![]() |
Bình Thuận-Phan Thiết trong Wikipedia tiếng Nga
Trích:
Em sẽ dựa trên cơ sở Wiki tiếng Việt và bổ sung trên cơ sở "Địa chí Bình Thuận" và một số nguồn khác. Trước mắt em sẽ viết về Bình Thuận, sau đó em sẽ lần lượt viết về Phan Thiết, Mũi Né/Hàm Tiến và một số vùng khác có những danh lam thắng cảnh du lịch, bác nhé! http://i964.photobucket.com/albums/a...nzo/diachi.jpg http://i964.photobucket.com/albums/a...ibinhthuan.jpg Bình Thuận Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ Việt Nam, ở vào tọa độ địa lý từ 10°33′42″B đến 11°33′18″B, từ 107°23′41″Đ đến 108°52′42″Đ với bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná (Ninh Thuận) đến bãi bồiBình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu). Phía bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tỉnh lỵ của Bình Thuận là thành phố Phan Thiết cách thủ đô Hà Nội 1.532km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 198 km về phía Bắc. Mục lục [ẩn] • 1 Diện tích • 2 Dân cư • 3 Hành chính • 4 Bình Thuận thuộc vùng nào? • 5 Địa hình • 6 Khí hậu • 7 Giao thông o 7.1 Đường bộ o 7.2 Xe buýt • 8 Điện năng • 9 Cung cấp nước • 10 Lịch sử • 11 Bề dày văn hoá • 12 Kinh tế o 12.1 Thủy sản o 12.2 Nông - Lâm nghiệp o 12.3 Khoáng sản o 12.4 Du lịch • 13 Danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - văn hóa o 13.1 Danh lam thắng cảnh o 13.2 Di tích lịch sử - Văn hóa • 14 Kết nghĩa • 15 Những cái nhất • 16 Hình ảnh • 17 Chú thích • 18 Liên kết ngoài [sửa]Diện tích Tổng diện tích: 7.828 km² Chiều dài bờ biển: 192 km Diện tích vùng lãnh hải: 52.000 km² Diện tích qua các thời kỳ: 1991 (số liệu Tổng cục Thống kê): 7.892 km² 1994-1998: 7.992 km² 1999 (Tổng điều tra dân số): 7.828 km² 2001 7.892 km² 2004: 7.828,4 km² 2005: 7.830,47 km² [sửa]Dân cư Dân số: 1.169.450 người (điều tra dân số 01/04/2009) Mật độ: 149 người/km² Số nam: 590.671 người; số nữ: 578.779 người Thành thị: 460.800 người; nông thôn: 708.650 người Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh; tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra Glai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết), Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường. Dân số qua các thời kỳ: 1991 (số liệu Tổng cục Thống kê): 812.547 người 1992: 830.000 người 1993: 858.700 người 1994: 882.200 người 1995: 924.500 người 1996 (số liệu Tổng cục Thống kê): 951.700 người 1997: 963.700 người 1998: 1.047.400 người 1999 (Tổng cục Thống kê): 1050.900 người (trung bình năm) 2000 (Tổng cục Thống kê): 1065.900 người 2001: 1.079.700 người 2002: 1.096.700 người 2003: 1.120.000 người 2004 (Tổng cục Thống kê): 1.135.900 người (trung bình năm) 2005: 1.157.332 người (trung bình năm) 2007: 1.170.700 [1] [sửa]Hành chính Hiện nay Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Phan Thiết 15 phường và 4 xã Thị xã La Gi 5 phường và 4 xã Huyện Tuy Phong 1 thị trấn và 11 xã Huyện Bắc Bình 2 thị trấn và 15 xã Huyện Hàm Thuận Bắc2 thị trấn và 14 xã Huyện Hàm Thuận Nam1 thị trấn và 12 xã Huyện Tánh Linh 1 thị trấn và 13 xã Huyện Hàm Tân 2 thị trấn và 8 xã Huyện Đức Linh 2 thị trấn và 11 xã Huyện đảo Phú Quý 3 xã Bình Thuận có 125 xã, phường và thị trấn [sửa]Bình Thuận thuộc vùng nào? Hiện nay, đa số sách báo, trong đó có các sách giáo khoa, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đều xếp Bình Thuận vào vùng duyên hải Nam (hoặc cực Nam) Trung Bộ. Riêng Tổng cục Thống kê Việt Nam (và một số tài liệu lấy số liệu của Tổng cục Thống kê) lại xếp Bình Thuận cùng Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ[2]. Xét về mặt lịch sử (xem phần dưới) thì Bình Thuận chỉ được xếp vào Nam Kỳ trong thời gian khoảng 1 năm (1883-1884), sau đó lại trả về Trung Kỳ cho tới nay. Website của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam cũng xếp 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ trong số liệu thống kê vùng Đông Nam Bộ[3], nhưng ở phần khác lại xếp Bình Thuận và Ninh Thuận vào "vùng Duyên hải miền Trung", tách biệt với Đông Nam Bộ[4] [sửa]Địa hình Địa hình Bình Thuận bao gồm 4 dạng cơ bản: núi thấp, gò đồi, đồng bằng, đồi cát và cồn cát ven biển. Ngoài khơi có một số đảo, trong đó có 10 đảo của huyện đảo Phú Quý, cách thành phố Phan Thiết 120 km. Trên địa bàn tỉnh có một số núi cao như: Đa Mi (1.642 m), Dang Sruin (1.302 m), Ông Trao (1.222 m), Gia Bang (1.136 m), núi Ông (1.024 m) và Chi Két (1.017 m). Một số nhánh mũi chạy ra sát biển tạo nên các mũi La Gàn, Kê Gà, Mũi Né, Hòn Rơm và Mũi Nhỏ. Là một dải đất hẹp nằm dọc cuối dãy Trường Sơn và duyên hải miền Trung, tỉnh Bình Thuận có sự phân hóa rõ nét về địa hình theo lãnh thổ và theo hình thái. 1.Về lãnh thổ: Theo chiều Bắc-Nam, Bình Thuận chia thành 3 khu vực: - Từ biên giới phía Bắc đến các đồng bằng đồi Bắc Bình là khu vực núi nâng địa lũy bị kẹp giữa các đứt gãy theo phương Tây Bắc-Đông Nam với biên độ nâng hạ 1.000m. - Ở giữa, từ Bắc Bình đến Phan Thiết chủ yếu là đồng bằng đồi, độ cao tuyệt đối không quá 500m ngăn cách với biển bởi các cao nguyên đất đỏ hình bán nguyệt. - Phía Nam, phần lãnh thổ còn lại của tỉnh, địa hình có nét gần giống với miền Đông Nam bộ, chủ yếu là đồng bằng bào mòn và đồi thoải; cũng có nhiều đồi núi sót lại có độ cao trên 500m. Theo chiều Đông-Tây, vuông góc với biển, sự phân hóa địa hình theo quy luật nâng bậc. Từ vùng đất giáp tỉnh Lâm Đồng xuống biển, có thể thấy các bậc từ 1.600 – 1.400m, 1.100 – 900m, 600 – 100m, 250 – 200m, 150 – 100m, 70 – 50m, 30 – 20m, 15 – 10m, 3 – 2m và dưới 2m. Các khối cát đỏ Phan Thiết và vùng trũng giữa núi Tánh Linh gây nên tính bất thường về sự phân bậc này. (Còn tiếp...) Các bác cho ý kiến, xem em viết theo sườn bài như thế có được không? Phần bổ sung là phần em bôi đậm. |
Trích:
Nhiệt liệt hoan nghênh! Làm nhanh kẻo dính vụ cưới xin thì bế tắc! :emoticon-0136-giggl |
Trích:
Trong Viki tiếng Nga chỉ có các tỉnh, thành phố này của ta: Ханой — столица Бьенхоа Винь Вунгтау Далат Дананг Кантхо Куангчи Куинён Лонгсюен Митхо Намдинь Нячанг Ратьзя Тхайнгуен Фантхьет Хайфон Хонггай Хошимин Хюэ http://ru.wikipedia.org/wiki/Города_Вьетнама Đa số không hoàn chỉnh, có sai sót hoặc khiếm khuyết... VD trang về tỉnh Quảng trị chỉ có 7 dòng: http://ru.wikipedia.org/wiki/Куангчи_(город) Vì vậy chúng ta đưa mục viết thêm và viết bổ sung cho các tỉnh, thành phố vào kế hoạch chung. Bác nào thấy cần viết cho tỉnh, thành phố nào thì xin đăng ký ! Riêng tôi và các bác ở topic HUẾ THƯƠNG sẽ kiện toàn bài về thành phố Huế. |
Trích:
2.Về hình thái: Tỉnh Bình Thuận có nhiều kiểu, nhiều dạng địa hình khác nhau, được khái quát trong các vùng đất sau đây: a) Vùng núi (chiếm 40,70% diện tích tự nhiên): Có những dãy núi của Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam; một vài chỗ vươn ra những mạch ngang, có nơi ra đến sát biển. Phần lớn là núi trung bình (cao từ 750m đến 1.400m) và núi thấp (dưới 750m). Núi trung bình tập trung chủ yếu ở các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Tánh Linh; có các núi như Drenau (Bắc Bình) 1.130m, Gheretak (Hàm Thuận Bắc) 1.167m, Rang Sa (Đức Linh) 1.186m, B’nom Hu (Đức Linh) 1.186m, Paran (Tánh Linh) 1.205m, Ông Trao (Hàm Thuận Bắc) 1.222m, Dang Sa-lin (Hàm Thuận Bắc) 1.279m, Ông (Tánh Linh) 1.302m, B’nom Dang lu (Đức Linh) 1.339m… Cũng có những ngọn núi cao hơn 1.500m như: Hỏa Diệm (Tuy Phong) 1.533m, B’nan Srung (Đức Linh) 1.545m, B’nom M’Hai (Đức Linh) 1.642m. Núi thấp chiếm diện tích khá lớn, nằm rải rác trong tỉnh, phân bố ở phía Bắc Tuy Phong, Bắc Bình và Hàm Thuận Bắc, Phan Thiết. Có thể kể một số hòn núi thường gặp như Nạng 237m, Bà Đặng 245m, Bàu Thiêu 310m, Tà Zôn 386m, Cà Tong 506m, Nhọn 569m, Tà Cú 694m v. v… Núi của Bình Thuận có đặc điểm là đỉnh thường rộng, sườn khá dốc, địa hình sói mòn. Phần lớn các núi thấp sót nổi trên mặt đồng bằng hoặc gò đồi mà dân gian gọi là “núi một” hay “núi mồ côi”. b) Vùng đồi gò (chiếm 33,66% diện tích tự nhiên): Bao gồm địa hình có độ cao từ 200 tới trên 500m. Phụ thuộc vào độ cao tuyệt đối, các đồi được chia thành: đồi trên núi (cao trên 500m), đồi cao (200-500m), đồi thấp (dưới 200m). Đồi trên núi tập trung ở Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, phía Bắc sông La Ngà ( Tánh Linh, Đức Linh). Đồi cao thường là những khu vực địa hình thấp nằm xen giữa các khối núi, có dạng lượn sóng, dễ thấy ở các huyện Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh… (chỉ trừ Phan Thiết và Hàm Tân là không có). Đồi thấp có vị trí trung gian gian giữa địa hình núi và địa hình đồng bằng. Đáng chú ý là kiểu đồi cao 100-250m phát triển trên cát đỏ, có nguồn gốc hỗn hợp của biển và gió. Nằm dọc ven biển, đồi bị biển mài mòn tạo nên vách cao hàng chục mét. Địa hình đồi gò nhìn chung phân bố khá rộng khắp tỉnh, nó bị các dãy núi chạy ngang ra biển hoặc các dòng sông chia cắt ra làm nhiều vùng khác nhau. Do quá trình bình nguyên bị bào mòn, nên các khối đá lộ ra khỏi mặt đất, ló đầu rải rác hoặc tập trung ở một số nơi. Nhưng các gò trơ lại cao không quá 2m so với mặt phẳng của địa hình. c) Vùng đồng bằng (chiếm 9,43% diện tích tự nhiên) : phân bố dọc theo ven biển. Đồng bằng Phan Thiết-Hàm Thuận có diện tích lớn nhất tỉnh. Nơi đây có đất cát chen lẫn các dải phù sa với độ phù sa khá lớn. Đồng bằng Tuy Phong nhỏ hẹp hơn và mức độ chênh lệch với bề mặt đất đai không cao. Đặc biệt, Bình Thuận có đồng bằng thung lũng La Ngà (Tánh Linh) rộng và tương đối bằng phẳng, độ dốc thường nhỏ. Sông suối chảy trong đồng bằng này thường xuyên bị đổi dòng, tạo nên nhiều khúc cụt dạng hình móng ngựa. Gờ sông nổi lên thành những đường viền rõ rệt cao hơn bề mặt đất nói chung. Tuy xa sông, vùng đất này gần như ngập nước quanh năm, những nơi thấp thường có nhiều vệt than bùn chưa tan rửa hết hoặc đọng nước lại thành những bàu, hồ lớn như Bàu Cát (Gia An, Tánh Linh), Bàu Loan (Đức Thuận, Tánh Linh), Bàu Sen (ĐaKai, Đức Linh), có 200ha và nhất là Biển Lạc (Tánh Linh) rộng 280ha. d) Vùng đồi và cồn cát ven biển (chiếm 15,22% diện tích tự nhiên) : Các đồi cát và cồn cát phân bố từ Tuy Phong đến Hàm Tân (1) vùng rộng nhất là Tây Nam Bắc Bình, chạy dọc theo hướng Đông Bắc-Tây Nam dài khoảng 52km và rộng 20km. Địa hình vùng này không được bằng phẳng, phần nhiều là những đồi lượn sóng. Một số nơi có các đồi cát di động do sự xói mòn của gió gây nên. Vùng cát ở sát ven biển, thường chịu sự tác động của giớ, sóng nên vun lên thành những động (đụn) cao. Xen vào vùng này có kiểu địa hình lòng chảo trên khối cát đỏ lớn hoặc đọng lại những bàu nước mà tiều biểu là Bàu Trắng (Bắc Bình) có diện tích 90ha. 3.Sông – Biển: Sông: Bắt nguồn từ vùng rừng núi phía Bắc và phia Tây của tỉnh, chảy qua địa phận Bình Thuận có 7 con sông chính; chỉ trừ mỗi sông La Ngà, còn tất cả các dòng đều chảy ra biển Đông. - Sông Lòng Sông dài 50km, chiều dài lưu vực 45km với diện tích lưu vực 511km2; chảy ra vũng Liên Hương (Tuy Phong). - Sông Lũy dài 98km, chiều dài lưu vực 61,5km với diện tích lưu vực 1.910km2; chảy qua huyện Bắc Bình và xuôi ra cửa biển Phan Rí Cửa (Tuy Phong). - Sông Cái (sông Quao) dài 71km, chiều dài lưu vực 88km với diện tích lưu vực 1.050km2; chảy trên địa phận huyện Hàm Thuận Bắc và đổ ra cửa Phú Hài (Phan Thiết). - Sông Phan Thiết (sông Mường Mán) dài 56km, chiều dài lưu vực 45km với diện tích lưu vực 753km2; chảy qua đất Hàm Thuận Bắc có đoạn cuối sông mang tên Cà Ty xuôi ra cửa biển Cồn Chà (Phan Thiết). - Sông Phan dài 58km, chiều dài lưu vực 55km với diện tích lưu vực 582km2; chảy từ Tánh Linh ra cửa Tân Hải (Hàm Tân). - Sông Dinh dài 58km, chiều dài lưu vực 61.5km với diện tích lưu vực 904km2; chảy từ Tánh Linh về Hàm Tân, ra cửa La Gi. - Sông La Ngà dài 272km, chiều dài lưu vực 160km với diện tích lưu vực 4.170km2; chảy qua đất Tánh Linh và Đức Linh, đổ ra sông Đồng Nai. Phần nhiều các con sông nói trên là những dòng ngắn hẹp (nơi rộng nhất của sông Lũy, sông Phan Thiết chỉ chừng 200m); độ dốc cao nên khi có mưa to thì nước chảy siết và đến mùa nắng thì lòng sông trở nên khô cạn. Không thuận tiện để mở giao thông đường thủy, sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Biển: Với bờ biển dài 192km và lãnh hải rộng 52.000km2, Bình Thuận có vị trí kinh tế, du lịch khá đặc biệt của một khu vực biển phía Nam Việt Nam. Dọc bờ biển có 4 vịnh lõm vào là Cà Ná-Vĩnh Hảo, La Gàn, Phan Thiết và 5 mũi đá nhô ra là La Gàn, Duồng, Mũi Nhỏ, Mũi Né, Mũi Khe Gà. 4 đảo nhỏ gần bờ là Cù lao Câu, Hòn Nghề, Hòn Lao, Hòn Bà và một đảo lớn nhất là đảo Hòn tức Cù lao Thu nay là huyện đảo Phú Quý với diện tích 32km2, ở cách đất liền 56,6 hải lý. Ven biển có 9 của biển, trong đó có 3 cửa do các mũi tạo nên là La Gàn, Duồng, Mũi Né và 6 cửa do các sông tạo nên là Liên Hương, Phan Rí, Phú Hài, Cồn Chà, Tân Hải, La Gi. Ngoài khơi còn có 2 cửa biển tại đảo Phú Quý là Tam Thanh và Long Hải. Đáy biển cấu tạo địa hình đa dạng: ở phía Bắc biển sâu và tiếp cận đáy đại dương, phía Nam biển nông dần trên diện tích rộng, có nhiều nơi rạn. Du khách đến Bình Thuận sẽ gặp nhiều mũi đá, đồi cát nhô ra biển tạo nên những bãi, gành đẹp như: Khe Gà, Khe Cả, Quán Thùng, Ngọc Lâm, Đá Ông Địa, Rạng, Hòn Rơm, Suối Nước… Hầu như nơi nào dọc sát bờ biển đều có nguồn nước ngọt nhỉ quanh năm. Hầu hết các cửa biển ở Bình Thuận không sâu, không lớn, luồng lạch thường bị bồi cạn, không thuận tiện cho tàu thuyền có tải trọng lớn ra vào. P/s: Có một vài đoạn, em xét thấy văn phong có lẽ không phù hợp khi đưa lên Wiki. Thế nên em có chỉnh sửa, lược bỏ những câu, từ không cần thiết để cô đọng hơn. Hy vọng sẽ không bị xem là... trích sai! Ví dụ: "...đặc biệt của một khu vực biển phía Nam nước ta", em sửa lại là "... đặc biệt của một khu vực biển phía Nam Việt Nam". |
(tiếp theo Wiki về Bình Thuận-Phan Thiết)
Khí hậu: Tỉnh Bình Thuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình: 27 °C Lượng mưa trung bình: 1.024 mm Độ ẩm tương đối: 79% Tổng số giờ nắng: 2.459 Giao thông: Đường bộ: Là tỉnh nằm trên trục giao thông trọng yếu Bắc - Nam, hiện nay, Bình Thuận có ba tuyến quốc lộ chạy qua, tất cả đều đã được nâng cấp, mở rộng hoàn toàn. Quốc lộ 1A xuyên Việt (chiều dài đi qua tỉnh là 178 km) Quốc lộ 55 đi Bà Rịa - Vũng Tàu Quốc lộ 28 từ thành phố Phan Thiết đi huyện Di Linh của tỉnh Lâm Đồng. Các tuyến đường đến các trung tâm huyện, xã, vùng núi và các vùng kinh tế quan trọng khác cũng đang được chính quyền địa phương huy động các nguồn vốn để đầu tư nâng cấp, mở rộng và kéo dài thêm đảm bảo cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân. Đường sắt Bắc - Nam qua tỉnh với chiều dài 190 km và qua 11 ga, quan trọng nhất là ga Mương Mán. Trong thời gian tới, tỉnh sẽ xây mới ga Phan Thiết nhằm phục vụ du lịch. Đường biển: Là một tỉnh duyên hải có vùng biển rộng, bờ biển dài 192 km, có hải đảo và nằm cạnh đường hàng hải quốc tế. Hiện tại, cảng biển Phú Quý đã xây dựng xong, tiếp nhận tàu 10.000 tấn ra vào. Cảng Phan Thiết đang được xây dựng tiếp nhận tàu 2.000 tấn. Đường hàng không: Để phục vụ nhu cầu đi lại, nhất là đối với khách du lịch, nhà đầu tư ngày càng nhiều, tỉnh Bình Thuận đang kêu gọi đầu tư để khôi phục lại sân bay Phan Thiết. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Bình Thuận Xe buýt: Hiện đang hoạt động các tuyến: 1. Tiến Lợi - Mũi Né - Hòn Rơm 2. Tiến Lợi - Ma Lâm - Hàm Trí 3. Phan Thiết - Phú Long - Ngã ba Gộp - Lương Sơn 4. Tà Cú - Phan Thiết - Phú Long 6. Phan Thiết - Kê Gà - Tân Thành 7. Phan Thiết - Mương Mán - Hàm Cần 8. La Gi - Tân Hải - Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) Điện năng: Có 3 nguồn điện chính: Từ nhà máy thủy điện Đa Nhim qua lưới truyền tải 110 KV Từ nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi qua lưới truyền tải 110 KV Trạm phát điện diesel 3800 KW Đang xây dựng thử nghiệm nhà máy phong điện (năng lượng điện từ sức gió) tại huyện Tuy Phong[5]. Trong đó, cung cấp điện cho khu vực thành phố Phan Thiết có trạm biến áp trung tâm Phan Thiết công suất 50 MVA, và sẽ được nâng cấp mở rộng lên 80-100 MVA. Hệ thống lưới điện tại Thành phố Phan Thiết cũng đang được nâng cấp cải tạo, đáp ứng đủ các nhu cầu khu dân cư và khu công nghiệp Phan Thiết. Cung cấp nước: Nhà máy nước Phan Thiết có công suất 25.000 m³/ngày đêm, hiện đang nâng cấp, mở rộng hệ thống đường ống bằng nguồn vốn ADB, đảm bảo đáp ứng đủ các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Tại các huyện đều có trạm cấp nước quy mô nhỏ 500-2000 m³/ngày đêm. Lịch sử: Đất Bình Thuận nguyên thuộc nước Nhật Nam ngày xưa, sau là đất của Chiêm Thành. Vì chiến tranh liên miên nên Chiêm Thành mất dần đất đai. Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh chiếm đất Phan Lang (sau gọi là Phan Rang), và chỉ để lại mảnh đất phía Tây cho Chiêm Thành. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy luôn mảnh đất còn lại đặt tên là Thuận Phủ và năm 1694 đặt là Thuận Thành trấn. Năm 1697: Lập Bình Thuận phủ gồm 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Sau cải thành Bình Thuận Dinh. Đời vua Gia Long vẫn giữ Bình Thuận dinh, đến vua Minh Mạng đổi lại Bình Thuận phủ. Năm 1827: Minh Mạng đặt ra hai phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận và hai huyện Tuy Phong và Tuy Định. Bình Thuận được đặt thành tỉnh và giao cho quan Tuần phủ Thuận Khánh kiêm nhiệm luôn tỉnh Khánh Hòa. Năm 1883: Hòa ước ký với Pháp (ngày 23 tháng 7) sáp nhập Bình Thuận vào Nam Kỳ. Năm 1884: Hòa ước Patenôtre (ngày 6 tháng 6) lại đưa Bình Thuận về Trung Kỳ. Năm 1888, vua Đồng Khánh chuyển phủ Ninh Thuận vào Khánh Hòa. Năm 1900, vua Thành Thái đặt huyện Tuy Lý và lấy huyện Tánh Linh trước thuộc Đồng Nai Thượng sáp nhập vào Bình Thuận. Năm 1905: Phủ Di Linh được nhập vào Bình Thuận. Năm 1955 -1975:chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chia Bình Thuận làm 8 Quận: Hàm Thuận, Phú Quý, Thiện Giáo, Hải Long, Hải Ninh, Hòa Đa, Tuy Phong và Phan Lý Chàm. Năm 1976: Bình Thuận sáp nhập với Bình Tuy và Ninh Thuận thành tỉnh Thuận Hải. Đến tháng 4 năm 1992, Thuận Hải lại chia ra thành hai tỉnh riêng: Bình Thuận và Ninh Thuận. Quyết định chia tách ghi ngày 26 tháng 12 năm 1991. Bình Thuận bây giờ vẫn bao hàm cả Bình Tuy (huyện Hàm Tân bây giờ). Bề dày văn hoá: Bình Thuận có bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời, nhất là văn hoá Chăm pa với nhóm di tích Tháp Po Sah Inư, đền thờ Po Klong Mơhnai và hơn 100 bảo vật hoàng tộc Chăm nguyên gốc quý hiếm được bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ vua Chăm lưu giữ, trong đó có vương miện, áo bào, hia hài, vòng xuyến của vua và hoàng hậu. Người Chăm là một trong những người đầu tiên phát hiện ra công dụng của nước khoáng Bình Thuận. Họ đã dùng nước khoáng này chữa bệnh và chế nước thơm rửa tượng thánh. Bằng nước khoáng Bình Thuận, vào thế kỷ 13, người Chăm đã chữa khỏi bệnh phong cho vua Chế Mân của họ. Công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần và cũng là hoàng hậu của vua Chế Mân rất ngạc nhiên về sự màu nhiệm, huyền bí của suối nước này nên đã đặt tên suối là Vĩnh Hảo (nghĩa là "đời đời tốt đẹp"). Người Pháp cũng khai thác nước khoáng Vĩnh Hảo từ năm 1920. Đến nay, nước khoáng Vĩnh Hảo đã nổi tiếng trong nước và đang từng bước vươn ra xuất khẩu trên thị trường các nước trong khu vực và thế giới. Kinh tế: Theo sự sắp đặt về kinh tế, hiện nay, Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Phần đất liền của Bình Thuận nằm trong giới hạn 10°35'-11°38' Bắc và 107°24'-108°53' Đông. Thủy sản: Nhiều sông suối bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh thuộc Lâm Đồng đã chảy qua Bình Thuận để ra biển. Tính chung, các đoạn sông qua Bình Thuận có tổng chiều dài 663 km, trong đó cósông Cà Ty (76 km), sông La Ngà (74 km), sông Quao (63 km), sông Lòng Sông (43 km), sông Phan (40 km), sông Mao (29 km) và sông Luỹ (25 km). Bình Thuận có vũng lãnh hải rộng 52 nghìn km² nên Bình Thuận là một trong ba ngư trường lớn của Việt Nam trữ lượng khai thác đánh bắt hải sản đạt 240.000 tấn hải sản các loại, là điều kiện chế biến thủy sản xuất khẩu. Sò điệp là đặc sản của biển Bình Thuận, tập trung ở 4 bãi chính là: La Khế, Hòn Rơm, Hòn Cau và Phan Rí, cho phép đánh bắt 25-30 nghìn tấn/năm. Nông - Lâm nghiệp: Tỉnh Bình Thuận có 151.300 ha đất canh tác nông nghiệp, trong đó có trên 50.000 ha đất lúa. Sẽ phát triển thêm 100.000 ha đất sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi gia súc, gia cầm khá phát triển. Đang đầu tư để hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả với: 10.000 ha thanh long 30.000 ha điều 15.000 ha bông vải 20.000 ha cao su 2.000 ha tiêu Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để phát triển các ngành công nghiệp chế biến từ cây công nghiệp, lương thực, thực phẩm... Với diện tích 400.000 harừng và đất lâm nghiệp, trữ lượng gỗ 25 triệu m³ và thảm cỏ là tiền đề thuận lợi để lập các nhà máy chế biến gỗ và phát triển các trang trại chăn nuôi đại gia súc và lập nhà máy chế biến thịt bò, heo... Trong vài năm trở lại đây, diện tích cây điều bị sụt giảm đáng kể do giá hạt điều bị giảm, cây thanh long và cây cao su liên tục tăng diện tích. Khoáng sản: Tỉnh Bình Thuận có nhiều loại khoáng sản với trữ lượng lớn: Nước khoáng thiên niên bicarbonat: hơn 10 mỏ trữ lượng cao, chất lượng tốt (trong đó có cả mỏ nước khoáng nóng 700 độ C) có thể khai thác trên 300 triệu lít/năm. Trong đó, 2 mỏ đang được khai thác và kinh doanh đó là Vĩnh Hảo và Đa Kai. Cát thủy tinh: 4 mỏ ở Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình và Hàm Tân với trữ lượng trên 500 triệu m³, chất lượng đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu, phù hợp để sản xuất thủy tinh cao cấp, kính xây dựng, gạch thủy tinh. Đá granít: trữ lượng rất lớn, phân bố khắp nơi. Sét bentonit: dùng trong công nghiệp hóa chất và khai thác dầu mỏ, trữ lượng khoảng 20 triệu tấn. Quặng Sa khoáng nặng để sản xuất titan, zircon, trữ lượng khoảng một triệu tấn. Tại Vĩnh Hảo có diện tích trên 1.000 ha, sản lượng 150.000 tấn/năm... Zircon 4 triệu tấn dẫn đầu cả nước về trữ lượng này. Dầu khí đang được xem là thế mạnh kinh tế mới của tỉnh Bình Thuận, với nhiều mỏ dầu có trữ lượng lớn đã được phát hiện cách đất liền 60 km; có 3 mỏ dầu Rạng Đông, Sư Tử Đen và Rubi đang khai thác. Hai mỏ: Sư Tử Trắng và Sư Tử Vàng chuẩn bị khai thác. Chính phủ và các bộ, ngành trung ương đang quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp dầu khí tại Bình Thuận để hình thành trung tâm dự trữ dầu mỏ nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và xuất khẩu. Du lịch: A- Khái quát tiềm năng du lịch Bình Thuận: Tỉnh Bình Thuận có bờ biển dài 192km. Phía Đông là biển Đông, có nhiều cù lao gần bờ, có gành đá, mũi đá đẹp, những thắng cảnh tự nhiên hấp dẫn: Gành Son, Giếng Tiên, rừng đưa bãi rạng… Phía Tây có những ngọn núi một giữa đồng bằng tiếp nối với cuối dãy Trường Sơn, có thung lũng La Ngà, vùng bảo tồn thiên nhiên Biển Lạc-Núi Ông. ở giữa là dải đồng bằng có những đình, chùa cổ kính của người Việt, đền tháp của người Chăm, chiến khu Lê Hồng Phong. Ngày 24 tháng 10 năm 1995, hàng vạn người bao gồm các nhà khoa học, khách du lịch trong nước và quốc tế đổ về núi Tà Dôn (huyện Hàm Thuận Bắc) và Mũi Né - Phan Thiết để chiêm ngưỡng và nghiên cứu hiện tượng nhật thực toàn phần cũng đồng thời nhận ra nơi này có nhiều cảnh quan kỳ thú và tiềm năng du lịch phong phú. Đây được coi là mốc thời gian mà Bình Thuận bắt đầu có tên trên bản đồ du lịch Việt Nam Tiềm năng đa dạng dồi dào, phong phú và điều kiện địa hình rất thuận lợi, Bình Thuận có thể tổ chức các loại hình du lịch: 1. Du lịch, tham quan di tích lịch sử - văn hóa kết hợp với nghiên cứu kiến trúc cổ: Bình Thuận có nhiều di tích lịch sử - văn hóa kiến trúc cổ gồm các đình như: đình Xuân An (Chợ Lầu, Bắc Bình), đình Xuân Hội (thôn Xuân Hội, Chợ Lầu, Bắc Bình), đình Đức Thắng (phường Đức Thắng, Phan Thiết), đình Đức Nghĩa (phường Đức Nghĩa, Phan Thiết), đình Phú Hội (xã Hàm Hiệp, Hàm Thuận Bắc), đình Tú Luông (phường Đức Long, Phan Thiết), đình Bình An, miếu Bình Thạnh (xã Bình Thạnh, Tuy Phong). Ngoài ra, còn có khu nhà thờ chí sỹ Nguyễn Thông với Ngọa Du Sào (phường Đức Nghĩa, Phan Thiết) và mộ chí của ông ở núi Cố, phường Phú Hài, Phan Thiết. 2. Du lịch, tham quan di tích lịch sử - văn hóa kết hợp với nghiên cứu kiến trúc cổ người Chăm: Tháp Chăm chưa được nghiên cứu nhiều về lịch sử, về những bí mật trong kỹ thuật kiến trúc. Đền tháp Chăm ở Bình Thuận đang đặt ra nhiều yêu cầu đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, như các nhóm đền tháp Pô Sah Inư (Phú Hài, Phan Thiết); phế tích tháp Chăm ở Kim Bình (Hàm Thắng, Hàm Thuận Bắc)… ; các tháp Chăm mới phát hiện ở Hàm Phú, Thuận Hòa (Hàm Thuận Bắc). Về đền thờ thì có: Đền thờ Pô Klong Mơh Nai (xã Lương Sơn, Bắc Bình); bộ sưu tập di sản văn hóa Hoàng tộc Chăm và đền thờ Pô Nit (xã Phan Hiệp, Bắc Bình); đền thờ công chúa Bàng Tranh (xã Long Hải, đảo Phú Quý). Thành lũy thì còn có dấu tích ở xã Sông Lũy, Bắc Bình; được xem là công trình kiến trúc quân sự của người Chăm. 3. Du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với du lịch tín ngưỡng: Các địa phương ở Bình Thuận có nhiều cảnh đẹp, trong đó chùa chiền là nơi thờ Phật kết hợp với phong cảnh thiên nhiên độc đáo tạo nên nhiều thắng cảnh. Bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh ở Bình Thuận là những ngôi chùa như: chùa Cổ Thạch còn gọi là chùa Hang (Bình Thạnh, Tuy Phong); chùa Núi Tà Cú (thị trấn Thuận Nam, Hàm Thuận Nam); chùa Linh Sơn (Vĩnh Hảo, Tuy Phong); chùa Ông (Đức Nghĩa, Phan Thiết); chùa Phật Quang (Hưng Long, Phan Thiết)… Về tín ngưỡng dân gian có: dinh Thầy Thím (xã Tân Tiến, La Gi); vạn Thủy Tú thờ Thần Nam Hải (cá Voi) (Đức Thắng, Phan Thiết); vạn An Thạnh (Tam Thanh, đảo Phú Quý); lăng Ông Nam Hải (Bình Thạnh, Tuy Phong). Ngoài ra còn có phế tích Lầu Ông Hoàng (Phú Hài, Phan Thiết). 4. Du lịch về nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Bình Thuận; Trường Dục Thanh (Phan Thiết); các căn cứ kháng chiến Nam Sơn, Đông Giang (Hàm Thuận Bắc); Bắc Ruộng, Lồ Ô (Tánh Linh); chiến khu Lê Hồng Phong, Bàu Trắng (Bắc Bình). 5. Du lịch biển: Bờ biển Bình Thuận có nhiều cù lao như Cù lao Câu, Hòn Rơm, Hòn Bà và ngoài khơi có Cù lao Thu (huyện đảo Phú Quý) cùng với những đảo nhỏ xung quanh. Trên bờ có suối Tiên (suối Vĩnh Hảo), đá Ông Địa; các bãi tắm tuyệt đẹp như: bãi Rạng, bãi Thương Chánh, bãi Sau – Mũi Né, ngảnh Tam Tân (La Gi)… rất thuận lợi và thích hợp cho việc bơi lặn, thả diều, lướt ván… Là một tỉnh ven biển, khí hậu quanh năm nắng ấm, nhiều bãi biển sạch đẹp, cảnh quan tự nhiên và thơ mộng, giao thông thuận lợi, Bình Thuận đang là một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Bình Thuận đã đầu tư xây dựng các quần thể du lịch - nghỉ mát - thể thao - leo núi - du thuyền - câu cá - đánh gôn - nghỉ dưỡng - chữa bệnh tại khu vực phường Mũi Né (thành phố Phan Thiết), Hàm Tân, Tuy Phong phục vụ du khách. Hiện nay, thành phố Phan Thiết đang có hai sân golf 18 lỗ: Novotel và Sealinks mang tầm vóc quốc tế; các khách sạn lớn, nhiều khu resort cao cấp, hệ thống nhà nghỉ ven biển... sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu ăn nghỉ, vui chơi giải trí của du khách và các nhà đầu tư. Bình Thuận còn có nhiều di tích văn hóa - lịch sử, danh làm thắng cảnh hấp dẫn. 6. Du lịch xanh kết hợp với săn bắn, câu cá: Đây là loại hình du lịch khá lý thú và hấp dẫn, có thể thu hút du khách ngày càng đông đến các điểm sau: Suối nước khoáng Vĩnh Hảo (Tuy Phong), suối Đa Kai (Đức Linh), Thác Bà (Tánh Linh) hoặc các suối chưa khai thác như suối khoáng Văn Lâm, Tân Thuận (Hàm Thuận Nam). Về hồ thì có Biển Lạc-núi Ông (Tánh Linh) với rừng bảo tồn thiên nhiên; Bàu Trắng với hồ Sen dưới chân động cát, hồ Sông Quao (Bắc Bình); thác K’Reo (Đức Linh), đập Đá Dựng (Hàn Tân)… 7. Du lịch tổng hợp vòng tròn: Khi nhà máy thủy điện Đa Mi-Hàm Thuận đi vào hoạt động sẽ có thêm loại hình du lịch tổng hợp trên tuyến vòng tròn. Từ Phan Thiết đi về hướng Nam đến suối nươc nóng Tân Thuận, lên chùa Núi Tà Cú, xuống mũi Điện Khe Gà, lên dinh Thầy Thím, vào ngảnh Tam Tân, đến La Gi với Hòn Bà. Sau đó đi ngược lên Tánh Linh đến Biển Lạc-núi Ông qua Bắc Ruộng, lên Đa Mi-Hàm Thuận, xuống căn cứ kháng chiến Nam Sơn, Đông Giang về hồ Sông Quao, ghé Hàm Phú, Thuận Hòa thăm phế tích tháp cổ Chàmpa… ; về lại Phan Thiết. Đây là một tuyến du lịch vòng tròn lý thú và hấp dẫn. (Còn tiếp...) |
Hungmgmi đã gom các bài về chủ đề Bình Thuận-Phan Thiết vào đây. Htienkenzo hãy post tiếp bài vào topic này cho tập trung hơn, dễ theo dõi để các mem cùng góp ý nhé:emoticon-0150-hands
|
Người Nga tại Mũi Né
Mũi Né thuộc tỉnh Bình Thuận là một địa danh đặc biệt. Ở đây có lúc người Nga tới nghỉ mát vào mùa hè, hay đi nghỉ tránh mùa đông Nga... số lượng còn đông hơn cả người Việt là dân địa phương. Có người Nga đã từng là cư dân của Moskva, Xanh Peterbua song cũng qua đây lập nghiệp và đưa cả gia đình qua sống tại Mũi Né... đúng là "đất lành chim đậu". Người Nga tại Mũi Né (phần 1) Người Nga tại Mũi Né (phần 2) |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:40. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.