Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn học (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=33)
-   -   Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Boris Polevoi (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=589)

hungmgmi 17-03-2008 09:25

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Boris Polevoi
 
Hôm nay, 17/3/2008, những người yêu văn học Xô viết nhớ đến Boris Polevoi nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn nổi tiếng này.
Xin copy lại từ diễn đàn cũ tiểu sử nhà văn Boris Polevoi do Hungmgmi dịch (để đáp ứng đề nghị của thành viên phamthecuong từ tp.HCM).


BORIS POLEVOI-MỘT NHÀ VĂN CHÂN CHÍNH

Boris Polevoi (tên thật là Kampov Boris Nikolaevich) sinh ngày 17/3 năm 1908 tại Matxcơva trong một gia đình luật sư. Năm 1913, gia đình Polevoi chuyển đến Tver. Sau khi tốt nghiệp trung học và trường kỹ thuật, Boris Polevoi làm việc tại nhà máy dệt "Nữ vô sản" của thành phố Tver.
Năng khiếu viết lách của Polevoi xuất hiện khá sớm. Ngay từ năm 1922, khi còn đang là học sinh lớp Sáu, Polevoi đã đăng bài báo đầu tiên trên tờ "Sự thật Tver". Từ năm 1924, các bài báo về đời sống thành phố của cậu học trò này thường xuyên xuất hiện trên các tờ báo của thành phố Tver.
Năm 1928, B.N.Polevoi thôi việc ở nhà máy dệt và bắt đầu con đường hoạt động báo chí chuyên nghiệp. Anh viết bài cho các báo như Sự thật Tver, Sự thật vô sản, Smena....
Năm 1927, cuốn sách đầu tiên của Polevoi xuất bản tại Tver về thân phận những người "dưới đáy" mang tên "Hồi ức của một người sống gửi". Đây là cuốn sách duy nhất ký tên thật của Polevoi: B.Kampov. Bút danh Polevoi xuất hiện là do một biên tập viên yêu cầu nhà văn trẻ "dịch từ tiếng la tinh" họ Kampov (campus=поле=Pole) ra tiếng Nga.
Năm 1939, truyện vừa "Xưởng nóng" của Polevoi ra đời, viết về những người công nhân tại nhà máy toa xe Kalinin trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Trong những năm của cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Boris Polevoi với tư cách là phóng viên báo Sự thật đã có mặt tại các điểm nóng, trong đó có mặt trận Kalinin (1942). Các sự kiện của cuộc chiến tranh đã được mô tả trong các bài báo của Polevoi. Chủ đề chiến tranh được ông nhắc đến trong hầu hết các cuốn sách như "Từ Belgorod đến Karpat" (1944), "Chuyện về một người chân chính" (1946), "Chúng tôi là người Xô viết" (1948), "Vàng" (1949-1950).
Năm 1949, Polevoi xuất bản cuốn tryện vừa "Trở về". Sau đó vào năm 1952, từ những ghi chép tại công trường xây dựng kênh Volgo-Donski, Polevoi đã viết một sê ri truyện ngắn trong tập "Những người cùng thời".
Năm 1958, Polevoi cho đăng tiểu thuyết "Hậu phương" viết về tinh thần lao động tận tụy của những người dân thành phố Kalinin trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
Trong sự nghiệp của Polevoi, các phóng sự (nhật ký) đường xa cũng đóng một vai trò quan trọng. Ông đã xuất bản "Nhật ký trên đất Mỹ" (1956); "30.000 dặm trên đất Trung hoa mới"...
Từ năm 1962-1981, Boris Polevoi là Tổng biên tập tạp chí Tuổi trẻ. Ông mất ngày 12/7/1982.



Thông báo: Vào lúc 17h30 hôm nay 17/3/2008 tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Khoa học Nga -Hà Nội sẽ trình chiếu phim truyện “Một người chân chính” theo yêu cầu của Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Mời các bạn quan tâm đến dự.

hungmgmi 17-03-2008 09:27

Và đây là lời giới thiệu tác phẩm "Vàng" của bạn phamthecuong:

Giới thiệu tác phẩm Vàng:


Độc giả Việt Nam đã quá quen thuộc tác phẩm “ Một người chân chính “ của Boris Polevoi, nhưng ít ai biết ông còn một tác phẩm cũng rất nổi tiếng đã được dịch sang tiếng Việt từ năm 1962; đó là tác phẩm “Vàng”. Vâng! Tên tác phẩm đúng là vàng và đúng với cả hai nghĩa đen và bóng.
Vàng được in đầu tiên ở Liên Xô vào năm 1950, sau đó được một số nước Đông Âu và Trung Quốc in lại. Năm 1957, nhà xuất bản LES EDITEURS FRANCAIS RÉUNIS, PARIS xuất bản bằng tiếng Pháp với bản dịch của Gaston Robin. Đến năm 1962 các dịch giả Trần Như và Mai Luân đã chuyển ngữ qua tiếng Việt qua bản Pháp văn nêu trên. Tác phẩm được Nhà xuất bản Văn hóa in làm 2 tập và phát hành vào tháng 7 và tháng 10 năm 1962.
Vàng, được viết về đề tài chiến tranh vệ quốc, một đề tài quen thuộc của Boris Polevoi. Thời điểm được đề cập tới là giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại mà nhân dân Sô Viết đã tiến hành để bảo vệ Tổ Quốc, lúc này quân phát xít Đức đang tiến công mãnh liệt vào lãnh thổ Sô Viết với thế mạnh tưởng như không có gì ngăn cản nổi. Các địa phương phía Tây của lãnh thổ nằm trên đường tiến công của bọn phát xít đang hối hả sơ tán về phía đông. Thì lúc này tại chi nhánh ngân hàng của một thành phố vùng Zaretsie, ông thủ quỹ già MITƠROFAN CORETSKI và cô thư ký đánh máy MUXIA VÔNCÔVA đang tìm cách theo kịp đoàn tản cư của ngân hàng đã đi trước, đúng lúc đó họ buộc phải nhận một túi vàng và châu báu của nhà nước, cũng là lúc thành phố đã tràn ngập quân phát xít. Họ thấy cần phải bảo vệ số vàng này và tìm cách đưa ra vùng tự do trao cho cơ quan có trách nhiệm.
Bằng sự mưu trí và dũng cảm của mình họ dã qua mặt được bọn phát xít Đức để ra khỏi thành phố. Từ đây họ phải đi xuyên qua vùng bị tạm chiếm bằng cách luồn lách trong rừng, băng qua đầm lầy. Chính vì vậy cụ thủ quỹ già đã không may bị thụt đầm lầy và cụ đã mất. MUXIA cô gái vừa tròn 18 tuổi còn lại đã may mắn gặp được nông trường “Người dân cày đỏ” không tản cư mà kéo nhau vào rừng chạy giặc chờ ngày giải phóng với tất cả của cải, gia súc của nông trường. Sau mấy ngày nghỉ dưỡng sức, nữ đảng viên Cộng sản, một điển hình tiên tiến trên toàn quốc chăn nuôi - chị MATƠRIÔNA RÚPSÔVA đã dằn lòng để lại 3 con nhỏ đã cùng MUXIA mang túi vàng đi tiếp về hướng Đông – vùng tự do. Qua bao gian khổ hiểm nguy, họ đã gặp một đơn vị du kích đang hoạt động trong rừng. Rồi đến lượt đơn vị du kích lại cử 2 chiến sĩ là chàng thanh niên NICOLAI GIELEGIƠNOP và chú thiếu niên TÔLIA đi cùng MUXIA. Cuối cùng một đơn vị hồng quân đã tìm thấy 3 người kiệt sức đang nằm chờ chết trên cánh đồng tuyết trắng với cuốn sổ tay nhỏ mà lúc gần chết họ đã cắm trên một thân cây, trong đó ghi cách tìm ra túi vàng ở gần đó.
Cuộc đi tiếp sức cực kỳ gian lao đó đã vượt qua 600 km trong vùng tạm chiếm, qua nhiều rừng thẳm, đầm lầy, qua những vành đai trắng nơi quân địch đốt phá, tàn sát, qua những đồng cỏ với những đám cháy tưởng như vô tận, qua những cánh đồng tuyết phủ mênh mông, cùng với cái đói, cái khát và hiểm nguy luôn rình rập từng bước chân của họ. Nhưng với một nghị lực phi thường họ đã đến đích.
Cao cả hơn khi được hỏi tên họ để tuyên dương khen thưởng thì họ MUXIA, NICOLAI GIELEGIƠNOP, TÔLIA đã không kể đến mình, mà kể cụ thủ qũy, tên chị MATƠRIONA và một loạt tên những con người mà không có sự đóng góp của họ thì không thể nào cứu nổi túi vàng bạc. Vâng, trong họ không có cái TÔI to tướng mà chỉ vì đất nước, vì mọi người.
Vàng là một tác phẩm lớn. Với chủ đề tư tưởng rất phù hợp với tình hình kinh tế thị trường hiện nay khi mà đồng tiền đang là chủ đạo trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, nó chi phối cả tình cảm của con người, thậm chí cả với người ruột thịt.
Với tính cách nhân vật được thể hiện sắc nét, bố cục chặt chẽ, dẫn dắt câu chuyện một cách tự nhiên, giản dị nhưng hấp dẫn và giàu tình cảm, Boris Polevoi đã cho người đọc không phải hối tiếc đã dành thời gian cho tác phẩm. Bên cạnh đó tác phẩm cũng cho ta thấy “Vàng không phải là tất cả” mà cái cao hơn hết chính là lòng yêu thương con người với con người.

hungmgmi 17-03-2008 09:39

Đền tội

Boris Polevoi

Sau khi Hồng quân Liên Xô đã giành được chiến thắng oanh liệt bằng cuộc tổng công kích đại qui mô vào Béclin, sào huyệt cuối cùng của Hítle, buộc phát xít Đức phải đầu hàng vô điều kiện (9-5-1945), một toà án quân sự quốc tế được thành lập ngay tại thành phố Nurembe, cái nôi của chủ nghĩa phát xít, để xét xử bọn trùm tội phạm chiến tranh Đức quốc xã từ ngày 20-11-1945 đến 1-10-1946.

Sau đây là quang cảnh những phiên toà cuối cùng qua ghi chép của nhà văn Nga Boris Polevoi, hồi đó đã tham dự sự kiện lịch sử quan trọng này với tư cách là phóng viên của tờ Sự thật.

Lời nói cuối cùng của các bị cáo

Hốpman, nhà nhiếp ảnh riêng của Hítle, người mà tôi đã có dịp nhắc tới, chuyến này ăn nên làm ra. Nhờ một người giúp việc mới của mình - một cô ả tóc vàng mắt xanh, thân hình nở nang đầy quyến rũ, y đã bán dấm bán dúi những tấm ảnh trong cái kho lưu trữ phong phú của mình. Y đã kiếm được nhiều lời, bởi lẽ tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, nhân việc Toà án Nurembe sắp kết thúc hay nói đúng hơn, do sự thay đổi của thời tiết chính trị, người ta càng ngày càng quan tâm tới đời sống riêng tư của Hítle và của những kẻ gần gũi với hắn. Những tấm ảnh được bán theo một giá đáng kể bằng ngoại tệ cố định. Hốpman trở nên hồng hào, bụng phệ ra, mặc một bộ đồ bằng len mỏng oai vệ, ve áo đeo huy hiệu Viện Hàn lâm nghệ thuật Đức.

Cô gái bụ bẫm mắt xanh cũng đề nghị tôi làm quen với kho ảnh hiếm hoi của ông chủ. Mà tại sao không làm quen nhỉ? Kho ảnh được bảo quản một cách xuất sắc: Nó được phân loại đựng trong các cặp. Tôi yêu cầu cho tôi xem cặp "Nurembe" và trong một đôi giờ tôi đắm mình trong quá khứ khủng khiếp cách đây không lâu của thành phố đó. Đây là Hítle đang điên cuồng gào thét từ trên cái bục quen thuộc xây bằng đá trắng tại sân vận động, và hàng trăm nghìn đội viên xung kích xếp thành những khối vuông kín cả bãi, có lẽ cũng gào rống lên "Dích han"(1) với vẻ cuồng nhiệt như thế. Đây là Stơrâykhe - kẻ thi hành chính sách ngu dân một cách bệnh hoạn mà hàng ngày chúng tôi thấy hắn trong trạng thái mê mệt - hồi đó béo tốt, phương phi, đang sỉ vả những cô gái đầu cạo trọc, bị trói vào mấy con lừa, trên ngực đeo tấm biển bằng bìa các tông có dòng chữ "Tôi đã yêu người Do Thái", gần đó một đám người cuồng dại giơ những nắm đấm đang tiến lại gần các cô gái tội nghiệp ấy... Đây là một đoàn người rước đuốc hùng dũng bước trên những đường phố cũ chật hẹp mà nay không còn nữa của thành phố Nurembe cổ kính, đi hàng đầu dưới bóng cờ là Hexơ, Gơrinh và Boócman trong những bộ đồng phục của đội xung kích...

Nhiều nhất là những bức chân dung của Gơrinh. Hắn mặc lễ phục thống chế, tay cầm cây gậy chỉ huy. Hắn mặc bộ đồ du lịch, mặc áo đi săn và đội mũ phớt có cắm chiếc lông gà lôi, mặc chiếc áo khoác của thợ nề, tay cầm cái bay trong buổi khởi công xây dựng một tượng đài nào đấy. Và sau hết, hắn cầm cung tên. Tại sao cầm cung tên thì cô gái không giải thích nổi.

Phải, tất cả bọn chúng, những tay diễn viên hài kịch ấy rất sính chụp ảnh. Lịch sử thời hậu chiến của nền Cộng hoà Vâymác đã nâng chúng lên đỉnh cao của làn sóng sô-vanh và đã mười ba năm chúng đóng vai những nhà cầm quyền của đệ tam đế chế.

Giờ đây, trong phòng xử án, chúng được phép bước lên bục để nói lời cuối cùng. Tôi quan sát những tên bộ trưởng, những tên thống chế, những tên đô đốc ấy và lấy làm ngạc nhiên vì không đứa nào trong bọn chúng nói một lời bào chữa hay chí ít cũng thanh minh cho chủ nghĩa quốc xã mà chúng là những kẻ nặn ra và là những nhà tư tưởng, không đứa nào định bảo vệ niềm tin của mình vào chủ nghĩa quốc xã hoặc ít ra định giải thích những hành động tội ác khủng khiếp đó.

Nghe những lời lí nhí của chúng, tôi lại nhớ tới đồng chí Đimitơrốp, người cộng sản vĩ đại mà mới đây tôi được may mắn làm quen và trò chuyện ở Bungari. Chính những tên cầm đầu nước Đức này đã bắt đồng chí và sau những tháng nhốt trong tù, chúng đã lập toà án xét xử đồng chí. Đồng chí xuất hiện trước toà án phát xít đó trong tư thế hiên ngang, ngẩng cao đầu. Đồng chí từ chối luật sư. Tự đồng chí một mình mặt đối mặt, nói chuyện với bọn quan toà quốc xã. Đồng chí bảo vệ những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà đồng chí đã hiến dâng cả cuộc đời mình. Và vì thế trước toà, từ bị cáo đồng chí đã trở thành người buộc tội nghiêm khắc vạch trần những kẻ chủ mưu đã gây ra vụ khiêu khích bỉ ổi. Đồng chí đã buộc tên Gơrinh sừng sỏ từ vị trí nhân chứng của bên công tố biến thành bị cáo, buộc hắn phải phòng thủ và phải thanh minh.

Còn cái đám người thảm hại, ích kỷ, dối trá này không hé răng nói nửa lời bảo vệ hệ tư tưởng khủng khiếp của chúng, mặc dầu các bị cáo không thể không biết rằng cái chết đang chờ đợi chúng ở bên ngoài gian phòng này. Chúng vẫn một mực lên mặt đạo đức giả và dối trá như trước. Xin trích dẫn một số lời nói cuối cùng của chúng.

Gơrinh: Nói chung tôi là người phản đối chiến tranh... Tôi không muốn chiến tranh và không giúp cho việc gây chiến tranh...

Ribentơrốp: Vâng, tất nhiên, tôi không thể không chịu trách nhiệm về chính sách đối ngoại, bởi vì tôi là Bộ trưởng. Nhưng trên thực tế tôi không chỉ đạo nó. Người khác đã điều hành...

Phuncơ: Cuộc sống của con người gồm những hành động đúng và những lầm lẫn. Đúng, tôi đã lầm lẫn nhiều thứ, nhưng trong nhiều trường hợp tôi đã lầm lẫn một cách không cố ý bởi vì tôi đã bị đánh lừa... Tôi cần phải thú nhận thành thật rằng tôi là người vô tâm và cả tin, đó là tội lỗi của tôi.

Canten Brune: Vâng, tất nhiên là Gietxtapô đã gây ra những tội lỗi khủng khiếp. Phủ nhận điều đó là một sự ngu xuẩn. Nhưng những tội ác ấy là do Himle chỉ đạo. Tôi chỉ là kẻ thừa hành. Tôi luôn luôn muốn ra mặt trận, muốn trở thành một người lính bình thường chiến đấu cho nước Đức. Đó là ước mơ của tôi.

Câyten:... Tất cả những gì tốt đẹp nhất mà tôi có thể cung cấp với tư cách là một người lính - sự phục tùng và lòng trung thành - đã bị người khác lợi dụng vào những mục đích mà tôi không thể biết được, bởi vì tôi không nhìn thấy ranh giới tồn tại trong việc thực hiện bổn phận của người lính.

Phrancơ, tên đao phủ khét tiếng từng cai quản những nhà máy liên hợp giết người khổng lồ như ốtxvensim, Maidanéc, Tơrenblinca, đã nói bằng giọng bi thương:

- Tôi muốn rằng nhân dân Đức sẽ không tuyệt vọng và không đi tiếp một bước nào nữa theo con đường của Hítle!

Anbe Speéc, người phụ trách việc cung cấp khí giới và đạn dược, sủng thần của Hítle, kẻ đã tạo ra một hệ thống bóc lột tù binh và nhân công từ phương Đông, kẻ đã bắt họ phải chết tại công trường xây dựng những nhà máy, sân bay bí mật dưới mặt đất, ngước đôi mắt đen lên trời thốt lên:

- Hítle, bằng những hành động của hắn và sự phá sản tiếp sau đó của các hệ thống do hắn tạo ra, đã mang lại cho nhân dân Đức những nỗi đau khổ khôn lường... Sau vụ án này, nước Đức sẽ khinh bỉ Hítle và sẽ nguyền rủa hắn như thủ phạm gây nên những nỗi đau khổ của nhân dân...

Thôi đủ rồi! Tất cả những lời lẽ ấy chỉ là những biến dạng của một chủ đề: Hítle, Himle, Gơben có lỗi trong tất cả mọi chuyện, còn chúng tôi là những kẻ bất hạnh, những người không biết nhìn xa thấy rộng. Chúng tôi bị họ đặt vào những cương vị cao. Chúng tôi đã lầm lẫn, đã bị đánh lừa và chúng tôi không hề biết những gì xảy ra ở trong nước.

Và tôi không thể không nghĩ tới đồng chí Ghêoócghi Đimitơrốp, tới vụ án Laixích. Vụ án ấy cũng được phản ánh trong bộ sưu tập của Hốpman. ở trên đó có một bức ảnh - đồng chí Đimitơrốp đứng trên bục phát biểu lời nói cuối cùng.

Tỳ tay lên diễn đàn, người ưỡn thẳng, mắt hướng về phía trước, đồng chí không nói với bọn quan toà mà những hình bóng đen thẫm nhìn không rõ trong tấm ảnh ấy. Đồng chí nói với toàn thể loài người. Hai tên lính gác đứng sau lưng đồng chí nhìn bị cáo với vẻ ngạc nhiên và tò mò. Dưới con mắt của chúng, chính bị cáo đã biến thành người buộc tội đang lên án chủ nghĩa phát xít ngay trong hang ổ của nó.

Đó là bức ảnh duy nhất mà tôi đã mua với giá bốn mươi lăm đồng Mác ở vùng bị chiếm đóng. Một món tiền khá lớn, nhưng đó là bức ảnh, theo tôi, đáng giá hơn toàn bộ sưu tập còn lại của Hốpman.

hungmgmi 17-03-2008 09:40

Nữ thần trừng phạt tuốt kiếm

Pháp viện được trang trí bằng một pho tượng nữ thần Trừng phạt. Đó là một người đàn bà to lớn, béo tốt hoàn toàn theo "gu" của người Đức. Bà ta cầm lăm lăm trong tay một thanh kiếm mũi chúc xuống đất. Trong những tháng năm dài đằng đẵng ngồi ở Nurembe, chả ai lại không nói đùa về nữ thần Trừng phạt này. Hiếm thấy tờ báo nào lại không sử dụng người đàn bà tội nghiệp này trong những bức biếm hoạ. Tôi còn nhớ là sau bài diễn văn của Soócsin ở thành phố Phuntơn(2), hình như trên tờ tạp chí châm biếm Pansơ của Anh có đăng một bức biếm hoạ miêu tả nữ thần Trừng phạt đang khoác tay Soócsin rủ nhau đi chơi...

Nhưng rồi cái ngày người đàn bà chậm chạp này rốt cuộc phải tuốt thanh kiếm trừng phạt, đã đến. Những phiên toàn của Toà án Quân sự quốc tế lại nhóm họp.

Khoang lô dành cho báo chí chật không thể lách chân được. Hôm nay toà sẽ bắt đầu tuyên án. Tôi không rõ có nổi lên ba tín hiệu loan báo sự kiện giật gân hay không. Nhưng nếu những tín hiệu ấy có phát ra chăng nữa thì cũng chẳng ai nghe thấy vì trong phòng báo chí, trong quán rượu và trong phòng điện tín ồn ào như chợ vỡ. Chả cần phải thúc giục vào hội trường. Các khoang lô chật ních đến nỗi những người đến chậm đành phải chạy lên ban công dành cho khách mời. Nhưng nếu như ở ngoài hành lang và trong các phòng phụ rất ồn ào thì trong hội trường lại im phăng phắc đến nỗi có thể nghe thấy các nhân viên kỹ thuật ngồi trong buồng vô tuyến điện đếm một... hai... ba để thử máy.

Lần này các bị cáo được dẫn vào không nối đuôi nhau thành một hàng dài như mọi khi mà từng người một, cách quãng nhau. Nét mặt của chúng rất căng thẳng. Chúng không chào hỏi nhau và ngồi ngay vào chỗ của mình một cách máy móc. Các luật sư cũng đã ngồi vào chỗ, các phiên dịch viên đã ở vị trí của mình. Có thể nghe rõ tiếng máy quay phim kêu xè xè.

Trong sự yên tĩnh nặng nề, bỗng tiếng mõ toà vang lên như tiếng sấm.

- Đứng dậy! Quan toà ra!

Hôm nay mọi con mắt cũng đổ dồn cả về phía những hình bóng thấp thoáng của các quan toà. Huân tước Lôrenxơ, cắp trong tay một cái cặp chả có gì đáng chú ý. Nhưng tất cả các ống kính của máy ảnh và máy quay phim cũng như hàng trăm cặp mắt các nhà báo đều hướng cả về phía chiếc cặp đó. Bởi vì trong chiếc cặp này có bản án mà nội dung không một ai biết, thậm chí cả nữ ký giả Mỹ Pêghi mà mọi khi bất cứ chỗ nào cũng có mặt và cái gì cũng biết. Cô ta lại mò sang đây, có mà trời biết từ một thành phố nào của châu Âu.

Bắt đầu tuyên án. Các vị thẩm phán thay phiên nhau đọc rất lâu. Giới báo chí đặc biệt chú ý, và tất cả mọi người đều cố ghi chép lia lịa, mặc dầu trong phần thẩm định của bản án chỉ nói tới những điều mà mọi người đã biết từ lâu. Đến cuối phiên toà buổi chiều, việc tuyên án vẫn chưa xong. Lúc tuyên bố phiên toà bế mạc, huân tước Lôrenxơ thông báo rằng việc tuyên án sẽ tiếp tục vào sáng mai. Ngày mai sẽ xảy ra một điều quan trọng nhất - đó là xác định trách nhiệm cá nhân của từng bị cáo.

Phiên toà vừa bế mạc thì lập tức sự ồn ào từ khắp mọi phía nổi lên. Biết bao nhiêu điều phỏng đoán được đưa ra tới tấp: Treo cổ, xử bắn, tù chung thân, trắng án.

Trong trại báo chí đã diễn ra một cách huyên náo chưa từng thấy. Cạnh quầy hàng của quán rượu, các phóng viên phương Tây đánh cuộc với nhau như người ta đánh cuộc về chạy thi. Và chủ quán ghi lại những điều kiện của cuộc đánh đố.

Một nhóm nhà báo dày đặc quây chung quanh Pêghi, chuyện nở như ngô rang. Cô ta vừa mới tuyên bố rằng cô ta sẵn sàng ngủ với người nào cho cô ta biết tóm tắt của bản án.

- Tôi đã đề nghị điều đó với một viên thẩm phán rất thông thạo. Ông ta từ lâu đã chú ý đến tôi - Pêghi nói.

- Pêghi này, thế ý kiến của ông ta thế nào? - Tôi hỏi.

- Đồ lợn, hắn bảo rằng đến ngày kia hắn sẽ sẵn sàng phục vụ tôi.

Sáng hôm sau được công bố cái mà ngôn ngữ của các luật gia gọi là công thức kết án cá nhân. Nhưng sau đó sự căng thẳng vẫn không giảm. Bản án sẽ ra sao và các bị cáo sẽ xử sự như thế nào? Gơrinh chững chạc đi đến chỗ của hắn thậm chí còn loay hoay tìm cách ngồi cho thoải mái. Đóng kịch chăng? Tất nhiên rồi. Bỗng trên micrô vang lên cái tên của hắn: Hécman Vinghen Gơrinh, và hắn giật mình với lấy cái ống nghe... Câyten vẫn ưỡn thẳng người như trước đây. Hắn bước vào hội trường ngồi vào chỗ, không cử động nhúc nhích như một người bằng gỗ. ánh mắt của Stơrâykhe trông lơ láo như một kẻ mất trí. Phuncơ gục đầu xuống rào chắn, mắt trông buồn rười rượi. Chỉ duy có Hexơ là vẫn tỏ thái độ bình chân như vại: Hắn chắc mẩm rằng tính mạng hắn sẽ không bị đe doạ bởi vì hắn tiến hành chiến tranh ở các quần đảo Briten. Hắn có cái vẻ mặt của một hành khách đi xe điện trên một tuyến đường dài và dửng dưng nhìn vào cửa sổ để đỡ sốt ruột. Hắn cũng là một người có ý chí mạnh mẽ. Không phải ngẫu nhiên nhiều phóng viên, nhất là các nữ phóng viên, nói rằng hắn biết thôi miên và đôi khi họ cảm thấy sức mạnh của cái nhìn chiếu ra từ đôi mắt đen sâu hoắm của hắn.

Việc ba bị cáo Phrise(3), Papen(4) và Sáctơ(5) được trắng án đã trở thành một sự kiện giật gân của ngày hôm đó. Mõ toà được lệnh thả ba tên này và mệnh lệnh được thực hiện ngay tức khắc. ở đây chúng tôi còn quan sát thấy một chi tiết lý thú. Phrise bắt tay từ biệt các bị cáo còn ở lại, không che giấu nổi sự hí hửng của loài vật. Papen chỉ chia tay với các quân nhân, các thuỷ binh và Gơrinh. Còn tên Sáctơ cao kều thì đi qua tất cả đám bị cáo với vẻ khinh bỉ trên khuôn mặt chó lài của hắn. "Nhà tài chính đại tài" này của Hítle cho rằng nên bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với các nhà chính khách bị phá sản của chủ nghĩa quốc xã. Ngay ở đây, trong phòng báo chí, những bị cáo vừa mới được tha trả lời phỏng vấn của các phóng viên. Những người được phỏng vấn này chả có khuyết tật gì hết. Chúng tôi không dự cái màn hài kịch đó. Và chúng tôi đã xử sự đúng bởi lẽ ngay sau đó đã xảy ra sự kiện giật gân thứ hai trong ngày. Thẩm phán Liên Xô bằng cách biểu quyết một chống ba, đã nêu lên sự phản đối với việc tha bổng ba nhân vật vừa rồi. Lập trường của ông, ý kiến riêng rất dứt khoát của ông được đánh máy và phân phát đến từng người, do đó đã gây ra sự chú ý không chỉ của các bạn bè chúng ta, mà còn của các đối thủ chính trị của chúng ta nữa.

Như vậy là nữ thần Trừng phạt đã tuốt kiếm nhưng chưa hạ xuống. Điều đó sẽ xảy ra sau giờ giải lao, khi phiên toà thứ 407 của Toà án quân sự bắt đầu nhóm họp.

Tuyên án

Tất cả chúng tôi đều ghi trong sổ tay: "Mồng một tháng Mười năm 1946, vào hồi 14 giờ 50 phút theo giờ Trung Âu, phiên toà cuối cùng thứ 407, bắt đầu". Dãy ghế các bị cáo lần này trống không, và dường như người ta có cảm giác kỳ cục khi nhìn thấy hàng ghế trơ trọi đó.

Đại tá tư lệnh Toà án quân sự Enđruxơ, người quen cũ của chúng tôi, đã hiểu rõ giá trị của cái mà người Mỹ gọi là "ký giả" nên trước lúc phiên toà nhóm họp đã lui tới phòng báo chí. Vả lại người ta có cảm giác là có thể cùng một lúc nhìn thấy chiếc mũ sắt sơn trắng, cặp kính không gọng với khuôn mặt hồng hào của ông ta trong phòng báo chí, tại quán rượu và ngoài hành lang - tức là ở bất cứ chỗ nào có các nhà báo. Ông ta rất linh lợi, cởi mở và giữ một vẻ rất bí mật. Ông ta không hề nói một lời nào về bản án sắp tới, mặc dầu chắc chắn là ông ta biết nó. Ông ta chỉ nói bóng gió rằng tại phiên toà cuối cùng này chúng tôi sẽ được nhìn thấy một cảnh khác thường.

Và chúng tôi chờ đợi, nghển cao cổ, sổ tay mở sẵn sàng. Các quan toà đã ra! Tất cả đứng dậy, tay vẫn không rời cuốn sổ. Huân tước Lôrenxơ đưa mắt nhìn khắp hội trường qua cặp kính rồi khẽ gật đầu. Có lẽ đó là tín hiệu. Cánh cửa ở phía sau hàng ghế trống không của các bị cáo lặng lẽ mở rộng và Gơrinh, được hộ tống bởi một tốp quân cảnh đội mũ sắt trắng bóng loáng, dường như từ trong bức tường hiện ra. Hắn trông nhợt nhạt, mặt như xoa phấn, mà cũng có thể hắn quả thực đã đánh phấn.

- Chà, sau một ngày một đêm hắn ta tọp lại, cứ y như hắn được sấy khô ấy - một người nào đó ở phía sau tôi nhận xét.

Gơrinh đeo ống nghe, trong đó vang lên tiếng nói quen thuộc của Huân tước Lôrenxơ. Ông đọc bản án vẫn bằng cái giọng bình thản thông thường, nhưng hôm nay những lời nói của ông vang lên như sấm: "Gơrinh, tử hình bằng treo cổ". Trong khoảnh khắc, "Nhân vật số hai" của nước Đức nhìn đăm đăm vào hội trường bằng cặp mắt màu chì nhưng hắn sực nhớ, cố lấy lại vẻ bình thường trên khuôn mặt, tháo ống nghe và rời khỏi hội trường. Cánh cửa cũng vẫn nhẹ nhàng, không một tiếng động, khép lại. Có lẽ đó là ấn tượng đặc biệt mà đại tá Enđruxơ đã hứa hẹn.

Hexơ biết tiếng Anh thành thạo. Không phải ngẫu nhiên hắn đã tiến hành chiến tranh trên quần đảo Briten dưới sự bảo trợ của quận công Hamintơnxki. Hexơ, như chúng ta đã thấy rõ, là một người có ý chí sắt thép. Sau khi nghe tuyên án: "Tù chung thân", hắn không hề giật mình, chỉ có đôi mắt trên khuôn mặt gầy của hắn loé lên trong hai hố mắt sâu hoắm. Hắn quay ngoắt ra đằng sau theo kiểu quân sự và bằng những bước đi vững chắc biến ra sau lỗ cửa.

Ribentơrốp bây giờ trông giống như con búp bê cao su bị xì hơi. Hắn uể oải, mặt mũi bơ phờ, những chỗ gồ trên khuôn mặt nổi rõ hẳn lên, mắt nửa nhắm nửa mở. Sau khi biết rằng hắn cũng bị treo cổ, hắn như bị hẫng, vội bám lấy cái giá viết rồi được đỡ bởi người lính gác, lê đôi chân rời khỏi hội trường.

Câyten cũng trông giống như con búp bê. Nhưng là búp bê bằng gỗ, không co giãn được. Hắn đi cứng cỏi y như đi đều bước, chân xỏ trong đôi ủng được chải bóng nhoáng. Muốn nói gì thì nói chứ hắn biết cách kiềm chế và tự chủ được mình... "Tử hình bằng treo cổ"... Hắn hơi gật đầu dường như để khẳng định những ý nghĩ của mình rồi đi ra khỏi phòng cũng vẫn với tư thế thẳng đơ, nét mặt biểu hiện sự tập trung cao độ. Hắn là một tên lính mèng, rất mèng và trong suốt quá trình xét xử có thái độ tồi tệ, nhưng vào những giờ phút chót hắn đã xử sự một cách xứng đáng: Dầu sao thì hắn cũng là con nhà võ. Còn gã hàng xóm ngồi cạnh hắn, Iốtlơ, vừa nghe xong bản tuyên án tử hình liền bỏ ống nghe rồi vừa đi ra khỏi phòng vừa càu nhàu một cách giận dữ, mắt liếc về phía các quan toà.

Thế nhưng những chính khách và những nhà tư tưởng của Hítle vào giây phút quyết định lại hoá ra là đồ giẻ rách. Rôdenbéc phải vất vả lắm mới đứng vững được.

Phrancơ, kẻ đã hứa với quốc trưởng sẽ giải phóng Ba Lan khỏi người Ba Lan vì lợi ích của các dân tộc năng động và hùng mạnh, sẽ nghiền nát dân chúng dưới quyền cai trị của y để làm món thịt băm viên thì bây giờ đi lảo đảo khi vừa bước ra khỏi khung cửa. Hắn đi như một kẻ mơ ngủ, va vấp lung tung, và sau khi nghe xong vẫn bản án như thế - "Tử hình bằng treo cổ", hắn vung hai tay ra với vẻ bi đát. Mãi về sau, chúng tôi được biết hắn sợ quá đến nỗi bĩnh ra cả quần.

Daliút Stơrâykhe, chính cái tên đã hành hạ dã man các cô gái dám yêu người Do Thái, nhân vật chủ chốt và người tổ chức ra cái dạ hội ma quái ở Nurembe, dường như hoàn toàn hoá rồ. Đôi mắt hắn trông dại hẳn đi, mạch máu ở hai bên thái dương nổi lên, giãi nhớt chảy lòng thòng ở miệng, trông đến tởm!

Vậy là việc tuyên án đã kết thúc. Đây là phần cuối của nó. Gơrinh, Ribentơrốp, Câyten, Rôdenbéc, Cantenbrune, Phrích, Phrancơ, Stơrâykhe, Daoken, Iốtlơ, Dâyxơ Incơvác và Máctin Bóoc man (bị xử vắng mặt và người ta giả định rằng hắn đang ẩn náu ở một nơi nào đó) bị kết án tử hình bằng treo cổ. Hexơ, Phuncơ và Rêđéc - tù chung thân. Phôn Sirác và Speéc - mười lăm năm tù, Đênít - mười năm tù.

Đó là kết quả. Nhưng cái chính không phải bọn chúng, những tên tay sai này của Hítle, cái chính là ở chủ nghĩa quốc xã, ở những tư tưởng của nó. Nó bị vạch trần. Nó xuất hiện trước toàn thế giới với tất cả sự xấu xa kinh tởm. Mọi người quả thực đã ăn không ngon, ngủ không yên, như công tố viên trưởng của Mỹ đã hứa với họ, khi ngồi nghe trong suốt chín tháng câu chuyện khủng khiếp về sự thống trị kéo dài mười ba năm của chủ nghĩa quốc xã ở một nước lớn, có nền văn hoá lâu đời của châu Âu.

Câu chuyện đó thông qua báo chí và đài phát thanh đã được phổ biến rộng rãi đến các dân tộc trên thế giới.

Nhưng liệu chủ nghĩa quốc xã với tư cách là một hệ tư tưởng có bị kết án tử hình hay chỉ là bị tù ngắn hạn - đối với câu hỏi đó hiện nay vẫn chưa có lời giải đáp. Tương lai sẽ trả lời nó.

Còn hiện thời cần phải ghi lấy cái ngày mà chắc chắn ở bất kỳ một bước ngoặt nào của lịch sử vẫn sẽ mãi mãi là một ngày lịch sử: Toà án quốc tế đầu tiên trên thế giới xét xử bọn trùm tội phạm chiến tranh đã tuyên án ngày mồng 1 tháng 10 năm 1946 vào hồi 15 giờ 40 phút theo giờ Trung Âu.



==================

1 Sieg heil - Muôn năm! (tiếng Đức).

2 Trong chuyến sang Mỹ tháng 3 năm 1945, Thủ tướng Anh Soócsin đã đọc một bài diễn văn sặc mùi hiếu chiến tại thành phố Phuntơn. Trong bài diễn văn này, Soócsin hô hào các nước phương Tây thành lập một mặt trận thống nhất chống Liên Xô - ND.

3 H.Phrise - Trợ lý của Gơben, phụ trách việc tuyên truyền trên đài phát thanh.

4 F.Papen - Cựu thủ tướng Đức, sau đó làm nhà ngoại giao của Chính phủ Hítle.

5 J.Sáctơ - Đại diện giới tư bản độc quyền - N.D.
Lê Sơn dịch và giới thiệu

victory1945 18-03-2008 11:21

Chào các bác, dạo này em bận quá nên cũng ít khi vào diễn đàn.
Em cũng rất thích nhà văn Boris Polevoi.
Em mới chỉ được đọc tập truyện "Người Sô Viết chúng tôi", những câu chuyện trong đó thật tuyệt vời và có ý nghĩa, chỉ tiếc là bây giờ thế hệ trẻ ít được biết tới những câu chuyện như như thế, em cũng tiếc vì những chuyện về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta không được chúng em biết tới trong những tác phẩm như tập truyện này. Chúng ta chưa có được những tập truyện như thế hay em còn chưa chịu tìm hiểu. Nếu các bác biết có những tác phẩm như thế thì chỉ cho em với.

Ah cho em hỏi luôn là tác phẩm "Vàng" đã được dịch sang tiếng Việt chưa ạ. Nếu có thì ở đâu có ạ. Tiện thế cho em hỏi luôn có bác nào biết ở đâu có bán hay có thể mượn được bộ "Con đường đau khổ " không ạ, em mới được đọc tập 2 và 3 thôi, mà hình như không cùng một bộ được xuất bản.
Cảm ơn các bác rất nhiều.

hungmgmi 19-03-2008 08:47

Hôm 17/3, Lễ kỷ niệm trọng thể 100 năm ngày sinh B.Polevoi đã được tổ chức trọng thể tại thành phố Tver.
Cũng trong dịp này, nhiều hoạt động tưởng nhớ nhà văn đã diễn ra tại nhiều nơi ở LB Nga.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:02.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.