![]() |
Con chó khoang chạy ven bờ biển-Chingiz Aitmatov
Trong Tạp chí Sông Hương số 135 - tháng 5 có bài viết của tác giả Hà Văn Lưỡng tóm lược như sau:
"...Bài ca của người thợ săn trong Vĩnh biệt Gunxarư kể về số phận bi kịch của cha con người thợ săn dẫn đến cái chết của người con và nỗi đau xót đến cực độ của người cha phải tự tay giết con mình. Khi đặt huyền thoại trên bên cạnh cái chết của Trôsô và thái độ ăn năn hối lỗi trong cách cư xử của Tarabai, nhà văn không chỉ nhằm bộc lộ điều sâu kín trong tính cách nhân vật, mà còn là bài học, là tấm gương cho con người hiện đại nếu có thái độ hủy diệt đối với thiên nhiên sẽ chuốc lấy hậu quả không lường hết được. Trong Con tàu trắng, huyền thoại trở thành trung tâm cấu trúc cốt truyện của tác phẩm. Ở đây các lớp huyền thoại đan chéo với các lớp hiện thực có tác dụng tương hỗ lẫn nhau đã tạo cho tác phẩm vừa mang âm điệu du dương, lãng mạn vừa hiện thực, đồng thời góp phần mở rộng các yếu tố của cốt truyện. Trong suy nghĩ của ông già Môman và trong tâm hồn ngây thơ của cậu bé luôn nuôi dưỡng những câu chuyện huyền thoại về loài Mẹ hươu rừng Maran - vật thủy tổ theo truyền thuyết dân tộc Kirghidi. Đó là hình ảnh tượng trưng mang nhiều ý nghĩa, thể hiện mối quan hệ của con người với thiên nhiên, con người với quá khứ, truyền thống và hiện đại, văn học dân gian với văn học hiện đại... Như vậy, theo Aitmatốp, những quan niệm mang nội dung nhân đạo, có ý nghĩa nhân loại tồn tại với thời gian và không bao giờ mất đi trong đời sống thường ngày và ngay cả trong ký ức của nhân dân. Nhà văn đã khẳng định: "Kẻ nào quên quá khứ ắt buộc phải xác định lại chỗ đứng của mình trên thế giới, kẻ nào bỏ quên kinh nghiệm lịch sử dân tộc mình và của các dân tộc khác sẽ bị loại ra khỏi bước phát triển lịch sử và chỉ có khả năng sống với ngày hôm nay"(3). Nếu những câu chuyện huyền thoại về con tàu trắng, về loài hươu Maran đã nuôi dưỡng tâm hồn ngày thơ trong sáng luôn hướng thiện của cậu bé thì hành động giết loài hươu Maran của Ôrôđơkun là trái với đạo đức, chà đạp thô bạo tín ngưỡng nhân dân và tất yếu sẽ bị trừng trị đích đáng. Phải chăng, qua đây Aitmatốp muốn nhắn gửi rằng, người đời đừng động chạm đến những cái thiêng liêng trở thành phong tục, tập quán của dân tộc được giữ gìn và bồi đắp qua nhiều thế hệ và con người đừng tàn ác với thiên nhiên? Con chó khoang chạy ven bờ biển có sự pha trộn của đời sống hiện thực và những câu chuyện lãng mạn, huyền thoại. Ở tác phẩm này, Aitmatốp đặt ra nhiều vấn đề mang tính vĩnh hằng của con người: trách nhiệm của các thế hệ, lòng nhân ái, đức hy sinh... Tất cả những cái đó được nhà văn khoác lên một màu sắc mang tính huyền thoại làm cho tác phẩm vừa thực vừa hư, lung linh huyền ảo. Câu chuyện huyền thoại về người đàn bà cá vĩ đại trong Con chó khoang chạy ven bờ biển thể hiện quan niệm của tác giả về cái đẹp của cuộc sống con người, đặc biệt vẻ đẹp của người phụ nữ một kỳ quan tuyệt diệu được thượng đế ban phát cho loài người. Hành động hy sinh của ông già Organ để cứu bố con Kirxki (thế hệ con và cháu) mang giá trị nhân bản, biểu hiện một cách xử thế chuẩn mực về đạo đức. Khi Organ rời thuyền nhảy xuống biển trong màn sương dày đặc, mênh mông không phải ông tìm về với cõi vĩnh hằng mà là để toại nguyện giấc mơ về người đàn bà cá đã từ lâu ông ấp ủ. Sự hy sinh của Organ chỉ có ý nghĩa về mặt thể chất, còn hành động của ông đã trở thành truyền thuyết cho các thế hệ sau..." Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/tap-ch...-Aitmatop.html Trong tập gồm ba truyện của nhà văn yêu mến Chingiz Aitmatov đã được giới thiệu như trên, em đã hoàn thành việc gõ lại "Vĩnh biệt Gunxarư", "Con tàu trắng" và bây giờ là "Con chó khoang chạy ven bờ biển". |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov
Айтматов Чингиз
ПЕГИЙ ПЕС, БЕГУЩИЙ КРАЕМ МОРЯ Владимиру Санги В непроглядной насыщенной летучей влагой и холодом приморской ночи, на всем протяжении Охотского побережья, по всему фронту суши и моря шла извечная, неукротимая борьба двух стихий - суша препятствовала движению моря, море не уставало наступать на сушу. Гудело и маялось море во тьме, набегая и расшибаясь на утесах. Надсадно ухала, отражая удары моря, каменно твердая земля. И вот так они в противоборстве от сотворения - с тех пор как день зачался днем, а ночь зачалась ночью, и впредь быть тому, все дни и все ночи, пока пребудут земля и вода в нескончаемом времени. Все дни и все ночи... Еще одна ночь протекала. Ночь накануне выхода в море. Не спал он той ночью. Первый раз в жизни не спал, первый раз в жизни изведал бессонницу. Уж очень хотелось, чтобы день наступил поскорее, чтобы ринуться в море. И слышал он, лежа на нерпичьей шкуре, как едва уловимо подрагивала под ним земля от ударов моря и как грохотали и маялись волны в заливе. Не спал он, вслушиваясь в ночь... А ведь когда-то все было по-иному. Теперь такое невозможно даже представить себе, об этом теперь никто знать не знает, не догадывается даже, что, не будь в ту издавнюю пору утки Лувр, мир мог бы устроиться совсем по-другому - суша не противостояла бы воде, а вода не противостояла бы суше. Ведь в самом начале - в изначале начал - земли в природе вовсе не было, ни пылиночки даже. Кругом простиралась вода, только вода. Вода возникла сама из себя, в круговерти своей - в черных безднах, в безмерных пучинах. И катились волны по волнам, растекались волны во все стороны бесстороннего тогда света: из ниоткуда в никуда. А утка Лувр, да-да, та самая, обыкновенная кряква-широконоска, что по сей день проносится в стаях над нашими головами, летала в ту: пору над миром одна-одинешенька, и негде ей было снести яйцо. В целом свете не было ничего, кроме воды, даже тростиночки не было, чтобы гнездо смастерить. С криком летала утка Лувр - боялась, не удержит, боялась, уронит яйцо в пучину бездонную. И куда бы ни отправлялась утка Лувр, куда бы ни долетала она - везде и повсюду плескались под крыльями волны, кругом лежала великая Вода - вода без берегов, без начала, без конца. Извелась утка Лувр, убедилась: в целом свете не было места, где бы устроить гнездо. И тогда утка Лувр села на воду, надергала перьев из с Боей груди и свила гнездо. Вот с того-то гнезда плавучего и начала земля образовываться. Мало-помалу разрасталась земля, мало-помалу заселялась земля тварями разными. А человек всех превзошел среди них - приноровился по снегу ходить на лыжах, по воде плавать на лодке. Стал он зверя добывать, стал он рыбу ловить, тем кормился и род умножал свой. Да только если бы знала утка Лувр, как трудно станет на белом свете с появлением тверди среди сплошного царства воды. Ведь с тех пор, как возникла земля, море не может успокоиться, с тех пор бьются море против суши, суша против моря. А человеку подчас приходится очень туго между ними - между сушей и морем, между морем и сушей. Не любит его море за то, что к земле он больше привязан... CON CHÓ KHOANG CHẠY VEN BỜ BIỂN Tặng Vlađima Xan-ghi Đêm ven biển tối như bưng bão hoà hơi ẩm và khí lạnh bay lang thang, trên suốt vùng duyên hải Ôkhôt, trên toàn mặt trận của biển và đất liền diễn ra cuộc đấu tranh muôn thuở, không gì kiềm chế được giữa hai lực lượng thiên nhiên: đất liền ngăn trở chuyển động của biển, biển tấn công đất liền. Biển ì ầm lồng lộn trong bóng tối, xông tới lao mình vào các mỏm đá, làm tung lên muôn vàn tia nước. Đất rắn như đá rên rỉ, gầm gào đánh bật những đòn dữ dội của biển. Biển và đất cứ quần nhau như thế kể từ thủa khai tịch, từ khi đêm bắt đầu là đêm, ngày bắt đầu là ngày và sẽ còn như thế mãi, ngày ngày và đêm đêm, chừng nào vẫn còn đất và nước trong dòng thời gian vô tận. Ngày ngày và đêm đêm… Lại một đêm nữa trôi qua. Đêm trước hôm ra khơi. Đêm ấy nó không ngủ. Lần đầu tiên trong đời, nó không ngủ, lần đầu tiên trong đời nó biết thế nào là mất ngủ. Nó háo hức mong ngày chóng đến để được băng ra biển. Nằm trên tấm da hải báo, nó cảm thấy đất rung chuyển nhè nhẹ, hầu như khó nhận biết do những đòn va đập của biển và nghe thấy sóng ầm ầm vật vã trong vịnh. Nó không ngủ, lắng nghe đêm tối… Ấy thế mà xưa kia, có một thời thế gian hoàn toàn khác. Bây giờ thật không thể tưởng tượng nổi một cảnh tượng như thế, bây giờ không ai hay biết điều đó, không ai ngờ đâu rằng nếu như thửa xa xưa đó, không có con vịt Luvrơ thì thế giới đã có thể được an bài khác hẳn: đất liền không chống lại nước, và nước không chống lại đất liền. Bởi vì thoạt kì thuỷ, thủa ban sơ, trong thiên nhiên không có đất, thậm chí không có lấy một hạt bụi. Bốn bề nước ngập mênh mông, chỉ toàn là nước. Nước từ nước sinh ra, trong cái vòng chu chuyển của mình, trong những vực thẳm đen ngòm, trong những xoáy nước vô lượng. Và sóng cuốn theo sóng, sóng tràn lan về mọi phía trong cái thế giới vô bờ bến lúc bấy giờ: chẳng từ đâu ra và chẳng đi về đâu. Còn con vịt Luvrơ, phải, đúng là thứ vịt trời bình thường, mỏ to bè mà ngày nay ta vẫn còn thấy bay từng đàn trên đầu chúng ta, hồi ấy nó bay lượn trên thế gian, trơ trọi có một mình và không biết đẻ trứng vào đâu. Khắp cõi trần chẳng có cái gì khác ngoài nước, không có lấy một cây sậy để có thể làm tổ. Vịt Luvrơ vừa kêu càng cạc vừa bay lượn, nó sợ nó sẽ không cố được, sẽ đẻ rơi trứng xuống cái vực biển không đáy. Bất kể nhằm hướng nào, bay tới đâu, vịt Luvrơ cũng chỉ thấy sóng vỗ dạt dào dưới cánh,bốn bề là nước cả mênh mông, không bờ không bến, không đầu không cuối. Vịt Luvrơ kiệt lực, thấy rõ rằng khắp thế gian này không có chỗ nào cho nó làm tổ. Thế là vịt Luvrơ đáp xuống nước, vặt lông ngực làm tổ. Chính từ cái tổ trôi nổi ấy mà đất đã bắt đầu hình thành. Dần dần đất lan rộng ra, dần dần mặt đất trở thành nơi cư ngụ của các sinh vật khác nhau. Trong số đó con người vượt hơn tất cả: con người biết dùng bàn trượt đi trên tuyết, biết dùng thuyền đi trên mặt nước. Người bắt đầu săn bắt thú, đánh bắt cá, nhờ đó tự nuôi sống mình và làm cho dòng giống mình sinh sôi nảy nở. Ôi, giá như vị Luvrơ biết được thế gian sẽ khổ sở như thế nào khi đất rắn xuất hiện giữa vương quốc bao la của nước. Thật thế, từ khi đất xuất hiện, biển không thể yên lòng, biển tấn công đất liền, đất liền chống lại biển. Bị kẹt giữa hai lực lượngđó – giữa đất liền và biển, giữa biển và đất liền, con người lắm khi rất cực. Biển không ưa con người vì con người gắn bó với đất liền nhiều hơn… |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Приближалось утро. Еще одна ночь уходила, еще один день нарождался. В
светлеющем, сероватом сумраке постепенно вырисовывалось, как губа оленя в сизом облаке дыхания, бушующее соприкосновение моря с берегом. Море дышало. На всем вскипающем соприкосновении суши и моря клубился холодный пар летучей мороси, и на всем побережье, на всем его протяжении стоял упорный рокот прибоя. ; Волны упорствовали на своем: волна за волной могуче взбегали на штурм суши вверх по холодному и жесткому насту намытого песка, вверх через бурые, ослизлые завалы камней, вверх - сколько сил и размаха хватало, и волна за волной угасали, как выдох, на последней черте выплеска, оставляя по себе мгновенную пену да прелый запах взболтанных водорослей. Временами вместе с прибоем выметывались на берег обломки льдин, невесть откуда занесенных весенним движением океана. Шалые льдины, вышвырнутые на песок, сразу превращались в нелепые беспомощные куски смерзшегося моря. Последующие волны быстро возвращались и уносили их. обратно, в свою стихию. Исчезла мгла. Утро все больше наливалось светом. Постепенно вырисовывались очертания земли, постепенно прояснялось море. Волны, растревоженные ночным ветром, еще бурунились у берегов беловерхими набегающими грядами, но в глубине, в теряющейся дали море уже усмирялось, успокаивалось, свинцово поблескивая в той стороне тяжкой зыбью. Расползались тучи с моря, передвигаясь ближе к береговым сопкам. В этом месте, близ бухты Пегого пса, возвышалась на пригористом полуострове, наискось выступавшем в море, самая приметная сопка-утес, и вправду напоминавшая издали огромную пегую собаку, бегущую по своим делам краем моря. Поросшая с боков клочковатым кустарниковым разнолесьем и сохранявшая до самого жаркого лета белое пятно снега на голове, как большое свисающее ухо, и еще большое белое пятно в паху - в затененной впадине, сопка Пегий пес всегда далеко виднелась окрест - и с моря и из лесу.. Отсюда, из бухты Пегого пса, поутру, когда солнце поднялось высотой на два тополя, отчалил в море нивхский каяк. В лодке было трое охотников и с ними мальчик. Двое мужчин, что помоложе и покрепче, гребли в четыре весла. На корме, правя рулем, сидел самый старший из них, степенно посасывая деревянную трубку,- коричневолицый, худой, кадыкастый старик, очень морщинистый - особенно шея, вся изрезанная глубокими складками, и руки были под стать - крупные, шишковатые в суставах, покрытые рубцами и трещинами. Седой уже. Почти белый. На коричневом лице очень выделялись седые брови. Старик привычно жмурился слезящимися, красноватыми глазами: всю жизнь ведь приходилось смотреть на водную гладь, отражающую солнечные лучи,- и, казалось, вслепую направлял ход лодки по заливу. А на другом конце каяка, примостившись, как кулик, на самом носу, то и дело мельком поглядывая на взрослых, с великим трудом удерживал себя на месте, чтобы поменьше крутиться, дабы не вызывать неудовольствие хмурого старейшины, черноглазый мальчик лет одиннадцати-двенадцати. Мальчик был взволнован. От возбуждения ноздри его упруго раздувались, и на лице проступали скрытые веснушки. Это у него от матери - у нее тоже, когда она очень радовалась, появлялись на лице такие скрытые веснушки. Мальчику было отчего волноваться. Этот выход в море предназначался ему, его приобщению к охотничьему делу. И потому Кириск крутил головой по сторонам, как кулик, глядел повсюду с неубывающим интересом и нетерпением. Впервые в жизни отправлялся Кириск в открытое море с настоящими охотниками, на настоящую, большую добычу, в большом родовом каяке. Мальчику очень хотелось привстать с места, поторопить гребцов, очень хотелось самому взяться за весла, подналечь изо всех сил, чтобы быстрей доплыть до островов, где предстояла большая охота на морского зверя. Но такие ребяческие желания могли показаться серьезным людям смешными. Опасаясь этого, он всеми силами пытался не выдать себя. Но это не совсем удавалось. Трудно было ему скрыть свое'счастье - горячий румянец отчетливо проступал на смуглых крепких щеках. А главное, глаза, сияющие, чистые, одухотворенные глаза мальчишечьи не могли утаить радости и гордости, переполнявших его ликующую душу. Впереди море, впереди большая охота!!! Sắp sáng rồi. Lại một đêm nữa qua đi, một ngày nữa ra đời. Giống như vành môi hươu trong làn hơi thở mờ mịt màn khói lam, trong bóng tối xám nhạt đang hửng sáng dần dần lộ rõ khoảng tiếp giáp dữ dội của biển và bờ biển. Biển thở phập phồng. Trên suốt khoảng tiếp giáp sục sôi giữa đất liền và biển hơi sương nhẹ bỏng, lạnh giá bốc lên cuồn cuộn, và khắp vùng duyên hải, suốt dọc bờ biển không ngớt dậy lên tiếng xậm xịch dai dẳng của sóng vỗ bờ. Sóng rất mực kiên gan: hết đợt này đến đợt khác, mỗi lúc một mãnh liệt hơn xông lên công phá, chồm lên bãi cát bồi rắn chắc, lạnh lẽo, vọt qua những đống đá chồng chất, trơn nhẫy màu nâu xạm, chồm lên với tất cả sức mạnh và khí thế của chúng, rồi theo nhau tàn lụi đi ở giới hạn tận cùng của mình như một hơi thở ra tụt lịm, để lại một lớp bọt tiêu tan trong khoảnh khắc và mùi ủng nữa của rong rêu bị khuấy đảo. Đôi lúc, sóng ném lên bờ cả những mảnh băng bị cuốn từ đâu tới không rõ theo dòng chuyển vận của đại dương mùa xuân. Những mảnh băng lạc loài bị vứt lên cát lập tức biến thành những mẩu kì quặc, bơ vơ của biển đã đông kết. Những đợt sóng tiếp theo nhanh chóng ào đến và lôi chúng trở lại thế giới tự nhiên của chúng. Bóng tối tan biến. Buổi sáng mỗi lúc càng chan hoà ánh sáng. Hình thế của đất dần dần lộ rõ, biển sáng rõ dần.Những con sóng bạc đầu cuộn lên bởi gió đêm vẫn lớp lớp xô tới, nhào lộn ven bờ, nhưng ở ngoài khơi xa, xa tít mù khơi, biển đã yên ả hiền hoà, ở đằng ấy rập rờn những con sóng nhẹ lấp lãnh ánh chì. Mây đen tản đi trên biển, tiến gần về phía những núi trọc ven bờ. Ở chỗ này, gần vịnh Chó Khoang, trên một bán đảo có đồi núi, sừng sững nhô lên một núi đá trọc hết sức đặc sắc, nhìn từ xa nom thực là giống con chó khoang khổng lồ chạy men bờ biển có việc riêng của nó. Hai bên sườn chởm lên những mảng cây bụi, trên chỏm một vệt tuyết trắng đọng lại cho đến lúc nóng nực nhất trong mùa hè, nom như cái tai kếch sù buông rủ xuống, một vệt trắng khác còn lớn hơn ở háng, chỗ cái hõm có bóng rợp, núi chó khoang bao giờ cũng có thể nhìn thấy từ xa, từ khắp các vùng xung quanh: từ biển cũng như từ phía rừng. Từ vịnh Chó Khoang này, buổi sáng, khi mặt trời đã lên cao chừng hai cây phong, một chiếc kayăc của người Nivkhơ rời bến ra khơi. Trong thuyền có ba ngưi đi săn và một thằng bé. Hai người đàn ông trẻ khoẻ hơn chèo bốn mái chèo. Ngồi ở cuối thuyền điều khiển tay lái là ngưi nhiều tuổi nhất trong bọn họ, ông khoan thai mút cái ống điếu bằng bỗ. Đấy là một ông già mặt nâu sạm, gầy gò, yết hầu nhô ra, da nhăn nheo, đặc biệt là cổ, khắp cả cổ chằng chịt những nếp nhăn hằn sâu, tay cũng hệt như thế: đôi tay cực to, nổi cục ở những khớp ngón, đầy vết sẹo và vết nứt. Tóc đã bạc. Gần như bạc trắng. Trên khuôn mặt nâu sạm, nổi bật hẳn lên đôi lông mày xám bạc. Theo thói quen, ông già nheo nheo cặp mắt đỏ hoe ứa lệ: suốt đời ông thường xuyên phải nhìn vào mặt nước như tấm gương phản chiếu tia nắng mặt trời. nom tưởng chừng như ông điều khiển thuyền đi trong vịnh mà không trông thấy gì. Còn ở đầu kia kayăc, một thằng bé mắt đen khoảng mười một mười hai tuổi ngồi thu lu ở mũi thuyền như con chim dẽ, chốc chốc lại đưa mắt liếc trộm những người lớn, gắng hết sức tự ghìm mình, tránh xoay ngang xoay ngửa để khỏi làm vị tộc trưởng cau có bực mình. Thằng bé hồi hộp. Vì xúc động, hai cánh mũi nó phập phồng và trên mặt nổi lên những vết tàn nhang kín đáo. Cái này nó thừa hưởng được ở mẹ: mẹ nó cũng vậy, khi có điều gì rất đỗi vui mừng, trên mặt bà cũng nổi lên những vết tàn nhang kín đáo như thế. Thằng bé xúc động là phải. Chuyến ra biển này là dành cho nó, để cho nó làm quen với việc đi săn. Bởi thế Kirixk quay đầu tứ phía như con chim dẽ, nhìn khắp nơi với niềm hứng thú và háo hức không lúc nào giảm sút. Lần đầu tiên trong đời,Kirixk ra khơi xa cùng với những người đi săn thực thụ, thực hiện một chuyến đi săn lớn thực sự trên chiếc kayăc lớn của thị tộc. Thằng bé rất muốn nhỏm dậy, thúc giục những người chèo thuyền, rất muốn tự mình cầm lấy bơi chèo, rán sức chèo thật lực để thuyền mau tới những hòn đảo ở đó sẽ diễn ra cuộc săn thú biển lớn lao. Nhưng những người lớn nghiêm túc có thể coi những mong muốn trẻ con ấy là tức cười. Vì e sợ như thế, nó gắng hết sức không để lộ tâm trạng của mình. Nhưng cố gắng đó chẳng lấy gì làm thành công. Nó khó lòng che giấu nổi niềm hạnh phúc: một mầu hồng nông thắm rực chói trên đôi má rắn chắc mầu bánh mật của nó. Nhưng cái chính là đôi mắt ngời sáng, trong trẻo, phấn chấn của thằng bé không thể che giấu niềm vui sướng và tự hào tràn ngập tâm hồn hân hoan của nó. Phía trước là biển, phía trước là cuộc săn lớn lao!!! |
Cảm ơn bác Siren đã "gõ mõ" truyện này.
Trước đây em đọc truyện này nguyên bản, khi sự cảm nhận tiếng Nga chưa tốt lắm (sinh viên năm thứ 1) nhưng đã thấy rất ám ảnh. Ám ảnh đến mức từ đó hình thành thói quen tiết kiệm nước đến mức "kỳ quặc". |
Em cảm ơn các bác đã ủng hộ em "gõ vung xoong" ạ. Có một bác PM gửi cho cả bản gốc nữa với thiện ý dành cho các bạn quan tâm đến dịch thuật có điều kiện nâng cao tiếng Nga. Chân thành cảm ơn bác! Em sẽ pot song ngữ nhé.
@bác MU: Việc bác tiết kiêm nước, theo em, còn nguyên nhân thứ 2 nữa có khi còn quan trọng hơn "Con chó khoang chạy ven bờ biển" ý chứ!:emoticon-0150-hands |
Trích:
|
Trích:
Em ủng hộ bác Siren post song ngữ. Trích:
Do cơ địa em phải uống nhiều nước lắm (tối thiểu ngày 2 lít). |
Thời gian qua khá bận nên mãi đến hôm qua mới thấy công trình "gõ" của Siren - một việc làm âm thầm, công phu và rất có ích cho nhiều thế hệ!
Ngoài việc giúp bạn đọc trên NNN, nếu tôi không nhầm, đây là lần đầu tiên có dạng điện tử cho những tác phẩm nổi tiếng này. Siren cố gắng post song ngữ thành 2 cột, căn thế nào đấy để các dòng của 2 bên xấp xỉ ngang nhau cho bạn đọc dễ đối chiếu. Bây giờ, bài "Con tầu trắng" được Siren gõ đã lên dòng đầu tiên trên công cụ tìm kiếm của bác Gốc rồi (điều này chứng tỏ số lượt truy cập trên Internet vào chuyện này cao nhất). Sau này, cả bộ với dạng song ngữ sẽ là tài sản chung của cả Internet do 1 thành viên NNN để lại cho hậu thế! |
Старик Орган понимал его. Углядывая прищуром глаз направление по морю,
он замечал и настроение мальчишки, ерзающего от нетерпения. Старик теплел глазами - эх, детство, детство,- но улыбку в углах запавшего рта вовремя подавлял усиленным посасыванием полуугасшей трубки. Нельзя было открывать улыбку. Мальчик находился с ними в лодке не ради забавы. Ему предстояло начать жизнь морского охотника. Начать с тем, чтобы кончить ее когда-нибудь в море,- такова судьба морского добытчика, ибо нет на свете более трудного и опасного дела, нежели охота в море. А привыкать требуется сызмальства. Потому-то прежние люди говаривали: "Ум от неба, сноровка сызмальства". И еще говаривали: "Плохой добытчик - обуза рода". Вот и выходит: чтобы быть кормильцем, мужчина должен с ранних лет постигать свое ремесло. Пришел такой черед и Кириску, пора было натаскивать мальчишку, приучать его к морю. Об этом все знали, все поселение клана Рыбы-женщины у сопки Пегого пса знало, что сегодняшний выход в плавание предпринимался ради него, Кириска, будущего добытчика и кормильца. Так заведено: каждый, кто рождается мужчиной, обязан побрататься с морем с малолетства, чтобы море знало его и чтобы он уважал море. Потому-то сам старейшина клана старик Орган и двое лучших охотников - отец мальчика Эмрайин и двоюродный брат отца Мылгун - шли в плавание, повинуясь заветному долгу старших перед младшими, в этот раз перед ним, мальчиком Кириском, которому предстояло отныне и навсегда познаться с морем, отныне и навсегда и в дни удач и неудач. Пусть он, Кириск, сейчас мальчишка, пусть еще молоко материнское на губах, и неизвестно, выйдет ли толк из него, но кто возьмется сказать, может статься, когда они сами отойдут от дел, превратясь в немощных старцев, именно он, Кириск, будет кормильцем и опорой рода. Так оно и положено быть, так оно и идет в поколениях, из колена в колено. На том жизнь стоит. Но об этом никто не скажет вслух. Человек думает об этом про себя, а говорит об этом редко. Оттого-то там, на побережье Пегого пса, никто из людей Рыбы-женщины не придал особого значения этому событию - первому выходу Кириска на добычу. Наоборот, соплеменники постарались даже не заметить, как он уходил в море вместе с большими охотниками. Вроде бы не принимали всерьез эту затею. Провожала его только мать, и то, не сказав вслух ни слова о предстоящем плавании и не дойдя до бухты, попрощались. "Ну, иди в лес!" - нарочито внятно сказала она сыну, при этом не глядя на море, а глядя в сторону леса: "Смотри, чтобы дрова были сухие, и сам не заблудись в лесу!" Это она говорила для того, чтобы запутать следы, оберечь сына от кинров - от злых духов. И об отце мать не проронила ни слова. Точно бы Эмрайин был не отец, точно не с отцом Кириск отправлялся в море, а со случайными людьми. Опять же умалчивала потому, чтобы не проведали кинры, что Эмрайин и Кириск - отец с сыном. Ненавидят злые духи отцов и сыновей, когда они вместе на охоте. Погубить могут одного из них, чтобы силу и волю отнять у другого, чтобы с горя поклялся один из них не ходить в море, не вступать в лес. Такие они, коварные кинры, только высматривают, только выжидают случай какой, чтобы вред учинить людям. Ông già Organ hiểu nó. Mắt nheo nheo nhắm hướng đi trên biển, ông vẫn nhận thấy tâm trạng của thằng bé đang nhấp nhổm vì nôn nóng. Mắt ông già trở nên đầm ấm – ôi chao, tuổi thơ, tuổi thơ – nhưng ông đã kịp thời dập tắt nụ cười thoáng hiện bên mép cái miệng móm, mút lấy mút để chiếc ống điếu đã gần tắt. Không thể để lộ nụ cười. Thằng bé có mặt trong thuyền cùng với họ không phải để tiêu khiển. Nó sắp bắt đầu sống cuộc đời của người đi săn trên biển. Cuộc đời ấy rồi đây sẽ lại chấm dứt cũng ở biển, đó là số phận của người làm nghề đi biển, bởi vì trên đời không có việc gì khó khăn và nguy hiểm hơn đi săn trên biển. Phải tập quen từ bé. Bởi thế người xưa có câu: “Thông minh do trời phú, tài khéo léo phải rèn từ bé”. Ngoài ra còn có câu: “Người săn bắt tồi là gánh nặng cho thị tộc”. Do đó, muốn trở thành người nuôi dưỡng gia đình, từ lúc còn thơ người đàn ông phải am hiểu nghề nghiệp của mình. Bây giờ đến lượt Kirixk, đã đến lúc rèn cặp thằng bé, tập cho nó quen với biển. Chuyện đó ai nấy đều biết, mọi người ở xóm dân của thị tộc Người Đàn bà Cá gần núi Chó Khoang đều biết rằng chuyến đi biển hôm nay là vì Kirixk, kẻ sau này sẽ thành người đi săn nuôi sống gia đình. Tục lệ là như vậy: mỗi người sinh ra là đàn ông đều có bổn phận kết thân với biển từ bé để biển quen biết mình và bản thân mình kính trọng biển. Bởi vậy người cao tuổi nhất thị tộc, ông gia Organ, và hai người đi săn ưu tú nhất – Emrayin, bố thằng bé, với Mưngun em họ ông, - xuống thuyền ra khơi, thực hiện bổn phận thiêng liêng của người lớn đối với kẻ sinh sau, lần này kẻ sinh sau đó là Kirixk, thằng bé mà từ nay và mãi mãi sau này sẽ làm quen với biển, từ nay và mãi mãi sau này, trong những ngày thành công cũng như thất bại. Mặc dù hiện giờ Kirixk còn là một thằng bé, miệng còn hơi sữa, và chưa biết sau này nó có làm nên trò trống gì không, nhưng ai dám nói chắc chi được. Chưa biết chừng rồi đây, khi họ không làm việc được nữa, họ thành những người già cả yếu đuối thì chính Kirixk sẽ là người nuôi sống thị tộc, là chỗ dựa của thị tộc. Tục lệ là như vậy, nó lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ chi này sang chi khác. Đấy là nền tảng của cuộc sống. Nhưng điều đó chẳng ai nói ra miệng. Người ta nghĩ về chuyện đó, nhưng ít khi nói ra. Bởi thế, ở vùng bờ biển Chó Khoang, không người nào trong thị tộc Người Đàn bà Cá coi biến chuyển đó – chuyến ra biển đi săn lần đầu của Kirixk là điều có ý nghĩa đặc biệt. Dường như họ không coi trọng cái chuyện này. Chỉ có bà mẹ đưa tiễn thằng bé, và bà cũng không nói lấy một lời về chuyến đi biển sắp tới, chưa đến vịnh bà đã chia tay. “Thôi, con vào rừng đi! – Bà nói với con trai, cố ý nói cho thật rành rẽ, đồng thời không nhìn ra biển, mà nhìn về phía rừng. – cẩn thận đấy, giữ sao cho củi được khô và khéo kẻo lạc trong rừng!”. Bà nói như thế để làm lẫn dấu vết, bảo vệ cho con khỏi bị các kinrư – tức là ma quỉ - làm hại. Ba không thốt lên một lời nào về ông bố. Dường như Emrayin không phải là bố thằng bé, dường như không phải Kirixk đi biển với bố, mà với những người tình cờ gặp được. Bà lờ đi cũng lại cốt để các kinrư không biết được rằng Emrayin và Kirixk là hai bố con. Ma quỉ rất ghét cái chuyện hai bố con cùng đi săn. Chúng có thể giết hại một trong hai người, để người kia không còn sức lực và ý chí, để người kia đau xót quá sẽ thề không ra biển, không vào rừng nữa. Bọn kinrư quỉ quyệt là như thế đấy, chúng chỉ trông chờ, chỉ rình cơ hội để làm hại người. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Сам-то он, Кириск, не боится злых кинров, не маленький уже. А мать
боится, особенно за него страшится. Ты, говорит, еще мал. Сбить тебя с толку, погубить очень просто. И то правда! Ох, эти злые духи, сколько они бед приносят в малолетстве - болезни разные или вред какой нашлют, покалечат дитя, чтобы охотник из него не вышел. А кому тогда нужен такой человек! Поэтому очень важно остерегаться злых духов, особенно в малолетстве, пока не подрос. А когда человек поднимется на ноги, когда станет самим собой, тогда не страшны никакие кинры. Им тогда не совладать, боятся они сильных людей. Так и попрощались мать с сыном. Мать постояла молча, затаив в том молчании и страх, и мольбу, и надежду, да пошла назад, не оглянувшись ни разу в сторону моря, не обмолвившись ни словом об отце, вроде бы она и в самом деле ведать не ведала, куда отправлялись ее муж с сыном, а ведь сама накануне собирала их в путь, еду готовила с запасом - на три дня плавания, а теперь прикинулась ничего не знающей, так боялась она за сына. Так боялась, что ничем не выдала тревоги своей, чтобы не учуяли злые духи, как страшится она в душе. Bản thân Kirixk không sợ những kinrư độc ác, nó không còn bé bỏng gì nữa. Nhưng mẹ nó sợ, nhất là lo cho nó. Con còn nhỏ, bà bảo thế. Làm cho con mất khôn, giết con thì rất dễ. Kể thì cũng đúng kia! Ôi, thứ ma quỉ độc ác ấy, chúng đem đến bao nhiêu tai hoạ cho trẻ em: đủ các thứ bệnh tật, hay gây ra một tổn hại gì đó, làm cho trẻ trở nên tàn tật không trở thành người đi săn được. Người tàn phế thì còn ai cần đến nữa! Cho nên điều rất quan trọng là phải đề phòng ma quỉ, nhất là lúc còn bé, cho đến khi nào mình lớn lên. Khi con người đã vững vàng, đã có bản lĩnh riêng của mình thì không có kinrư nào đáng sợ nữa. Khi ấy chúng không làm gì nổi con người, chúng sợ những người cường tráng. Hai mẹ con chia tay nhau như thế đấy. Bà mẹ lẳng lặng đứng im một lúc, che giấu trong sự im lặng ấy cả nỗi sợ, cả lời cầu nguyện, cả niềm hi vọng, rồi bà đi lộn trở lại, không lần nào nhìn về phía biển, không thốt lên lời nào về ông bố, dường như quả thật bà không hề biết chồng bà với con trai đi đâu, vậy mà hôm trước chính bà đã sửa soạn cho hai bố con lên đường, làm cái ăn đủ dùng cho ba ngày trên biển, còn bây giờ bà vờ như không hay biết gì hết, bà quá lo sợ cho con trai. Bà sợ đến nỗi cố không mảy may để lộ nỗi lo lắng của mình, để cho ma quỉ không cảm thấ được trong thâm tâm bà hãi hùng như thế nào. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Мать ушла, не доходя до бухты, а сын, петляя по кустам, запутывая след,
скрываясь от незримых кинров, как и наказывала мать,- не хотелось огорчать ее в такой день,- пустился догонять ушедших далеко вперед мужчин. Он быстро догнал их. Они шли не спеша, с ношей, с ружьями, со снастями на плечах. Впереди старейшина Орган, за ним, выделяясь своей фигурой и ростом, плечистый, бородатый Эмрайин, а за ним, косолапо ступая, коренастый, сбитый и круглый, как пень, Мылгун. Одежда на них была обношенная, для моря, вся из выделанных шкур и кож, чтобы тепло держала и не намокала. А Кириск по сравнению с ними выглядел нарядным. Мать постаралась, давно готовила его морскую одежду. И торбаса и верхняя одежда порасшиты по краям. На море-то к чему это. Но мать есть мать. - Ух ты, а мы думали, что ты остался. Думали, тебя за ручку домой! - насмешливо подивился Мылгун, когда Кириск поравнялся с ним. - Это почему? Да никогда в жизни! Да я! - Кириск чуть не задохнулся от обиды. - Ну, ну, шуток не понимаешь,- урезонил его тот,- ты это брось. На море-то с кем разговаривать, как не друг с другом. На вот, неси-ка лучше! - подал он ему свой винчестер. И мальчик благодарно зашагал рядом. Предстояла погрузка и отплытие. Вот таким образом уходили они в море. Но зато возвращение, если выпадет удача, если с добычей вернутся они домой, будет иным. Тогда-то по праву мальчику честь воздадут. Будет праздник встречи юного охотника, будут песни петься о щедрости моря, в необъятных глубинах которого умножаются рыбы и звери, предназначенные сильным и смелым ловцам. Величать будут в песнях Рыбу-женщину, прародительницу, от которой пошел их род на Земле. И тогда загудят бревна-барабаны под ударами кленовых палок, и среди пляшущих шаман - самый многоумный человек - разговор заведет с Землей и Водой, разговор о нем, Кириске, новом охотнике. Да-да, о нем будет говорить шаман с Землей и Водой, заклинать станет и просить, чтобы всегда добры были к нему Земля и Вода, чтобы вырос он великим добытчиком, чтобы удача всегда сопутствовала ему на Земле и на Воде, чтобы всегда суждено было ему делить добычу среди старых и малых по всей справедливости. И еще заклинать и просить станет он, шаман многомудрый, чтобы дети народились у Кириска и все выжили, чтобы род Великой Рыбы-женщины умножался и потомки к потомкам прибавлялись: Где ты плаваешь, Великая Рыба-женщина? Твое жаркое чрево - зачинает жизнь, Твое жаркое чрево - нас породило у моря, Твое жаркое чрево - лучшее место на свете. Где ты плаваешь, Великая Рыба-женщина? Твои белые груди как нерпичьи головы. Твои белые груди вскормили нас у моря. Где ты плаваешь, Великая Рыба-женщина? Самый сильный мужчина к тебе поплывет, Чтобы чрево твое расцветало, Чтобы род твой на земле умножался... Chưa đến vịnh bà mẹ đã quay trở lại, còn cậu con tri đi vòng vèo giữa các bụi cây để làm lẫn dấu vết, đánh lừa các kinrư vô hình theo lời mẹ dặn (nó không muốn làm mẹ buồn phiền trong một ngày như thế này), rồi cắm đầu đuổi cho kip mấy người đàn ông đã vượt lên trước một quãng xa. Nó nhanh chóng đuổi kịp họ. Họ đi thong thả, vai mang đồ vật, súng, dụng cụ. Đi đầu là trưởng lão Organ, tiếp đến là Emrayin vai rộng, có râu, nổi bật hẳn lên vì vóc dáng cao đẹp, theo sau ông là Mưngun chân đi vòng kiềng, thân hình vạm vỡ, chắc nịch, tròn như cái gốc cây cụt. Y phục của họ đã cũ lắm rồi, loại y phục dùng đi biển, toàn làm bằng da lông và da thuộc để giữ ấm và không bị thấm ướt. So với họ, Kirixk nom quá diện. Từ lâu mẹ đã cố lo liệu may cho nó bộ quần áo đi biển. Cả đôi giầy da hươu và quần áo ngoài đều thêu ở rìa. Ra biển thì mặc đẹp như thế chẳng làm gì. Nhưng bà mẹ bao giờ cũng là bà mẹ. - Cháu đấy à, thế mà chúng ta cứ tưởng cháu đã rớt lại rồi. Chúng ta cứ tưởng cháu đã bị cầm tay lôi về nhà rồi! – Mưngun tỏ vẻ ngạc nhiên giễu cợt khi Kirixk theo kịp họ. - Sao lại thế? Không đời nào! Cháu mà lại thế thì còn ra cái gì! – Kirixk gần như ngạt thở vì bị xúc phạm. - Ờ thôi, người ta đùa mà không hiểu. – Mưngun dỗ dành. – Đừng để bụng. Ra biển mà không nói chuyện với nhau thì còn nói với ai nữa. Này, mang lấy cái này! – Anh đưa cho thằng bé cây súng Winsơxtơ của mình. Thằng bé bước đi bên cạnh, lòng tràn đầy tình cảm biết ơn. Sắp thu xếp xuống thuyền và ra khơi. Họ đã ra biển như vậy. Nhưng lúc về, nếu thành công, mang theo thú săn trở về nhà thì sự thể sẽ khác. Khi ấy thằng bé sẽ được xưng dương xứng đáng. Sẽ có ngày hội chúc mừng người đi săn trẻ tuổi, người ta sẽ hát những bài ca ngợi sự hào hiệp của biển, vì trong lòng sâu mênh mông của nó luôn luôn sinh sôi nảy nở các loài cá và thú dành cho những người săn bắt khoẻ mạnh và khéo léo. Trong lời ca tiếng hát, người ta sẽ ca tụng Người Đàn bà Cá, thuỷ tổ của họ, bởi vì họ là con cháu của người Đàn bà Cá trên đất liền. Khi ấy có cỗ trống bằng gỗ súc sẽ ầm vang dưới những chiếc dùi bằng gỗ thích, và giữa những người đang nhảy múa, một saman, người tinh khôn nhất – sẽ bắt đầu cuộc nói chuyện với Đất và Nước, nói chuyện về Kirixk, người đi săn mới. Đúng thế, saman sẽ nói chuyện với Đất và Nước về nó, sẽ niệm chú và cầu xin Đất và Nước luôn luôn tốt với nó, sao cho nó lớn lên thành người đi săn vĩ đại, sao cho nó luôn luôn gặp may trên Đất và Nước, cầu cho nó luôn luôn có dịp được chia những thứ nó săn bắt được cho người già và con trẻ một cách hoàn toàn công bằng. Saman tinh khôn nhất đời ấy sẽ còn niệm chú và cầu cho Kirixk có nhiều con và tất cả đều đậu, để dòng giống Người Đàn bà Cá đông mãi lên, con cháu nối đời. Người bơi lội ở đâu, hỡi Người Đàn bà Cá vĩ đại? Cái bụng nóng ấm của Người thai nghén cuộc sống Cái bụng nóng ấm của Người đã sinh ra chúng con bên bờ biển, Cái bụng nóng ấm của Người là nơi yên ấm nhất trên đời. Người đang bơi lội ở đâu, hỡi Người Đàn bà Cá vĩ đại? Người đàn ông cường tráng nhất bơi đến với Người Để cái bụng của Người khai hoá Để dòng giống của Người sinh sôi nẩy nở trên trái đất… |
Nếu đưa song ngữ, thì đối với tiếng Nga gò khổ rất phức tạp. Vì âm tiết tiếng Nga dài, không ít vần như tiếng la tinh, nên nó sẽ tự dộng cắt dòng, rồi lộn xộn hết cả lên. Nếu muốn căn chỉnh phải dùng dấu gạch nối, kiểu универ-маг để cắt ngắn bớt từ cho nó xuống dòng ở đoạn cần xuống, tuy nhiên chỉ cần dịch 1 ký tự, là nó lại nhảy lên, và cái gạch nối kia lại thành vô ích khi nó trở về chễm chệ giữa từ trên 1 dòng...
Tôi nghĩ bạn Siren chỉ nên gõ tiếng Việt, và dẫn link để ai muốn đọc tiếng Nga thì load về tự so, chứ đừng nên type cả tiếng Nga, khó khắc phục điểm này lắm. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Đấy là những bài người ta hát trong ngày hội, giữa những điệu vũ và tiếng ồn ào huyên náo. Trong ngày hội ấy sẽ còn xẩy ra một việc nữa quan trọng đối với Kirixk. Saman nhảy múa như điên sẽ phó thác số mệnh người đi săn của nó cho một trong các ngôi sao trên trời. Mỗi người đi săn đều có ngôi sao hộ mệnh của mình. Số mệnh của Kirixk sẽ được kí thác cho ngôi sao nào, điều đó không ai biết. Chỉ có saman và ngôi sao hộ mệnh vô hình ấy biết thôi. Ngoài ra không còn ai hay. Sao trên trời hằng hà sa số…
Tất nhiên mẹ và em gái sẽ vui sướng hơn ai hết, sẽ hát to nhất và nhảy múa. Còn bố Emrayin sẽ được lớn tiếng gọi là bố và cũng sẽ vui mừng và tự hào. Nhưng lúc này thì ông không phải là bố. Trên biển không có bố và con, trên biển mọi người đều bằng nhau và phục tùng người cao tuổi nhất. Người nhiều tuổi nhất bảo sao nên vậy. Bố sẽ không xen vào. Con không phiền trách bố. Tục lệ là như vậy. Và có lẽ cả Muzơluc, cô bé vẫn chơi với nó từ thủa thơ ấu, cũng sẽ rất vui sướng. Bây giờ hai đứa đã ít chơi đùa hơn. Còn từ nay trở đi thì thôi hẳn: người đi săn còn thời giờ đâu mà chơi đùa… Thuyền lướt đi nhẹ nhàng, lúc lên lúc xuống theo sóng. Vịnh Chó Khoang đã rớt lại phía sau từ lâu, họ đã vượt qua mũi đất Dài, và vừa rời khỏi vịnh ra biển đã thấy ngay rằng ở biển sóng không mạnh hơn ở vịnh. Sóng dồi cao như nhau qua những khoảng thời gian đều nhau. Sóng đều đặn như thế khiến họ có thể cho thuyền đi nhanh. Con thuyền làm bằng thân một cây phong to khoẻ, đục rỗng lướt đi thoải mái, khéo léo. Nó vẫn vững vàng cả khi sóng xô tới từ phía trước cũng như từ bên mạn dễ dàng tuân theo tay lái. Vẫn mút cái ống điếu đã tắt, ông già Organ cảm thấy thích thú vì thuyền đi vững vàng và trong thâm tâm, ông cảm thấy như chính ông là con thuyền đang đi trên biển lạnh giá, nước mớn tới nửa mạn thuyền, dường như chính ông lướt trên mặt biển mênh mông, giữa tiếng cót két đều đều của cọc chèo và hoạt động nhịp nhàng của bơi chèo, dường như chính ông đang tiến lên, sống thuyền chính là ngực ông đã rẽ những đợt sóng dẻo dai từ phía trước vồ tới, và toàn thân ông chòng chành theo sức va đập và xô đẩy của sóng. Cảm giác mình hoà làm một với chuyển động của con thuyền khiến ông đắm mình trong một luồng suy nghĩ kì lạ. Ông hài lòng về con thuyền, thậm chí rất hài lòng là khác, chính ông đã đục đẽo bào gọt nó. Cây phong bị hạ đổ bằng công sưc chung – một người, hay dù là bốn người cũng không hạ nổi cái cây như thế, - nhưng con thuyền do một tay ông làm ra: ba mùa hè ông phơi gỗ và đẽo gọt và ngay hồi đó ông đã biết đây là kayăc tốt nhất trong tất cả các kayăc mà ông đã làm trong đời. Nhưng nghĩ đến điều đó tự dưng ông đâm buồn; nếu như đây là lần cuối cùng trong đời ông thì sao? Ông còn muốn sống thêm nữa. ông còn muốn ra biển săn thú, còn muốn làm một cặp kayăc nữa, chừng nào mắt còn tốt và linh cảm còn nhạy bén. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Nghĩ ngợi như vậy, ông nói chuyện với chiếc thuyền bằng tưởng tượng. “Tao yêu mày và tin mày, chú em kayăc ạ. – ông nói với chiếc thuyền. – Mày biết tiếng của biển, mày biết thói quen của sóng, sức mạnh của mày là ở đấy. Mày là chiếc kayăc do tao làm ra. Mày là chiếc kayăc lớn, mày có thể chứa được hai con chó biển và thêm một con báo biển nữa. Mày đem lại thành công cho chúng tao. Vì thế tao kính trọng mày. Tất cả chúng tao đều yêu mày khi mày vất vả chợ nặng những thứ chúng tao săn bắt được, khi mày trở về, tiến lại gần bờ, lún trong nước đến mấp mé mép thuyền, thậm chí để nước tràn vào. Khi ấy mọi người đều đổ ra bờ biển đón mày, chú em kayăc của tao ạ.
Nếu tao chết, mày hãy hoạt động lâu dài trên biển, hãy tới những nơi xa xăm nhiều con mồi. Nếu tao chết, mày hãy đi biển với những người đi săn trẻ khoẻ. Nếu tao chết, mày hãy phụng sự họ như đã phụng sự tao. Và hãy chờ, chú em kayăc của ta ạ, hãy chờ cho thằng bé kia lớn lên, nó là kẻ nối dõi của chúng ta đấy, nó đang ngồi ở mũi thuyền kia kìa, và đang quay đầu nhìn ngang nghìn ngửa, nóng lòng sốt ruột lắm đấy, - giá như không phải là trên mặt nước, mà trên đất liền thì hẳn là nó sẽ chạy ngay đi thực hiện cuộc săn lớn, một mình nó làm trọn mọi việc, nó vẫn tưởng như thế đấy, - mày hãy chờ cho nó lớn lên, chú em kayăc của tao ạ, để nó và mày cùng nhau đi khắp các nơi xa gần trên biển. Hôm nay nó ra biển lần đầu tiên cùng với chúng tao. Cần phải như thế. Cần cho nó quen đi. Chúng tao rồi sẽ ra đi, còn nó ở lại nhiều năm dài trên cõi đời này. Nó sẽ được như bố nó, như Emrayin, nghĩa là nó sẽ thành thạo người tinh thạo. Chứ không phải là một thắng nói dóc. Emrayin có lẽ là người đi săn giỏi nhất trong những người đi săn hiện nay. Một gã đàn ông cường tráng, tháo vát. Hồi xưa ta cũng như thế. Sung sức tuyệt trần. Hồi ấy phụ nữ yêu ta. Còn về phần ta, ta tưởng đâu đời người không bao giờ hết. Mãi sau này ta mới hiểu rằng không phải như thế. Thanh niên không muốn biết đến điều đó. Như Emrayin và Mưngun chắc hẳn chưa nghĩ đến chuyện đó. Được thôi. Họ sẽ còn được biết. Họ chèo giỏi thật, thành thục lắm. Mưngun xứng với Emrayin. Một cặp đáng tin cậy, dẻo dai. Thuyền đi ung dung như nô dỡn. Nhưng chỉ là nhìn bề ngoài thế thôi. Người ta đi trên biển bằng sức lực đôi tay. Trước mắt là phải chèo, chèo miết! Cõ lẽ hôm nay phải chèo đến tối mịt mới tới đảo Nuốm vú thứ ba. Còn ngày mai, lượt về sẽ mất trọn một ngày. Từ sáng cho đến hết ngày. Ta sẽ lần lượt thay thế cho người này, rồi người kia. Nếu về mà mang theo được thú săn, chúng ta sẽ mở hội ăn mừng. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Mày có nghe thấy không, mày có hiểu tao không, chú em kayăc? Mày thì mày hiểu tao. Mày sẽ đưa chúng tao đến nhóm đảo Ba Nuốm vú, ở đấy sẽ diễn ra cuộc săn lớn. Chúng tao ra biển là để làm việc ấy. Ở đấy, chỗ thú biển nằm nghỉ, chúng tao sẽ gặp một con báo biển. Sắp đến kì sinh đẻ, báo biển tụ họp thành đàn trên các hòn đảo.
Mày hiểu tao chứ, chú em kayăc? Mày thì bao giờ cũng hiểu tao thôi. Tao bắt đầu nói chuyện với mày từ khi mày còn chưa biết biển, khi mày còn sống trong bụng một cây phong khổng lồ trong rừng kia mà. Tao đã giải thoát cho mày khỏi bụng cái cây và bây giờ chúng ta cùng đi trên biển. Khi không còn trên đời, mày đừng quên tao nhé, chú em kayăc của tao. Hãy nhớ đến tao những lúc mày đi trên biển…” Organ nghĩ như thế, đồng thời vẫn căn cứ vào cái mốc chính trên bờ biển là núi Chó Khoang để lái thuyền đi thẳng ra biển. Quả núi tạo thành một vách đá dốc đứng này có một tính nhất dị thường mà tất cả những người đi biển đều nói đến: lúc trời quang đãng, thuyền càng xa thì dường như trái núi càng lớn lên. Dường như Chó Khoang bám sát theo để khỏi bị bỏ rơi. Bất cứ lúc nào ngoảnh lại nhìn, Chó Khoang vẫn ở đấy. Ra xa rất lâu vẫn còn nhìn thấy nó, rồi bỗng nhiên, tới một chỗ cong nào đó của mặt nước, Chó Khoang lập tức biến mất. Như vậy là Chó Khoang đã chạy về nhà, như vậy là đất đã lùi xa về phia sau… Khi ấy cần ghi nhớ, nhớ thật kĩ Chó Khoang rớt lại ở chỗ nào, phía nào vị trí của mặt trời đối với quả núi, phải để ý đến các đám mây nếu trời yên biển lặng, và suốt thời gian đi biển, cho tới khi đến mấy hòn đảo, phải luôn luôn tưởng tượng được vị trí của Chó Khoang để khỏi lạc đường trên mặt biển. Họ đến những hòn đảo cách xa gần một ngày chèo thuyền. Đấy là những đảo hoang nhỏ nhô lên như những nuốm vú giữa nước trời bao la. Bởi vậy những đảo nhỏ ấy được đặt tên là Ba Nuốm vú - nhỏ, nhỡ, lớn. Qua nhóm đảo ấy, nếu cho thuyền đi tiếp thì tức là ra một đại dương vô giới hạn mà họ không biết tên - đấy là Nước vĩnh cửu, vĩ đại, bí ẩn, chưa từng ai qua lại, tự nó sinh ra nó, hằng có từ sáng thế, từ cái thủa vịt Luvrơ vừa kêu càng cạc vừa bay khắp nơi tìm một chỗ nhỏ nhoi để làm tổ - một miếng đất chỉ bằng bàn tay thôi - mà không tìm đâu ra một chỗ như thế trên khắp thế gian. Ở đấy, trên những đảo tại khu vực giáp giới giữa biển và đại dương, vào những ngày xuân ấy có những chỗ báo biển lên nằm trên cạn. Chính vì thế họ ra đi, chính vì thế họ đi về hướng ấy… |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé ngạc nhiên thấy biển hoàn toàn khác, không như nó tưởng tượng khi chơi đùa trên các sườn dốc của núi Chó Khoang, thậm chí không giống như biển khi đi thuyền trong vụng. Nó cảm thấy điều đó đặc biệt sắc bén khi thuyền đã ra khỏi vịnh, khi biển đột nhiên trải rộng ra, choán hết cả không gian nhìn thấy được cho đến tận trời, biến thành một căn bản độc tôn, mênh mông, duy nhất của thế giới.
Biển ngoài khơi khiến thằng bé sửng sốt. Cảnh tượng ấy thật bất ngờ đối với nó. Chỉ có nước - nước chòng chành, nặng nề, chỉ có sóng - sóng nổi lên mau lẹ và lụi đi ngay, chỉ có chiều sâu, chiều sâu tăm tối, đáng lo ngại, chỉ có bầu trời với những đám mây trắng du cư nhẹ bỗng và không thể lên tới được. Đấy là toàn bộ thế giới có thực, và không còn gì hơn, không còn gì khác ngoài cái đó, ngoài chính bản thân biển - không có mùa đông, không có mùa hè, không có gò đống, khe sâu. Nước bao trùm thế gian từ đầu này đến đầu kia. Thuyền vẫn lướt đi, vẫn lên xuống theo sóng. Thằng bé vẫn thích thú và vui sướng được ở trên thuyền, hồi hộp chờ đợi cuộc săn lớn. Tuy nhiên, tất cả những gì nó nhìn thấy và nhận thấy ở trong nước và phía trên mặt nước chỉ để lại trong tâm trí nó ấn tượng thoảng qua, không rõ ràng, phù phiếm, vì tâm hồn nó đang nôn nóng, đang mải chờ đợi những ấn tượng khác. Giá vào lúc khác, hẳn nó sẽ bị lôi cuốn bởi cái trò chơi bất tận của tia sáng trên mặt nước: các tia sáng lướt đi một cách kì quặc trên bề mặt, làm bộ mặt của biển biến đổi hẳn, óng ánh nhiều màu sắc, từ màu tím dịu dàng và xanh lá mạ thẫm cho đến bóng tối đậm trong bóng rợp bên mạn thuyền. Nó rất vui sướng nhìn thấy những con cá kì lạ tò mò vô tình đến cạnh thuyền và nó cười chế nhạo những con cá hồi lưng gù đi cả đàn dầy đặc xô vào những con cá kia, rồi đáng lẽ chạy tản ra thì lại hốt hoảng, càng xúm xít lại với nhau hơn và nhảy lên khỏi mặt nước, lơ lửng trên không trung, rồi rơi ngửa lưng xuống nước, nom đến buồn cười. Tất cả những cái đó chẳng đáng cho nó chú ý lắm: trò vớ vẩn. Nó chỉ khao khát một điều: mau mau đến đảo! Mau mau bắt tay vào việc! Nhưng chẳng bao lâu tâm trạng của thằng bé tự dưng thay đổi một cách kì lạ, tuy nó không biểu lộ ra. Càng rời xa đất liền, đặc biệt khi Chó Khoang bỗng biến mất sau giờ nước cong cong đen sì, thằng bé bắt đầu cảm thấy tất cả sự phụ thuộc của mình vào biển: nó nhỏ bé vô cùng và yếu đuối vô cùng trước cái lực lượng thiên nhiên vĩ đại. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Đối với nó, đây là điều mới mẻ. Bây giờ nó mới hiểu Chó Khoang đối với nó đáng quí biết chừng nào, trước kia chẳng bao giờ nó nhớ tới quả núi này khi nó nhảy nhót trên các sườn núi, từ trên cao ngẵm nhìn biển không có chút gì đe doạ. Bây giờ nó hiểu Chó Khoang mạnh mẽ và tốt bụng đến thế nào, quả núi ấy thật kiên cố và toàn năng ở vị trí của nó.
Bây giờ nó hiểu sự khác nhau giữa đất và biển. Ở trên cạn người ta không nghĩ đến đất. Còn ở trên biển, người ta luôn luôn nghĩ đến biển, ngay cả khi ý nghĩ của ta bận bịu về chuyện khác. Khám phá đó làm thằng bé lo ngại. Biển luôn luôn bắt người ta phải nghĩ đến nó, điều đó ngầm chứa một cái gì bí ẩn, dai dẳng, oai quyền… Nhưng những người lớn vẫn bình tĩnh, Emrayin và Mưngun vẫn ra sức chèo, hết nhịp này đến nhịp khác, đưa mái chèo thật xa về phía sau, rồi hai người như một, cùng cúi đầu khom mình, cùng rướn thẳng lên, dễ dàng thoải mái truyền cho thuyền những lực đẩy đều đặn nối tiếp nhau, khiến thuyền không ngừng tiến lên. Bốn mái chèo cùng chạm mặt nước một lúc, và cùng đẩy một nhịp. Nhưng để được như thế, hai người phải cố gắng liên tục. Kirixk không nhìn thấy mặt hai người. Hai người chèo ngồi quay lưng về phía nó, nhưng nó thấy bả vai họ gồ lên rồi duỗi ra. Chỉ thỉnh thoảng hai người mới trao đổi với nhau một lời. Thực ra, đôi khi ông bố cũng đủ thời giờ ngoảnh lại, mỉm cười với con trai qua chòm râu: “Này, thế nào?..” Họ đi thuyền trên biển như thế. Người lớn bình tĩnh và tự tin. Ông già Organ thì hoàn toàn thản nhiên. Ông vẫn ngồi nguyên vị, mút ống điếu và lái thuyền. Họ cứ đi như thế, mỗi người bận bịu với công việc của mình. Thực ra hai lần Kirixk cũng chèo thuyền, khi thì phụ với Mưngun, khi thì phụ với bố. Hai người vui lòng nhường một mái chèo cho nó. Để cho nó tập một chút. Tuy nó đẩy mái chèo bằng cả hai tay, nó vẫn không chèo được lâu: thuyền quá nặng và mái chèo quá to đối với nó. Nhưng chẳng ai trách nó về điều đó và cũng tỏ ra thương hại nó, mà chỉ lẳng lặng làm việc nhiều hơn. |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Khi Chó Khoang đột nhiên mất dang, không hiểu vì sao mọi người chợt trở lên sôi nổi.
-Chó Khoang trở về nhà rồi! – Bố nó nói. -Ừ, nó về rồi! –Mưngun xác nhận. -Thật ư? Thế là nó về rồi. –Cả ông già Organ cũng nhìn về phía ấy. –Nếu vậy thì tức là công việc trôi chảy. Này, Kirixk. – Ông già nói với thằng bé bằng giọng ranh mãnh. – Cháu thử gọi Chó Khoang xem, may ra nó quay lại chăng? Tất cả đều bật cười, cả Kirixk cũng bật cười. Rồi nó nghĩ một lát và nói to: -Thế thì phải cho thuyền quay trở lại, khi ấy Chó Khoang cũng sẽ trở lại! -Thằng này đối đáp mau lẹ gớm! Organ thốt lên, mỉm cười giễu cợt. Tốt hơn hết là hãy làm việc đi. Đến đây với ông. Nghênh ngó đủ rồi. Nhìn ngắm biển thì biết bao giờ cho cháu. Kirixk rời khỏi chỗ của mình ở mũi thuyền, bắt đầu lần bước đi về đắng lái, bước qua những vật ở đáy thuyền: cặp súng Winsextơ bọc trong tấm da hươu, cái lao móc, cuộn thừng một, thùng nước nhỏ, cái bao đựng thực phẩm, những gói bọc gì không rõ và đống quần áo. Men theo thành thuyền, qua chỗ những người chèo thuyền, bước qua các mái chèo, thằng bé cảm thấy mùi mồ hôi đàn ông và mùi thuốc lá hăng nồng tảo ra từ những cái gáy và những tầm lưng ướt đẫm. Chính cái mùi quần áo bố và mẹ thường thích ngửi khi bố đi biển: mẹ cầm tấm áo da cũ của bố lên và áp mặt vào. Bố gật đầu với con trai, khẽ hích vai vào sườn nó, nhưng không buông mái chèo. Song Kirixk không hề đáp ứng sự âu yếm bột phát của bố, không hề chậm lại chút nào. Quái gi! Ở biển mọi người đều ngang bằng nhau. Trên biển không có bố con gì hết. Trên biển chỉ có người cao tuổi nhất. Không được người đó ưng thuận thì không làm được làm gì hết… |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
-Ngồi xuống, ngồi cạnh ông đây này, -Organ chỉ chỗ cho thằng bé, vươn cánh tay dài sần sùi chạm vào vai nó. –Hình như cháu hơi em sợ phải không? Lúc đầu thì thường thôi, rồi sau thì…
Kirixk bối rối: như vậy là ông già Organ đã đoán ra. Nhưng nó vẫn bác lại thẳng thừng: -Không phải đâu, atkưtskhơ (1) ạ, cháu chẳng e sợ chút nào! Việc quái gì cháu phải sợ. -Có gì là lạ, lần đầu tiên ra biển à? -Lần đầu tiên thì có làm sao kia chứ? –Kirixk không chịu. –Cháu chẳng sợ tí nào hết. -Thế thì khó đấy. Còn ông thì khi ra biển lần đầu, chuyện ấy cũng đã lâu lắm rồi, thú thực là ông hốt. Ông nhìn thì thấy bờ đã biến mất từ lâu rồi và Chó Khoang đã chạy đi đâu mất. Xung quanh chỉ những sóng là sóng. Ông bỗng muốn trở về nhà. Này cháu thử hỏi Emrayin và Mưngun xem họ thì thế nào? Để đáp lại, hai người kia mỉm cười tỏ ra hiểu ý, gật đầu và vẫn dấn táy chèo. -Nhưng mà cháu thì không! –Kirixk vẫn khăng khăng một mực. -Nếu vậy thì cừ khôi lắm! –Ông già nói cho nó yên tâm. –Còn bây giờ cháu hãy nói cho ông biết Chó Khoang hiện ở phía nào? Bị hỏi bất ngờ, Kirixk ngẫm nghĩ rồi giơ tay chỉ. -Đằng kia! -Cháu có chắc không? Tay cháu hơi run rồi đấy. Cố giữ cho tay khỏi run, thằng bé trỏ một cách rụt rè, hơi chếch về bên phải một chút. -Ở đấy! -Lần này thì đúng! –Organ đồng ý. –Nhưng nếu kayăc quay mũi về phía này thì Chó Khoang ở đâu? -Ở đằng này! -Nếu gió xoay chúng ta về phía này thì sao? -Thì nó ở phía này! -Nếu chúng ta cho thuyền đi về bên trái? -Thì nó ở phía này! -Tốt, bây giờ hãy nói cho ông biết cháu tìm ra bằng cách nào? Vì mắt chẳng nhìn thấy gì xung quanh, xung quanh, toàn là nước kia mà? –Organ căn vặn. –Cháu có thể nói rõ được không? -Cháu còn có cặp mắt khác, -Kirixk trả lời. -Mắt gì? -Cháu không biết là mắt gì. Nó ở trong bụng cháu, chắc thế, nó không nhìn mà vẫn thấy. -Ở trong bụng! –Mọi người phá lên cười. -Cũng đúng nốt. –Cụ Organ lên tiếng. –Có những cặp mắt như thế. Có điều nó không ở trong bụng mà nó ở trong đầu. Lát sau, ông già lại bắt đầu thử thách Kirixk và khi đã thấy rõ nó có khả năng nhớ phương hướng ở biển, ông già hài lòng. -Ờ, cặp mắt trong bụng của cháu cũng khá đấy. –Ông lẩm bẩm. Hể hả vì được khen, Kirixk bắt đầu tự ra bài tập cho mình và tìm câu trả lời. ----------------- (1) atkưtskhơ: ông |
Con chó khoang chạy ven bờ biển - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Hiện thời, khi biển tương đối yên tĩnh, điều đó không có gì khó khăn lắm. Chó Khoang to lớn và trung thành lần nào cũng đáp ứng không hề đơn sai –không bắt trí nhớ người ta phải cố gắng đặc biệt, Chó Khoang xuất hiện trước cái nhìn bên trong của Kirixk chính ở phía mà nó đã ở lại, dường như nó hiện ra ngay trước mắt với tất cả hình thù đồ sộ của mình, với những vệt tuyết trên “đầu” và ở “háng”, với sóng nhào vỗ ầm ầm không hề biết mệt mỏi, không bao giờ dứt dưới chân vách đá. Hình dung thấy Chó Khoang, thằng bé không thể không nghĩ đến những núi trọc khác xung quanh và tự dưng nó bắt đầu nghĩ tới nhà nó. Nó thấy cái lũng nhỏ ở giữa những ngọn đồi ven bờ, và trong cái lũng ấy, ở ven rừng, trên bờ một con sông nhỏ là một khu trại du cứ. –những vách gỗ, những kho chứa bột, chó, gà, giàn phơi cá, khói bếp, tiếng nói và ở đấy có mẹ thằng bé và em gái nó là Pơxunk. Nó như thấy trước mắt cả mẹ và em cùng những việc mẹ và em đang làm lúc này. Cố nhiên mẹ thầm nghĩ đến nó và bố nó, nghĩ đến tất cả bốn người đi săn trên biển. Đúng, chắc hẳn lúc này mẹ đang nghĩ đến những người đi trên thuyền. Bà nghĩ về họ và rất sợ ma quỉ đoán được ý nghĩ của bà, biết được nỗi sợ của bà. Và nếu còn người nào nghĩ về nó thì chắc chắn là Muzơluc. Muzơluc có lẽ đã chạy tới, làm như đến chơi với Pơxunk. Mẹ có thể mắng cô bé, nếu cô vô ý nói thành tiếng hay hỏi về nó lúc này đã ra biển. Mẹ nhất định sẽ quở mắng cô bé: “Cháu nói lăng nhăng cái gì thế? Cháu lại không biết anh ấy vào rừng lấy gỗ sao?”. Cô bé chợt nhớ ra, im bặt, ngượng ngùng. Thấy thế, Kirixk thương cô bé. Nó muốn Muzơluc nghĩ đến nó, nhưng nó chẳng muốn tại nó mà Muzơluc bị trách móc.
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:10. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.