấy lão ta đỡ gớm ghiếc hơn. Bác fresco có ... đánh bóng hình ảnh lão Rudolf không đấy? :)

fresco 14-07-2008 12:36

@Nina: không hề đánh bóng cho cậu chàng...:D Thậm chí thái độ còn giống như Nina: cực kỳ ghét luôn!!! Hic, thích thì nhận ngay là thích đi, cứ vờ vĩnh làm trò...:D

hungmgmi 21-08-2008 16:12

Bài phát biểu tại Lễ sinh nhật lần thứ 70 của Rasputin.
 
Dịch giả Trần Hậu vừa gửi cho Ban biên tập Nước Nga Nét bản dịch sau, xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của anh Trần Hậu với trang web của chúng ta.
Hơi lạc đề một chút, cách đây hơn 1 tuần Hungmgmi mới xem bộ phim tài liệu về vùng hồ Baikal, hóa ra bác nhà văn "Sống mà nhớ lấy là một người đấu tranh không mệt mỏi trong suốt thời gian hậu Xô viết để bảo vệ môi trường vùng hồ này, trong đó lời kêu gọi đóng cửa Nhà máy giấy đang gây ô nhiễm trầm trọng.

TÀI NĂNG CẦN ĐƯỢC NÂNG ĐỠ

(Bài phát biểu của nhà văn Nga nổi tiếng Valentin Rasputin nhân lễ kỷ niệm sinh nhật 70 tuổi)
Các bạn thân mến! Khi được khen, tôi già đi rất nhanh. Đã nhiều lần tôi nhận ra điều đó. Sau đấy một thời gian, người ta lại bắt đầu chê tôi, và tôi lại cảm thấy phấn chấn, trở nên khỏe khoắn hơn, dáng đi thay đổi, chữ nghĩa tự nhiên bật ra. Vì vậy, đối với tôi tốt nhất là sống trong những tình huống, nếu không phải cực đoan, thì cũng thật khó khăn. Hôm nay, tất nhiên tôi sẽ được khen, và tôi biết sẽ gay go đây. Có lẽ, chúng ta ngồi uống với nhau ly nước, rồi sức lực sẽ hồi sinh. Ngôi nhà các dân tộc này đã từ lâu trở thành nhà của tôi. Năm năm trước ở đây đã diễn ra buổi giới thiệu truyện vừa “Con gái của Ivan, mẹ của Ivan” của tôi. Và nó diễn ra rất vui vẻ. Nhiều người hôm nay có mặt ở đây đã đến dự. Vậy nên khi mọi người gợi ý tìm địa điểm cho buổi lễ kỷ niệm hôm nay, tôi chọn Nhà các dân tộc. Nó tiện lợi, ấm cúng, tất cả mọi người đều nghe rõ nhau và nhìn thấy nhau.
Phải nói rằng tôi gặp may trong cuộc đời. Điều này không có gì phóng đại. Tôi gặp may vì đã sinh ra mấy năm trước chiến tranh, và đã cùng với mọi người trải qua tất cả những khó khăn, gian khổ. Điều này với tôi rất cần thiết với tư cách một nhà văn. Các ông bố của chúng tôi ra trận hết, ở hậu phương chỉ còn lại những người mẹ và trẻ con. Nhưng một thiếu niên như tôi thì làm được gì? Buộc phải lao động, làm việc, không bằng mọi người, tất nhiên, nhưng tuỳ theo sức của mình. Nếu không, làm sao sống sót. Nếu như tôi chạy ra sông Angara thì là để câu cá, và chúng tôi đã câu được rất nhiều. Chúng tôi thường sống bằng những con cá đó. Hơn nữa bên cạnh là rừng Taiga. Và chúng tôi thường đến đó không phải để ngắm cảnh, mà là để hái quả và nấm, hạt dẻ, hành gấu. Tất cả những thứ đó cần cho sự sống.
Làng tôi không lớn lắm, vào thời chiến trong làng không có một mống đàn ông nào. Cả làng được cứu sống nhờ mọi người biết đồng cam cộng khổ. Ai thiếu bánh mỳ - thì tìm thấy ở nhà hàng xóm, mọi người sống được quả thật là nhờ nương tựa vào nhau. Tôi nhớ, khi những người lính bắt đầu từ mặt trận trở về (bố tôi về muộn hơn, vào cuối năm), lần nào họ cũng đến tất cả các nhà, và mỗi người trong chúng tôi đều được biếu khi thì cái bánh quế, khi thì khúc bánh mỳ, khi thì một món quà nào đấy. Chính sự cộng sinh đó trong công việc, trong cuộc sống, và cả trong niềm vui đã nuôi dưỡng chúng tôi. Tôi không muốn lý tưởng hoá nhân dân, có nhiều chuyện xảy ra, nhưng cái tai họa chung này vào những năm đó đã gắn bó chúng tôi. Và sau này, khi tôi đi học phổ thông ở Ust-Ilimsk, ban đầu mẹ tôi đã thuê nhà trọ cho tôi, thoả thuận trả bằng cái gì đó. Sau đấy 4 năm liền tôi đã tá túc trong nhà bạn bè. Tôi được nuôi ăn như các bạn mình. Lúc ở nhà bạn này, lúc ở nhà bạn khác, và điều này cũng không thể nào quên. Quả thật, mọi người đã sống như một gia đình. Vào những kỳ nghỉ hè, khi về thăm quê cách đó 50 cây số, tôi có thể ghé vào bất cứ nhà nào, tôi được mời uống nước, ăn bánh. Phải chăng có thể so sánh với những gì đang diễn ra hôm nay? Tính cộng đồng, sự giúp đỡ lẫn nhau, lương tâm con người - tất cả đã giúp chúng tôi sống sót. Tôi đã viết về tuổi thơ của mình trong truyện ngắn “Những bài học tiếng Pháp”. Tất nhiên, có hư cấu, cô giáo trong truyện không đánh bạc với tôi, nhưng cô quả thật có gửi cho tôi những gói mỳ ống. Tôi đã sống bằng số mỳ đó. Khi tôi bắt đầu viết truyện ngắn, chỉ riêng mỳ ống không đủ cho cốt truyện, nên tôi buộc phải hư cấu thêm. Và lúc bấy giờ cả làng sống như vậy, tôi nghĩ rằng cả nước Nga nông dân đã sống như vậy. Nhưng sau này tất cả những cái đó đã biến đâu mất? Bây giờ bạn đi về làng quê của mình, nó vẫn nghèo như xưa, nhưng không còn sự chở che đùm bọc của mọi người nữa. Ban đầu, khi những người đàn ông trở về, một lâm trường đã được thành lập, mọi người nhận được nhiều tiền, uống nhiều rượu vodka. Họ đối xử với nhau ngày càng tệ. Tôi đã viết về điều này trong truyện vừa “Đám cháy”. Cũng về quê hương thân thuộc, nhưng đã trở nên xa lạ biết bao! Tất cả những gì tốt đẹp đã bay đi đâu cả rồi. Tôi không nói rằng cần phải sống nghèo khổ. Mặc dù cái nghèo giúp con người gắn bó, trong nghèo khổ con người dễ nương tựa vào nhau để sống sót hơn. Cái nghèo giúp con người sống trong sạch hơn. Sự giàu có thường làm hư con người. Người Nga luôn có một khái niệm gọi là sự đầy đủ. Đó là những thứ chúng ta cần thiết, không phải giàu có, mà là đầy đủ. Nghèo khổ dù sao vẫn là nghèo khổ, tôi không muốn nhân dân mình nghèo khổ. Nhưng cần phải no đủ, khi có tất cả những thứ cần thiết. Còn ở nông thôn người ta luôn nhìn bọn nhà giàu hoàn toàn khác. Con người cần giàu có để làm gì, nếu như có sự đầy đủ? Con người cần sự thừa thãi làm gì? Điều đó làm hại tất cả chúng ta. Nhân dân ta sống trong đầy đủ đã nhiều năm, chỉ vào những thời điểm khó khăn họ mới trở nên nghèo khổ, còn lại họ sống đầy đủ và không ham hố sự giàu có, dư thừa.
Tôi nghĩ rằng thế hệ tôi gặp may chính vì đã trải qua những khó khăn và sự nương tựa vào nhau để sinh tồn. Mọi người đều mừng cho nhau. Theo quan điểm của tôi, người dân Nga những năm 60 đã sống như vậy, nhưng đến cuối thời kỳ Xôviết thì mọi thứ đã dần dần thay đổi. Ai cũng bắt đầu tìm cách sống tốt hơn. Ai cũng muốn giành lấy mẩu bánh mì nhỉnh hơn.
Đối với tôi, một nhà văn, hạnh phúc nhất là những năm 70. Và đối với nhiều người khác của thế hệ tôi cũng vậy. Hiện nay, khi bắt đầu viết văn, những người trẻ thường đưa bản thảo của mình cho các nhà văn nổi tiếng, mà họ thì khi đọc khi không. Còn lúc bấy giờ có những seminar dành cho các nhà văn trẻ, chúng được tổ chức thường xuyên. Năm 1965 tôi đến thành phố Chita và rơi vào seminar của nhà văn Vladimir Chivilikhin. Tôi cho rằng mình gặp may. Đó là một may mắn lớn. Nếu gặp một người khác, chứ không phải Chivilikhin, có thể tôi không được may mắn như vậy, nhưng dù sao cũng không thể thất bại. Thái độ đối với các nhà văn trẻ bấy giờ khác hẳn. Chivilikhin biết rằng đã đến thời của những người trẻ tuổi, rằng có nhiều người tài năng. Sau seminar ở Chita, năm sau một seminar như vậy dành cho các nhà văn trẻ lại được tổ chức ở Kemerovo, sau đấy thêm nữa, thêm nữa.
Từ các seminar đó chúng tôi đồng thời bước vào văn học: Aleksandr Vampilov, Gennady Mashkin, Viktor Likhonosov, Viktor Potanin, và tôi. Quả thật đó là một thế hệ mạnh. Và chúng tôi sống sót dễ hơn vì có người bảo vệ chúng tôi. Đến sớm hơn một chút có Vasily Belov. Vasily Shukshin xuất hiện như một cỗ xe tự hành, từ bên ngoài, khi đã là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, và ngay tức khắc trở thành nhà văn nổi tiếng. Cũng cần lưu ý rằng những người anh cả của chúng tôi như Evgeny Nosov, Viktor Astafyev, Fyodor Abramov – ngay lập tức nhận bảo lãnh chúng tôi, điều đó giúp chúng tôi giang rộng đôi cánh. Các nhà văn một thời mặc áo lính đó đã nâng đỡ chúng tôi trong văn học. Và chúng tôi cảm nhận được tính cộng đồng của các nhà văn. Còn nhớ, khi tôi viết truyện vừa “Sống mà nhớ lấy”, Viktor Petrovich Astafyev thậm chí còn hoảng hốt, bảo rằng Rasputin sẽ bị đánh. Và ông xung phong viết lời tựa cho lần “Sống mà nhớ lấy” được đăng trên tạp chí “Roman-Gazeta”. Bảo rằng, cuốn sách không có gì xấu, không hề có sự biện minh cho hành động đào ngũ, mà ở đây chúng ta cần nhìn vào số phận của người phụ nữ. Và quả thật, có thể nhờ được bảo vệ như vậy nên đã không có sự phê phán, quở trách nào xảy ra. Tác phẩm ra đời một cách trót lọt, thế thôi. Còn hai năm sau, khi viết xong truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora”, tôi mang đến toà soạn tạp chí “Người đương thời của chúng ta” (kể từ khi tôi in truyện vừa “Thời hạn cuối” ở “ Người đương thời của chúng ta”, tôi không tìm một tạp chí nào khác. Không cần phải tìm. Quan hệ và bầu không khí làm việc trong tòa soạn thật tuyệt vời, như anh em một nhà. Có thể ghé qua vào lúc 12 giờ đêm, bao giờ bạn cũng được chào đón. Cứ mỗi lần đến Moskva là ngay lập tức tôi tới đây). Vậy là, sau khi nộp bản thảo “Vĩnh biệt Matyora”, ngay lập tức tôi lên đường dự hội chợ sách Frankfurt, tôi hoàn toàn yên tâm rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Nhưng khi trở về, tôi nghe nói rằng kiểm duyệt không cho đăng. Tất nhiên là rất khó chịu, nhưng tôi vẫn bình tĩnh đón nhận điều đó, và tự tin. Thế rôi, tôi biết rằng Yury Vasilyevich Bondarev khẩn trương triệu tập một cuộc họp của Ban thư ký Hội Nhà văn và gần như ra lệnh các uỷ viên trong hai ngày phải đọc xong cái truyện vừa vốn khá dài này để phát biểu ý kiến. Rồi ngay lúc đó, trước mặt tất cả mọi người, ông gọi điện thoại lên Ban chấp hành trung ương, và nói: “Ban thư ký Hội Nhà văn cho rằng cần phải khẩn trương đăng truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora”, trong đó không có gì xấu”. Có thể, còn có nhiều cuộc thương lượng nữa, tôi không nhớ hết, nhưng tác phẩm đã được xuất bản kịp thời, trong số tháng 10, theo đúng kế hoạch.
Hiện nay người ta nói: áp lực của kiểm duyệt, áp lực của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô. Nhưng xin hỏi: liệu các nhà văn có nhiều tác phẩm chưa công bố đang nằm trong ngăn kéo không? Và phải chăng nền văn học hiện nay trở nên mạnh mẽ hơn? Sau khi truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora” được công bố, vào mùa xuân từ Irkutsk tôi được mời đến gặp đồng chí Zimyanin, bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, và bạn hãy nhìn xem các nhà lãnh đạo cao nhất lúc bấy giờ đối xử với nhà văn như thế nào, không phải như bây giờ. Zimyanin đích thân mời tôi đến Moskva, tới trụ sở Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Liên Xô để giãi bày với tôi. Ở đâu đấy tại một diễn đàn cao cấp nào đấy, ông đã phát biểu rằng không thích truyện vừa này. Rằng ông không hài lòng với thái độ hoài nghi sự tiến bộ của tôi. Zimyanin cảm thấy áy náy vì đã phê phán sau lưng tôi, nên quyết định trao đổi trực tiếp với tôi. Chúng tôi trò chuyện gần một giờ đồng hồ. Và cuối cùng ông nói rằng vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Vẫn như trước ông không thích truyện vừa của tôi, nhưng ngay lúc đó ông bổ sung: tôi sẽ không ngăn cản. Và quả thật, ông không bao giờ ngăn cản. Truyện vừa được xuất bản với tira lớn tại nhà xuất bản “Cận vệ trẻ”.
Xin nói thật, nhiều độc giả của tôi trong giới xuất bản và văn học hy vọng tôi được tặng giải thưởng nhà nước năm 1976 với tác phẩm này, bởi truyện vừa “Sống mà nhớ lấy” không hoàn toàn thích hợp với việc giới thiệu ra tranh giải. Nhưng vì lãnh đạo không hài lòng với “Vĩnh biệt Matyora”, nên người ta quyết định tặng giải thưởng nhà nước Liên Xô cho “Sống mà nhớ lấy”. Bạn thấy đấy, không cách này thì cách khác, dù sao tôi cũng đã đạt được nguyện vọng của mình.
Tôi cảm thấy, vào những năm 70 của thế kỷ trước có một bầu không khí trong lành nào đó trong văn học. Không phải mọi chuyện hoàn toàn êm đẹp, nhưng dù sao công việc sáng tác lúc bấy giờ dễ chịu và thoải mái. Và không phải một mình tôi cảm thấy như vậy. Trong những năm đó đã xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị. Lúc bấy giờ chúng tôi vui mừng cho thành công của nhau biết bao. Tôi cảm thấy rằng hiện nay các nhà văn không có được niềm vui đó, các nhà văn trẻ lại càng hay đố kỵ nhau hơn. Còn chúng tôi thực sự thán phục thành công của nhau, những Viktor Potanin, Vasily Belov, Viktor Likhonosov. Và mọi người viết thư cho nhau. Chúng tôi công khai ủng hộ nhau. Còn chúng ta hiện nay thậm chí viết thư cho nhau cũng lười…
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Chẳng bao lâu bắt đầu giai đoạn trì trệ. Mà nhân dân quả là chưa được chuẩn bị tinh thần để đương đầu với điều đó. Và theo tôi, ở đây một phần có lỗi của các cấp chính quyền. Một thời gian dài họ đã phớt lờ toàn bộ lịch sử nứơc Nga, bỏ quên các nhà sử học nổi tiếng của chúng ta. Còn nhớ, sau đấy chúng tôi đã gặp nhau lại tại Uỷ ban xuất bản và đề nghị tạm thời hoãn việc in sách của các nhà văn để xuất bản các công trình về lịch sử của Solovyev, Kluychevsky, Kostomarov và những người khác. Nhân dân không biết đến lịch sử hào hùng của mình. Có thể, nếu như vào những năm đó, người dân được đọc hàng triệu bản sách thì có thể họ đã khác, đã xử sự cách khác khi đi vào cuộc cải tổ. Hiện nay chúng ta thật khó hình dung nổi vì sao chúng ta lại có thể lãng quên lịch sử của chính mình?
Có thể nói gì về những năm 90 của thế kỷ trước…Trong bối cảnh đất nước bị sụp đổ ít ai tìm thấy niềm vui, và vì thế nền văn học không tiến triển. Các nhà văn chỉ viết chính luận. Hiện nay tôi cũng đang chuẩn bị xuất bản cuốn văn chính luận của mình tại nhà xuất bản Safonov ở Sibir.
Tôi sẽ làm gì tiếp theo ư? Dù sao tôi cũng đã 70 tuổi. Thời gian không còn nhiều nữa. Nhưng tôi sẽ không im lặng. Văn chính luận, tất nhiên, tôi sẽ viết. Cố gắng viết cả văn xuôi. Mặc dù viết lách bây giờ ngày càng khó khăn hơn. Tôi tự an ủi bằng việc quan sát các nhà văn cổ điển: lấy ví dụ Turgenev – rõ ràng những tác phẩm cuối đời của ông được viết bởi một bàn tay không tự tin như hồi trẻ. Thậm chí cũng có thể nói như vậy về Lev Tolstoy. Còn Dostoyevsky thì không sống thọ. Nhưng tôi có cảm giác với Dostoyevsky điều đó có thể sẽ không xảy ra. Nhiều nhà văn mệt mỏi khi về già. Cây bút trong tay họ trở nên bất lực. Tôi không muốn đẩy sự việc tới tình trạng đó. Hễ phát hiện ra mình đuối sức là cần phải nói dứt khoát rằng: thôi đủ. Có thể viết hồi ký cho con cháu mình đọc. Nhưng dù sao tôi vẫn hy vọng mình còn viết được một cái gì đấy.
Hy vọng rằng sẽ xuất hiện những nhà văn Nga tài năng, những nhà văn nhân dân tầm cỡ Evgeny Nosov hay Vasily Shukshin. Không thể nào khác được. Và để có được điều đó cần phải viết sao để nhân dân thừa nhận đó là nền văn học của mình, gẫn gũi đến mức không thể xa rời. Và lúc bấy giờ văn học chúng ta mới có thể lấy lại cả phẩm giá của mình lẫn sức mạnh đạo đức, và tầm ảnh hưởng đối với nhân dân…
Trần Hậu (Trích dịch từ Báo Ngày mai)

dread 08-10-2008 22:26

Xin truyện của Valentin Rasputin giúp em với.
 
Em rất thích tập truyện "Còn sống còn yêu" của nhà văn Valentin Rasputin nhưng tìm hoài không thấy, đi tìm mua thì sách cũ quá rồi không có bán. Anh chị nào có up lên giùm em được không? Cảm ơn nhiều.

hongducanh 08-10-2008 23:46

Mời bạn tìm đến dịch giả fresco của NNN, qua đó bạn có thể tìm thấy những gì thuộc về nhà văn Valentin Rasputin - chúc bạn tìm được những gì bạn mong muốn. :emoticon-0150-hands

Nina 09-10-2008 00:28

Truyện "Còn sống còn yêu" này có khá nhiều trên mạng bằng tiếng Nga bạn dread à

http://www.serann.ru/t/t684_0.html

Còn Nina mới nhìn cái tên "Век живи - век люби", giật mình tưởng câu "Век живи - век учись!" (Còn sống còn học tập) của vĩ nhân có tên hay là không tên nào đó :)

thuyduong 10-10-2008 16:45

Đây là bìa cuốn truyện mà bạn muốn đọc đó.


http://www.thuyduongnsx.com/work/con...0con%20yeu.JPG

Chắc chắn là bây giờ không còn bán trên thị trường sách rồi, nếu bạn muốn đọc, hãy vào thư viện quân đội nhé. Hoặc đến nhà xuất bản Hà nội xem họ còn quyển nào không

BelayaZima 10-10-2008 17:56

:emoticon-0100-smile Bạn muốn đọc truyện "Còn sống còn yêu" thì có thể đến NXB Kim Đồng ở Quang Trung để mua cuốn " Những tác phẩm văn học Nga nổi tiếng thế kỷ XX" - tập 1. Trong cuốn này giới thiệu một số tác phẩm của M.Gorki, M.Solokhov, Raxputin ( chính tác giả truyện "Còn sống còn yêu"), V.Bogomolov.
- Trong đó của tác giả M.Gorki gồm những truyện: Macar Trudra, Bà lão Izerghin, Bài ca chim ưng, Bài ca chim báo bão, Một con người ra đời, Tôi đã học tập như thế nào.
- Của M.Solokhov gồm những truyện: Số phận con người, Cánh đồng xanh thẳm, Cái bớt.
- Của Raxputin gồm 2 truyện: Còn sống còn yêu, Giờ học tiếng Pháp.
- Của V.Bogomolov gồm 2 truyện: Ivan và Mối tình đầu.
Ngoài ra bạn có thể mua tập 2 của cuốn sách này cũng rất tuyệt với các tác giả quen thuộc. Cả 2 tập " Những tác phẩm văn học Nga nổi tiếng thế kỷ XIX" nữa cũng hay lắm.Tóm lại là NXB Kim Đồng có giới thiệu cả bộ Những tác phẩm văn học Nga nổi tiếng thế kỷ XIX và XX sẽ gồm 4 cuốn, giá là 47 nghìn/ cuốn. Mua tại chính hiệu sách của NXB Kim Đồng ở Quang Trunh thì được giảm 10% :emoticon-0136-giggl.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:03.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.